83
Số 9/2024
CHÍNH SÁCH - CUỘC SỐNG
Phát triển nuôi trồng thủy sản gắn với
quản lý bền vững rừng ngập mặn
tại đồng bằng sông Cửu Long
ThS. ĐINH XUÂN LẬP
Trung tâm Hợp tác Quốc tế Nuôi trồng và Khai thác thủy sản bền vững
TS. LÊ THỊ PHƯƠNG DUNG, ThS. QUỲNH ANH, ThS. VŨ THỊ TUYẾT NHUNG
Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật và Thủy sản
Việt Nam có rừng ngập mặn (RNM) phát triển
dọc theo 3.260 km bờ biển, từ Móng Cái, tỉnh
Quảng Ninh đến Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang
(Hong & San, 1993; Sam et al., 2005). RNM đóng vai
trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ hệ
sinh thái (HST) như bảo vệ bờ biển khỏi bão, lũ lụt
và xói mòn, là môi trường sống cho các loài thủy sinh
và trên cạn và hấp thụ các-bon… (Rönnbäck, 1999;
Hawkins et al., 2010; Tuân & Kuenzer, 2012). Hầu
hết, người dân địa phương ở các tỉnh ven biển Việt
Nam đều dựa vào các dịch vụ HST RNM (Hawkins
et al., 2010; Hải et al., 2020) để sinh sống. Tuy nhiên,
diện tích RNM hiện nay ở Việt Nam nói chung và
vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng
đang có nguy cơ bị đe dọa nghiêm trọng do thu hẹp
về diện tích vì tình trạng khai thác chặt phá rừng bừa
bãi. Ngoài ra, tác động về biến đổi khí hậu (BĐKH)
và diễn biến bất thường của thời tiết như bão, gió,
sóng biển to cũng là nguyên nhân làm thu hẹp diện
tích RNM. Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm môi
trường cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến RNM.
Bài viết phân tích thực trạng, những khó khăn, thách
thức trong quản lý RNM ở vùng ĐBSCL; khung
chính sách quản lý RNM ở Việt Nam, từ đó đẩy
mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản gắn với quản lý
bền vững RNM ở vùng ĐBSCL.
1. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN,
THÁCH THỨC TRONG QUẢN LÝ RỪNG NGẬP
MẶN Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
RNM của Việt Nam có diện tích 408.500 ha vào
năm 1943, nhưng 40% trong số đó đã bị phá hủy
trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (Hong &
San, 1993) từ năm 1955 - 1975. Từ năm 1977 - 1995,
23% diện tích RNM chuyển đổi sang trang trại nuôi
tôm (De Graaf & Xuân 1998). Trong giai đoạn 1995 -
2010, diện tích RNM giảm 24.966 ha nhưng lại tăng
11.705 ha trong giai đoạn 2010 - 2019. Về mặt không
gian, diện tích RNM giảm ở khu vực phía Nam
nhưng lại tăng ở khu vực phía Bắc và miền Trung
(Pham Hồng Tĩnh at all 2019). Theo thống kê mới
nhất năm 2023, tổng diện tích RNM ở Việt Nam là
200.000 ha (Bộ NN&PTNT, 2023), trong đó vùng
ĐBSCL có diện tích RNM lớn nhất, với 73.372,04 ha,
chiếm 50,5% diện tích RNM cả nước.
Các thách thức chủ yếu đối với quản lý RNM là
do RNM tiếp tục bị chuyển đổi sang mục đích phát
triển nông nghiệp và thủy sản và bị suy thoái do khai
thác quá mức, gây ô nhiễm môi trường (Đỗ Đình
Sam et al., 2005. Diện tích mở rộng nuôi trồng thủy
sản và nông nghiệp là nguyên nhân chính chiếm
lần lượt 43,4% và 24,8% tổng diện tích RNM bị mất
(Pham Hồng Tính at all, 2019).
