
Nhận diện Xuân Diệu qua
truyện ngắn và bút ký
Con đường sáng tạo của Xuân Diệu phát triển trên suốt nửa thế kỷ. Ông là một tác
giả lớn trong văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại với một phong cách riêng đặc sắc.
Trước và sau năm 1954, Xuân Diệu đều có những đóng góp lớn đối với nền văn học
nước nhà. Ông là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới. Sau năm 1945, ông
cũng thuộc số ít người ở hàng đầu của nền thơ ca Cách mạng. Xuân Diệu đã để lại một
khối lượng tác phẩm đồ sộ, có giá trị lâu dài về nhiều thể loại: thơ, văn xuôi, nghiên cứu
phê bình, dịch thuật... Với nhà thơ tài năng này, ở thể loại nào ông cũng đạt được những
thành tựu, in đậm dấu ấn riêng. Trong sáng tác của Xuân Diệu các thể loại hoà quện vào
nhau, khó tách bạch; trong văn xuôi giàu chất thơ, trong thơ giàu chất sinh động của
hiện thực đời sống, trong nghiên cứu phê bình tinh tế tài hoa mà không kém phần sắc
sảo. Ở một người cầm bút như Xuân Diệu, tính cả về số lượng và chất lượng thì ở mỗi
thể loại đều cần thiết phải có những chuyên luận, nghiên cứu một cách công phu và đầy
đủ. Trong bài viết này, chúng tôi muốn đi vào tìm hiểu một mảng sáng tác còn ít được
bàn tới của ông, đó là văn xuôi, hay nói một cách cụ thể hơn, tìm hiểu truyện
ngắn và bút ký.

Là một tác giả đa tài, sự nghiệp sáng tác văn học của Xuân Diệu khá đồ sộ. Bên
cạnh những mảng thơ mà Xuân Diệu đã dành phần lớn bút lực của đời mình, ông còn có
một mảng sáng tác khá quan trọng nữa là văn xuôi. Nhưng nói như nhà phê bình
Nguyễn Đăng Mạnh: “Tôi không muốn tách biệt văn Xuân Diệu với thơ Xuân Diệu.
Văn hay thơ thì vẫn là hình ảnh phập phồng nóng hổi của một trái tim đắm say sự sống,
mùa xuân tuổi trẻ và tình yêu”. Phải chăng đó cũng là ưu thế, là điểm mạnh đối với
những tài năng đa dạng như Xuân Diệu?
I. Xuân Diệu và dòng truyện ngắn trữ tình 1930-1945
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 đã phát triển với một nhịp độ mau lẹ, làm
nên diện mạo văn học phong phú đa dạng, đạt được những thành tựu rực rỡ cả bề rộng
lẫn chiều sâu. Trong đó thể loại truyện ngắn cũng đã khẳng định được vị trí xứng đáng
trong tiến trình chung của văn xuôi hiện đại nước nhà. Truyện ngắn thời kỳ này được
sáng tác bởi những trào lưu, khuynh hướng khác nhau. Dòng truyện ngắn hiện thực với
những cây bút đặc sắc như Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao... với phong
cách độc đáo khó ai có thể bắt chước được. Bên cạnh đó, có một nhóm nhà văn lặng lẽ
hơn, nhưng sáng tác của họ có sự cộng hưởng và có sức lan tỏa sâu xa, đem đến những
rung cảm thẩm mỹ nhẹ nhàng mà tinh tế. Đó là Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dếnh,
Xuân Diệu, Ngọc Giao, Thanh Châu, Đỗ Tốn... chính họ đã tạo nên dòng truyện ngắn
trữ tình đặc sắc, thấm sâu vào lòng người đọc, tạo nên những ấn tượng khó phai mờ.
