
83
Số 9/2024
CHÍNH SÁCH - CUỘC SỐNG
Phát triển nuôi trồng thủy sản gắn với
quản lý bền vững rừng ngập mặn
tại đồng bằng sông Cửu Long
ThS. ĐINH XUÂN LẬP
Trung tâm Hợp tác Quốc tế Nuôi trồng và Khai thác thủy sản bền vững
TS. LÊ THỊ PHƯƠNG DUNG, ThS. VŨ QUỲNH ANH, ThS. VŨ THỊ TUYẾT NHUNG
Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật và Thủy sản
Việt Nam có rừng ngập mặn (RNM) phát triển
dọc theo 3.260 km bờ biển, từ Móng Cái, tỉnh
Quảng Ninh đến Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang
(Hong & San, 1993; Sam et al., 2005). RNM đóng vai
trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ hệ
sinh thái (HST) như bảo vệ bờ biển khỏi bão, lũ lụt
và xói mòn, là môi trường sống cho các loài thủy sinh
và trên cạn và hấp thụ các-bon… (Rönnbäck, 1999;
Hawkins et al., 2010; Tuân & Kuenzer, 2012). Hầu
hết, người dân địa phương ở các tỉnh ven biển Việt
Nam đều dựa vào các dịch vụ HST RNM (Hawkins
et al., 2010; Hải et al., 2020) để sinh sống. Tuy nhiên,
diện tích RNM hiện nay ở Việt Nam nói chung và
vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng
đang có nguy cơ bị đe dọa nghiêm trọng do thu hẹp
về diện tích vì tình trạng khai thác chặt phá rừng bừa
bãi. Ngoài ra, tác động về biến đổi khí hậu (BĐKH)
và diễn biến bất thường của thời tiết như bão, gió,
sóng biển to cũng là nguyên nhân làm thu hẹp diện
tích RNM. Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm môi
trường cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến RNM.
Bài viết phân tích thực trạng, những khó khăn, thách
thức trong quản lý RNM ở vùng ĐBSCL; khung
chính sách quản lý RNM ở Việt Nam, từ đó đẩy
mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản gắn với quản lý
bền vững RNM ở vùng ĐBSCL.
1. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN,
THÁCH THỨC TRONG QUẢN LÝ RỪNG NGẬP
MẶN Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
RNM của Việt Nam có diện tích 408.500 ha vào
năm 1943, nhưng 40% trong số đó đã bị phá hủy
trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (Hong &
San, 1993) từ năm 1955 - 1975. Từ năm 1977 - 1995,
23% diện tích RNM chuyển đổi sang trang trại nuôi
tôm (De Graaf & Xuân 1998). Trong giai đoạn 1995 -
2010, diện tích RNM giảm 24.966 ha nhưng lại tăng
11.705 ha trong giai đoạn 2010 - 2019. Về mặt không
gian, diện tích RNM giảm ở khu vực phía Nam
nhưng lại tăng ở khu vực phía Bắc và miền Trung
(Pham Hồng Tĩnh at all 2019). Theo thống kê mới
nhất năm 2023, tổng diện tích RNM ở Việt Nam là
200.000 ha (Bộ NN&PTNT, 2023), trong đó vùng
ĐBSCL có diện tích RNM lớn nhất, với 73.372,04 ha,
chiếm 50,5% diện tích RNM cả nước.
Các thách thức chủ yếu đối với quản lý RNM là
do RNM tiếp tục bị chuyển đổi sang mục đích phát
triển nông nghiệp và thủy sản và bị suy thoái do khai
thác quá mức, gây ô nhiễm môi trường (Đỗ Đình
Sam et al., 2005. Diện tích mở rộng nuôi trồng thủy
sản và nông nghiệp là nguyên nhân chính chiếm
lần lượt 43,4% và 24,8% tổng diện tích RNM bị mất
(Pham Hồng Tính at all, 2019).
Ngoài ra, BĐKH tạo ra một số yếu tố tác động
mới vào quá trình suy giảm RNM. Sự thay đổi về khí
hậu làm tăng tốc độ mất RNM, trong khi cần những
vành đai RNM ven biển khỏe mạnh để chống lại sự
gia tăng về tần xuất và quy mô của những cơn gió,
bão. Bên cạnh đó, các nguồn tài chính nhằm bảo tồn,
phục hồi RNM rất hạn chế. Nguyên nhân là do việc
đánh giá chưa đầy đủ các giá trị HST của RNM, thực
tế là các địa phượng hiện đang phải sử dụng nguồn
tài chính hạn chế để thực hiện mục tiêu bảo tồn
RNM (Macintosh & Ashton, 2002).
Ngoài ra, theo thống kê của Bộ NN&PTNT, việc
mất rừng và suy thoái rừng diễn ra nhiều nhất ở vùng
Bắc Trung bộ, Đông Bắc, Tây Nguyên và Tây Bắc Việt
Nam (Khúc et al., 2018; Chính phủ Việt Nam, 2016).
Tuy nhiên cho đến nay, nguồn thu từ chi trả dịch
vụ môi trường rừng (DVMTR) chủ yếu tập trung
và phân bổ ở Tây Bắc và Tây Nguyên (tương ứng là
37% và 35%) do hai vùng này có tổng diện tích đất
lâm nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất (80% và 60%), trong
khi nguồn thu (phân phối) ở Bắc Trung bộ và Đông
Bắc còn hạn chế (tương ứng là 6% và 11%). Điều này
cho thấy, các khu vực có RNM gắn với nuôi trồng
thủy sản chưa có nhiều chương trình chi trả DVMTR
được thực hiện do việc chi trả DVMT RNM còn gặp
nhiều khó khăn bởi các lý do: (i) Nhiều nơi, chủ rừng
trực tiếp kinh doanh với mô hình kinh doanh du lịch
sinh thái nhỏ lẻ, tự phát, doanh thu không đáng kể
hoặc không có cơ sở xác định doanh thu; (ii) Trong