Ngoài ra, BĐKH tạo ra một số yếu tố tác động
mới vào quá trình suy giảm RNM. Sự thay đổi về khí
hậu làm tăng tốc độ mất RNM, trong khi cần những
vành đai RNM ven biển khỏe mạnh để chống lại sự
gia tăng về tần xuất và quy mô của những cơn gió,
bão. Bên cạnh đó, các nguồn tài chính nhằm bảo tồn,
phục hồi RNM rất hạn chế. Nguyên nhân là do việc
đánh giá chưa đầy đủ các giá trị HST của RNM, thực
tế là các địa phượng hiện đang phải sử dụng nguồn
tài chính hạn chế để thực hiện mục tiêu bảo tồn
RNM (Macintosh & Ashton, 2002).
Ngoài ra, theo thống kê của Bộ NN&PTNT, việc
mất rừng và suy thoái rừng diễn ra nhiều nhất ở vùng
Bắc Trung bộ, Đông Bắc, Tây Nguyên và Tây Bắc Việt
Nam (Khúc et al., 2018; Chính phủ Việt Nam, 2016).
Tuy nhiên cho đến nay, nguồn thu từ chi trả dịch
vụ môi trường rừng (DVMTR) chủ yếu tập trung
và phân bổ ở Tây Bắc và Tây Nguyên (tương ứng
37% và 35%) do hai vùng này có tổng diện tích đất
lâm nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất (80% và 60%), trong
khi nguồn thu (phân phối) ở Bắc Trung bộ và Đông
Bắc còn hạn chế (tương ứng là 6% và 11%). Điều này
cho thấy, các khu vực có RNM gắn với nuôi trồng
thủy sản chưa có nhiều chương trình chi trả DVMTR
được thực hiện do việc chi trả DVMT RNM còn gặp
nhiều khó khăn bởi các lý do: (i) Nhiều nơi, chủ rừng
trực tiếp kinh doanh với mô hình kinh doanh du lịch
sinh thái nhỏ lẻ, tự phát, doanh thu không đáng kể
hoặc không có cơ sở xác định doanh thu; (ii) Trong
84 Số 9/2024
CHÍNH SÁCH - CUỘC SỐNG
mô hình nuôi trồng thủy sản dựa vào RNM thông
thường, đa số chủ rừng trực tiếp nuôi trồng thủy sản
(NTTS) trong diện tích rừng được giao quản lý, sử
dụng; số lượng người hưởng lợi lớn trong khi hoạt
động NTTS được thực hiện ở quy mô nhỏ lẻ, doanh
thu thấp, nhiều rủi ro. Riêng mô hình nuôi tôm sinh
thái, quy định chi trả trực tiếp kng có lợi cho ch
rừng kiêm người nuôi tôm (do không thể tham gia
đàm phán về mức chi trả và hình thức chi trả), chi
phí giao dịch cao (do số lượng chủ rừng lớn); (iii)
Việt Nam cũng chưa hoàn thiện khung pháp lý cho
việc thiết lập thị trường các-bon trong lĩnh vực lâm
nghiệp nói chung và cho RNM nói riêng; thông tin,
dữ liệu về RNM và trữ lượng các-bon của các loại
RNM chưa đồng bộ, thống nhất trong khi yêu cầu
kỹ thuật trong đo lường, kiểm định phức tạp. Đây là
những vấn đề cần được đưa ra trong quá trình sửa
đổi, bổ sung Nghị định số 156 về hướng dẫn Luật
Lâm nghiệp, đặc biệt về đối tượng phải chi trả cho
dịch vụ hấp thụ và lưu trữ các-bon nhằm phát huy tối
đa nguồn lực mới này trong thời gian tới.