Không chỉ đến với thơ, Xuân Diệu đã đến với văn xuôi từ rất sớm. Năm 1939, tập
hợp các truyện ngắn đã đăng trên báoNgày nay, Xuân Diệu cho xuất bản tập
truyện Phấn thông vàng. Đến năm 1945 cùng với tập thơ Gửi hương cho gió, Xuân Diệu
cho ra đời tập văn xuôi Trường ca. Đặc điểm nổi bật trong văn xuôi của Xuân Diệu thời
kỳ này là tính trữ tình lãng mạn. Những trang văn thật đẹp với những câu văn, những
hình ảnh được trau chuốt, gọt giũa kỹ càng. Câu văn giàu nhạc điệu, không sa vào biền
ngẫu song lại luôn luôn tạo được âm hưởng riêng. Chất thơ thấm đẫm trên những trang
văn xuôi của Xuân Diệu. Có thể coi tập Trường ca như một kiểu thơ văn xuôi. Trong
văn xuôi trước Cách mạng Xuân Diệu đã sớm hình thành một giọng điệu riêng, tinh tế,
tự nhiên, mượt mà, pha chút buồn duyên dáng. Văn xuôi trong Phấn thông
vàng và Trường ca dường như là sự nối dài, mở rộng những ý tưởng mà ông đã từng gửi

gắm, từng nói đến trong Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Có thể dễ dàng tìm thấy trong
văn xuôi những hình ảnh, những tư tưởng nghệ thuật mà Xuân Diệu đã nhiều lần nói tới
trong thơ. Ở văn xuôi, với những đặc trưng riêng của thể loại, Xuân Diệu đã giãi bày
được đầy đủ, rõ ràng và đậm nét hơn những quan niệm về tình yêu, con người và cuộc
sống. Bao trùm lên những trang văn của Xuân Diệu là niềm khát khao gắn bó với cuộc
sống, là một tình yêu đắm say không giới hạn. Những truyện ngắn như Phấn thông
vàng, Chú lái khờ, Đoá hồng nhung, Người lệ ngọc...đã bộc lộ khá đầy đủ những ý
tưởng đó. Dưới con mắt của một người thơ đa tình, thiên nhiên bốn mùa dường như
cũng mang một ý nghĩa khác: “Thu không phải là mùa thu sầu. Ấy chính là mùa thu yêu,
mùa yêu nhau bằng linh hồn, mùa những linh hồn yêu mến nhau... Trời muốn lạnh nên
người ta cần nhau hơn. Và người nào chỉ có một thân, thì cần một người khác. Xuân,
người ta vì ấm mà cần tình. Thu, người ta vì lạnh sắp đến mà rất cần đôi. Cho nên không
gian đầy những lời nhớ nhung, những linh hồn cô đơn thả ra những tiếng thở dài để gọi
nhau...” (Thu). Truyện ngắn Thu của ông có lẽ gần với đoản văn hoặc tuỳ bút hơn. Đó là
một giọng văn đầy lãng mạn, man mác chất thơ với những cảm nhận bay bổng, chơi vơi,
mơ màng. Không khí và hương vị của tình yêu bảng lảng khắp trong đất trời, trong cảnh
sắc thiên nhiên và cỏ cây hoa lá. Chúng ta gặp lại ở đây một con người có trái tim yêu da
diết, yêu đến hết và yêu đến chết. Như chính Xuân Diệu đã từng thú nhận: “Tôi khờ
khạo lắm, ngu ngơ quá - Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì... Phấn thông vàng là chuyện
về một chàng hoạ sỹ có tâm hồn lãng mạn vµ nhạy cảm. Trên bước đường lang thang
của mình, chàng hoạ sỹ bất chợt gặp một cảnh rừng thông với sắc vàng “không rực rỡ
nhưng nguy nga” đẹp đến mê hồn. Chàng hoạ sỹ là người đã từng yêu, mà yêu không
phải ít, tới ba lần, nhưng rồi kết cục lần nào cũng gặp đau khổ. Là hoạ sỹ, nhng trong
hồn chàng lại trú ngụ sẵn một hồn thơ nữa. Vì thế, cái tâm hồn nhạy cảm, yếu đuối ấy đã
sầu đau biết bao khi gặp thất bại trên tình trường. Và buổi chiều hôm ấy, may mắn thay,
chàng đã gặp được một “rừng thông đang yêu”. Chàng đã mở lòng mình để nhận lấy
“bài học ngụ trong bài thơ của phấn thông vàng”. Bởi “tình yêu có bao giờ mất”. Xuân
Diệu đã tả rất đẹp cảnh này: “Không gian đã thành một điệu vàng mênh mông: nắng
vàng nhuộm vàng những cây, và phấn thông vàng lẫn vàng trong nắng”. Bút pháp trữ
tình lãng mạn của ông ®· ®îc tËp trung cao ®é ë truyện ngắn này.

