Paul Auster và
"Nhạc đời may rủi"
Paul Auster được n vinh là một trong những nn đương đại Hoa Kì kiệt
xut nhà n hậu hiện đại bậc thầy. Tác phẩm của ông thể hiện thành công cuc
sng đa diện của kỉ nguyên hu hiện đại bằng lối trần thuật mang đậm tính triết học,
chuyn tải i nhìn i hước, có lúc mỉa mai đầy chua t về cuộc đời con người
trong thi kì các gtrvật chất lên ngôi, và tinh thn của nhân loại cùng qun vì
nhng tính toán nhỏ nhoi, những tín điều, suy nghĩ thảm hại của những kẻ lắm quyền,
lm tiền và nhng nỗ lực cay đắng trong tuyệt vọng của những kẻ thấp chọng
ng tìm vn may trong thế giới của những gã ngiàu. Vi Auster, cuộc đời là
một th nghiệm sống, ai cũng thể tìm kiếm vận may của mình. Nhưng vận may là
thluôn ci km ngưi nghèo thường xuyên n đng về phía người giàu.
Nguyên nhân một phần đến tbản ng tnhiên phn khác là từ sưu việt của vị
trí hi. Ni nghèo, ni lệ thì dường n có nỗ lực đến mấy cũng chỉ để
quay li với xuất phát điểm ban đầu. Một cái nhìn mang tính bi quan nhưng kng phi
không có trong mt thời kì địa vị xã hi của cá nhân dường như đã được khẳng
định trật tự.
1. Cuộc đời
Paul Auster sinh ngày 3-2-1949 ti Newark, New Jersey. Cha ông là một chủ đất.
Cùng vi các anh em trong gia đình, cha Auster shữu nhiều toà nhà thành
ph Jersey. Gia đình Auster thuộc hàng trung lưu, nhưng cuộc hôn nhân của cha mẹ ông
không được suôn sẻ. Auster lớn lên ở vùng ngoại ô Newark, thuộc South Orange. Ông
say mê đọc sách từ tấm bé và khao khát sáng tác để trở thành nhà văn.
Thích đi du lịch, Auster sang châu Âu. Ông đi thăm Italy, Tây Ban Nha, Pháp và
đến thăm Dublin, quê hương của James Joyce. Trở về Hoa Kì, Auster nhập học Đại
học Columbia. Nhng năm tháng trong trường đại học đã hình thành nên thế giới quan
và phong cách sống chủ yếu của Auster. Ông làm nhiu nghề tự do để kiếm sống và viết
các bài nghiên cứu cho các tạp chí. Tháng 6-1969, Auster tốt nghiệp cử nhân ngành
tiếng Anh văn học so sánh. Một năm sau, ông hoàn thành chương trình đào tạo thạc
cùng chuyên ngành.
Ông làm việc tại cục điều tra dân số. Thời gian này, Auster bắt đầu viết các cuốn
tiu thuyết Tại xứ sở của những cái cuối cùng (In the Country of Last Things) Cung
điện mặt trăng (Moon Palace). Mãi nhiu năm sau ông mới hoàn thành.
m 1985, Auster thực sự được độc giả cý khi cho in tác phẩm Thành ph
thuỷ tinh (City of Glass) một cuốn tiểu thuyết giả trinh thám mang đậm phong cách hậu
hiện đại. Tiếp đó là Những bóng ma (Ghost, 1986) và Căn phòng khoá (The locked
Room, 1986). Nhng tác phẩm này được tập hợp vào năm 1987 tnh Bộ ba New
York (The New York Trilogy). Những tác phẩm nổi tiếng tiếp theo của Auster là Nhạc
đời may rủi (The Music of Chance, 1990) Người trong bóng tối(Man in the Dark,
2008).
Ngoài sáng tác tiu thuyết, Auster còn làm thơ, viết kịch bản phim... Nhưng lĩnh
vực tiểu thuyết của ông thu được nhiều thành công hơn cả. Đến nay, Auster xuất bản 13
tiu thuyết, nhiều hồi lí, tự truyện và thơ. Ông được trao tặng nhiều giải thưởng danh
giá, trong đó giải Văn chương Prince Asturias 2006 của Tây Ban Nha. m 2007,
Đại học Liège của Pháp tặng ông danh hiệu tiến sĩ danh dự.
2. Tư tưởng
Về tư tưởng, Auster chịu ảnh hưởng mạnh từ thuyết tiên nghim của các nhà văn,
nhà triết học Hoa Kì thế kỉ XIX. Các nhà tiên nghim chủ chốt Nathaniel Hawthorne,
Ralph Waldo Emerson, Henry David Thoreau,... cho rằng tồn tại tinh thần có vai trò
quan trng hơn tồn tại vật chất. Họ khẳng định những giá tr tiên đn quan trọng hơn
kinh nghim.