Khao khát tình yêu cuộc sống, trải lòng ra đến tận cùng với tình yêu. Đó là âm
hưởng chính trong truyện ngắn và tuỳ bút của Xuân Diệu trước Cách mạng. Nhưng bên
cạnh âm hưởng chính đó còn một mảng đề tài nữa mà Xuân Diệu hướng tới. Đó là số
phận của những con người nhỏ bé, cam chịu và nghèo khổ. Chúng tôi nghĩ rằng ở mảng
đề tài này văn xuôi Xuân Diệu có nhiều đóng góp thiết thực hơn. Bởi vì tình yêu, những
trạng thái của tình yêu đã được Xuân Diệu nói đến nhiều trong thơ một cách tài hoa và
đạt hiệu quả hơn. Xu hướng văn chương lãng mạn nhưng không tách rời hiện thực đã tạo
cho văn xuôi của ông một bộ mặt đầy đủ và hoàn chỉnh hơn.
Kiếp người lầm than đang lay lắt trong cảnh đói nghèo tủi nhục được Xuân Diệu
thể hiện khá rõ trong truyện Thương vay.Đây là loại truyện không có cốt truyện, truyện
giống như một tuỳ bút tâm tình, hay gọi theo cách của tác giả là “truyện ý tưởng”. Hình
ảnh bà lão nhà quê nghèo khổ nhập nhoà trong bóng tối chỉ là một cái cớ để tác giả có
dịp bộc lộ những suy nghĩ về tình cảm của mình: “Một người bằng thịt bằng xương - thịt
khô và xương gầy - với một lịch sử chắc chắn khổ sở hết chín phần mười, với chút sống
còn sót giữa lòng, như hòn lửa nhỏ còn lấp dưới tro... Bao giờ lòng thương lại chẳng có
duyên cớ ở trên cái đời cùng cực, đau đớn, khốn khổ, rách rưới, cô đơn này...”.
Trong Toả nhị kiều tác giả lại hướng ngòi bút của mình vào một cảnh ngộ khác. Đó là số
phận mờ nhạt của hai chị em sống ở đất Hà Thành. Họ sống đấy mà như không hề có
mặt trên đời. Bao bọc chung quanh họ là một không khí tù đọng, tẻ nhạt, “Không ánh
nắng, chẳng hương người”. Cả cuộc đời của hai cô gái chỉ là những buổi chiều dài vô
vọng nối tiếp nhau, lẫn trong mù sương. Một buổi chiều triền miên của sự vật và của
linh hồn. Tác giả như cảm nghe được tất cả sự mờ nhạt và vô nghĩa của cuộc đời hai cô
gái. Giáo sư Nguyễn Lương Ngọc trong hồi ký Nhớ bạnđã kể lại rằng Toả nhị kiều được
viết từ một tình cảnh có thật mà ông là người trong cuộc. Hồi đó Nguyễn Lương Ngọc ở
trọ trên gian gác trong căn nhà của gia đình một viên chức. Ông đã sống ở đó một thời
gian khá dài nhưng không hề chú ý đến hoàn cảnh của hai cô gái con chủ nhà. Nhưng
chỉ một đôi lần đến thăm Nguyễn Lương Ngọc, Xuân Diệu đã để ý đến cuộc sống của
hai cô gái. Cuộc đời buồn tẻ của hai chị em làm Xuân Diệu xúc động, và đã trở thành
nguồn cảm hứng để ông viết nên Toả nhị kiều. Nhà thơ tù nhân của chữ Tình (Chu Văn
Sơn), có trái tim cháy bỏng, luôn thèm khát sự sống tới cuồng nhiệt đó tỏ ra rất ghê sợ

lối sống nhàm tẻ, tù đọng trong “cái Ao Đời bằng phẳng” giết chết con người trong lúc
sống. Toả nhị kiều là hình ảnh giàu sức gợi về những cuộc đời nhạt nhẽo, vô vị. Ở đây,
người viết tách ra khỏi nhân vật, xem nhân vật là đối tượng quan sát, còn tâm tình, cảm
nghĩ của người viết là khúc xạ, là kết quả những âm vang toát ra từ hai cuộc đời lỡ nhịp,
tẻ nhạt. Xuân Diệu viết văn như làm thơ. Cốt truyện chỉ như cái cớ khơi gợi và mở ra
những hướng liên hệ, suy tưởng. Truyện ngắn của ông luôn có một dòng cảm nghĩ trôi
chảy như con suối nhỏ róc rách đem đến sự trong trẻo tươi mát trong tác phẩm. Điều
ông quan tâm là sự tự bộc lộ và giãi bầy tâm trạng. Những trạng thái tâm hồn thay thế
cho các sự kiện, biến cố li kỳ của truyện tự sự thông thường. Điều này đã làm biến đổi
chủ thể sáng tạo để biến người viết văn xuôi trở thành một thi sĩ trong khả năng cảm
nhận và tự thể hiện mình. Những so sánh tạt ngang với những liên tưởng bất ngờ, đa
chiều ở những đoạn trữ tình ngoại đề, luôn được mở rộng trong truyện ngắn Xuân Diệu,
đã tạo nên sức hấp dẫn: “Tôi thương hai cô như hai con vật ngẩn ngơ trong rừng lạnh
khi chiều giăng lưới qua muôn gốc cây”, “nhiều lần theo một liên tưởng nhanh chóng,
tôi nghĩ đến những cụ già còn đôi chút sức lực ngày ngày quanh quất giữa bàn ghế trong
nhà”, “tôi lại nhớ những khi xế trưa, khi nắng ngó vào bếp nhà tôi. Nắng vàng phai lặng,
chán ngán làm sao!”. Lúc ấy mọi người đều cảm thấy mơ hồ nỗi nhạt nhẽo của ngày này
tiếp ngày nọ” (Toả nhị kiều). Một số truyện ngắn như Đứa ăn mày, Chó mèo hoang, Cái
hoả lò…Cũng thể hiện sự hoà cảm xót xa với những kiếp người lầm than đang vất vả
trong cảnh sống tối tăm, bị đời hắt hủi và khinh rẻ. Cái hoả lò gần như là một tự truyện
về tuổi nhỏ của Xuân Diệu. Cảnh nghèo túng, thua thiệt và những ngang trái trong kiếp
lẽ mọn của người mẹ đã ảnh hưởng khá nhiều đến cuộc đời Xuân Diệu. Nó khiến cho
ông sớm già dặn, sâu sắc và dễ đồng cảm với những phận người nhỏ bé khi bước vào
đời.
Là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới, Xuân Diệu cũng đồng thời là
một cây bút viết truyện ngắn có những thành công đáng ghi nhận. Hai tập Phấn thông
vàng và Trường ca đã giúp cho văn đàn Việt Nam những truyện ngắn mang hương sắc
riêng, những truyện không có chuyện mà chan chứa chất thơ. Cùng với các nhà văn
thuộc dòng truyện ngắn lãng mạn, Xuân Diệu đã góp phần kiến tạo nên kiểu loại tự sự -
trữ tình trong văn xuôi hiện đại Việt Nam.