Bên cạnh đó tư tưởng của Lacan cũng tác động nhiều đến Auster. Là người kế
thừa những thành tựu phân tâm học từ Freud, Lacan đã khai thác sâu hơn về phía những
tác động và hiệu quả của ngôn từ. Ông cho rằng chúng ta đi vào thế giới thông qua cánh
cửa ngôn từ. Đấy là con đường duy nhất để nhận thức thế giới. Con người tuy quan sát,
nhận thức thế gii bằng các giác quan, nhưng cái thế giới chúng ta quan sát được y lại
được kiến tạo bằng ngôn từ. Cũng thế, thế gii vô thức của chúng ta cũng được cấu trúc
như một ngôn ngữ. Điều đó mang lại cho chúng ta một khả năng nhận thức phi thường.
Chúng ta chỉ có thể nhận thức được thế giới qua ngôn ngữ, nhưng chúng ta cũng cảm
nhận được sự thiếu hụt mà ngôn ngữ không thể nào diễn đạt hết. Thế giới tuy được xây
dựng trên ngôn ngữ, nhưng sẽ luôn có những “mảng” nào đó không được bao quát. Đấy
là nhng điều không thể din tả được bằng lời và không được nắm bắt bằng tư duy mà
chỉ được cảm giác. Paul Auster là bậc thầy trong việc diễn tả những cái chỉ được cảm
nhận bằng cảm giác đó. Điều này khiến tác phẩm của ông lung linh đa sắc màu và khó
nắm bắt ở một nét nghĩa.
Các nhà tiên nghim cho rằng trật tự biểu trưng của nền văn minh chia tách chúng
ta khỏi trật tự tự nhiên của thế giới. Trật tự của nền văn minh là trật tự có chủ định,
mang li lợi ích cho một cá nhân hoặc một cộng đồng nhỏ nào đó, nhưng đng thời
cũng phá vỡ đi những căn nguyên tốt đẹp từ nguyên thuỷ tự nhiên của con người. Vậy
nên, họ kêu gọi con người hướng đến những trật tự tự nhiên. Nhân vật của Auster trong
nỗ lực hành động của mình đều muốn tự mình thiết lập nên những tiêu c tn tại, những
giá trị riêng của bản thân theo cái cách thấm đẫm tinh thần tự nhiên nhất. Bằng cách đó,
họ hi vọng sẽ thiết lập được trật tự tự nhiên ngay trong đời sống văn minh, i đã bị trật
txã hội thống trị bấy lâu và làm sai lạc đi nhiều giá trị tự nhiên của con người.
Từ tư tưởng này, Auster đã thiết lập được một hệ đề tài ca riêng ông. Đó là s
trùng hợp ngẫu nhiên (coincidence),cảm giác về thảm hoạ sắp xảy ra (a sense of
imminent disaster), s đánh mất khả năng nhận thức (loss of the ability to
understand), đánh mất ngôn ngữ (loss of language), khai thác cuộc sống đời
thường (depiction of daily and ordinary life),tính liên văn bản (intertextuality)
metafiction – một thể loại văn xuôi hư cấu hướng việc viết lách vào nội dung viết lách,
khiến ngưi đọc bao giờ cũng ý thức về việc mình đang theo dõi cách thc một cuốn tiểu
thuyết được hình thành như thế nào…
m 1970, Auster tốt nghiệp thạc sĩ ngành văn học so sánh tại Đại học Columbia.
Dưới cái nhìn so sánh mà thực chất là luôn đặt các sự vật hiện tượng theo lối song hành
giữa các nền văn hoá với nhau, tác phẩm của Auster đề xuất được cái nhìn đa trị về cuộc
đời. Và cũng nhờ thế mà nhng chi tiết, sự kiện được đưa vào sách của ông luôn có sức
ám nh lâu dài, luôn đòi hi các cách cắt nghĩa mới từ phía người đọc. Thông thạo nhiều
thứ tiếng, đặc biệt là tiếng Pháp. Auster có điều kiện xâm nhập vào nền văn chương
Pháp và học hỏi nhiều từ các nhà n Pháp. Cũng giống như nhiều nhà văn hậu hiện đại
khác, Auster có cách din đạt rất ấn tượng theo “lối nói ngược” với tư duy và cách diễn
đạt thông thường, bằng cách bình thường hoá những cái đượcn thành tượng đài và
thánh hoá nhng điều nhỏ nhặt, bình thường trong cuộc sống. Cho rằng, văn chương hư
cấu là sản phẩm “cực kì nhảm nhí”, nhưng Auster lại khẳng định giá trị của sáng tạo
nghệ thuật và sthoả mãn văn chương mang lại cho độc giả thì không có bt kì hình
thức giải trí nào có thể sánh nổi.