2. KHUNG CHÍNHCH QUẢN LÝ
RỪNG NGẬP MẶN Ở VIỆT NAM
Những năm gần đây, nhiều chính sách quan
trọng thúc đẩy việc quản lý và phát triển RNM đã
được xây dựng và ban hành. Bên cạnh đó, nhiều cơ
quan, tổ chức từ cấp Trung ương đến cấp tỉnh tham
gia quản lý RNM và các vấn đề liên quan, dẫn đến
chồng chéo về nhiệm vụ và trách nhiệm. Cụ thể, B
NN&PTNT được giao quản lý rừng phòng hộ và đặc
dụng, bao gồm RNM, quản lý nước mặt vì liên quan
đến thủy lợi, ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản. B
TN&MT quản lý đa dạng sinh học trên đất có rừng,
bao gồm rừng trên cạn và RNM. Ngoài ra, mỗi cơ
quan Trung ương có một cơ quan chuyên ngành ở
cấp tỉnh (Sở NN&PTNT và Sở TN&MT). Vì vậy,
việc quy định trách nhiệm quản lý RNM còn nhiều
khó khăn và chưa hiệu quả. Một số chính sách và
chương trình chủ yếu về quản lý và phục hồi RNM ở
Việt Nam như: Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14;
Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn
2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số
523/QD-TTg, 2021); Chương trình quốc gia về giảm
phát thải khí nhà kính do mất rừng và suy thoái rừng,
bảo tồn, nâng cao trữ lượng các-bon rừng và quản lý
bền vững tài nguyên rừng đến năm 2030 (Quyết định
số 419/QĐ-TTg năm 2017); Chương trình mục tiêu
phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020
(Quyết định số 886/QD-TTg ngày 16/6/2017); Đóng
góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam;
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội (KT -
XH) vùng biển và ven biển Việt Nam vùng vịnh Thái
Lan đến năm 2020 (Quyết định số 18/2009/QD-TTg
ngày 3/2/2009); Quy hoạch tổng thể phát triển KT -
XH vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL đến năm 2020,
tầm nhìn đến năm 2030 và 2050 (Quyết định số 245/
QĐ-TTg ngày 12/02/2014)…
Nhờ các chính sách và chương trình trên, nhiều
hoạt động phát triển thủy sản tại các khu vực RNM
đã được triển khai, với các hệ sinh thái RNM đa dạng,
cung cấp nhiều chức năng và tồn tại bền vững. Trong
đó, công tác quản lý, bảo vệ RNM được tăng cường.
Ở Việt Nam, tại Điều 4, Luật Lâm nghiệp số 16/2017/
QH14 quy định cụ thể về chính sách, phân loại quản
lý rừng. Nhà nước bảo đảm nguồn lực cho hoạt động
quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng
phòng hộ. Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, hiện
diện tích cả hai loại rừng là trên 13 triệu ha và được
chia thành 3 nhóm: (i) Rừng đặc dụng, chủ yếu là các
khu bảo tồn, chiếm khoảng 15% tổng diện tích rừng
và mục tiêu quản lý cho nhóm này là bảo tồn các hệ
sinh thái và sự đa dạng của các loài động và thực vật;
(ii) Rừng phòng hộ, chiếm khoảng 36% tổng diện
tích rừng, được quản lý nhằm mục tiêu phòng hộ các
lưu vực sông, bảo vệ đất và môi trường; hơn 70 %
RNM ở Việt Nam là rừng phòng hộ; (iii) Rừng sản
xuất, chiếm 47% tổng diện tích rừng, là nguồn cung
cấp gỗ và các loại lâm sản.
3. PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
GẮN VỚI QUẢN LÝ BỀN VỮNG RỪNG NGẬP MẶN
Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Với diện tích RNM lớn nhất cả nước, tập trung
ở các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Tng,
Trà Vinh, Bến Tre, Long An. Hệ sinh thái dưới tán
RNM rất phong phú và đa dạng như cua, cá, các loài
nhuyễn thể…, đây là điều kiện phù hợp để nuôi trồng
thủy sản. Theo đó, mô hình kinh tế dưới tán rừng
như tôm - rừng, tôm - rừng kết hợp thả nuôi cua, sò
huyết… đang rất phát triển. Người dân vừa có thu
nhập ổn định, vừa tham gia cùng với địa phương bảo
vệ diện tích RNM. Hiện toàn vùng ĐBSCL có hơn
90% trang trại nuôi tôm - RNM được ký hợp đồng
với Lâm trường Nhà nước hoặc Ban Quản lý Lâm
nghiệp (Hà et al., 2014). Các hợp đồng này cung cấp
cho nông dân một hợp đồng thuê ngắn hạn tương
đối (20 năm) so với nông dân ngoài vành đai RNM
và quy định tỷ lệ diện tích rừng trên ao cụ thể, mật
độ trồng cây... So với các hệ thống quảng canh không
tích hợp, hệ thống nuôi tôm RNM kết hợp cho phép
người sản xuất tiếp cận các thị trường thích hợp cụ
thể thông qua việc Chứng nhận các tiêu chuẩn hữu
cơ (Naturland) với mức giá cao hơn trên thị trường
85
Số 9/2024
CHÍNH SÁCH - CUỘC SỐNG
xuất khẩu (Ha, 2012a,b). Chứng nhận hữu cơ, sinh
thái được áp dụng từ năm 2002, tuy nhiên đến năm
2009, tỉnh Cà Mau là tỉnh đầu tiên trong toàn vùng có
335 trang trại, 2.100 ha diện tích nuôi tôm hữu được
chứng nhận. Các tiêu chuẩn hữu cơ cũng quy định
cụ thể về tỷ lệ diện tích ao và rừng trên trang trại, từ
đó khuyến khích việc duy trì các hệ thống tích hợp.
Tiêu chuẩn hữu cơ quy định tỷ lệ ao/diện tích rừng
là 50:50, trong khi quy định của Chính phủ yêu cầu
tỷ lệ là 40:60 đối với trang trại có diện tích nhỏ hơn
3 ha. Các trang trại tôm được chứng nhận theo tiêu
chuẩn hữu cơ được hưởng mức giá ưu đãi 20%. Trên
thực tế, kết quả được phân phối dọc theo chuỗi giá trị
(nhà chế biến, người thu gom và nông dân) và nông
dân chỉ thu được 6% giá trị gia tăng này (Ha et al.,
2012a). Hệ thống tiêu chuẩn bền vững về nuôi trồng
thủy sản cũng được xây dựng, với tiêu chí BVMT và
bảo vệ rừng là một trong những tiêu chí bắt buộc của
nuôi tôm rừng bền vững. Ngoài ra, các tiêu chí thực
hành nuôi thân thiện với môi trường, không dùng
thuốc hoá chất; thu hoạch có chọn lọc không gây
ảnh hưởng đến môi trường cũng được đưa vào tiêu
chuẩn. Say đây là các tiêu chuẩn nuôi thủy sản gắn
với tôm rừng đang được áp dụng hiện nay (Bảng 1).
Bảng 1. Các tiêu chuẩn nuôi thủy sản gắn với tôm rừng
Chứng nhận Thị trường Cơ hội
ASC Thị trường chính EU Cam kết của một số nhà bán lẻ châu Âu (AHOLD, MIGROS, METRO, NORDIC,
POPPEN…); Thị trường Nhật AEON….
SELVA Tiêu thụ chính trong hệ thống của Blue You
NATURLAND Thị trường chính EU Tiêu thụ chính ở các nước Bắc Âu
Seafood Watch Thị trường chính là M Mỹ và các nước Bắc Mỹ
BAP Thị trường chính là M Nhà bán lẻ, chuỗi nhà hàng và Nhà chế biến thức ăn tại Bắc Mỹ (Wallmart, Norpad)+
UK
BIO SUISSE Thị trường chính EU Thị trường chính Thụy Sĩ
Organic
aquaculture (EU) Thị trường chính EU Chỉ 1 logo cho tất cả các nước EU -> dễ nhận biết cho người tiêu dùng >50%
• Theo yêu cầu từ các nhà bán lẻ và chuỗi nhà hàng tại Bắc EU
(Đức, UK, Pháp, Sweden, DK…)
Nguồn: ICAFIS tổng hợp 2020
Tại Cà Mau, mô hình quản lý RNM truyền thống
ở vùng đệm ven biển được phát triển từ giữa thập
niên 1970. Theo đó rừng được quản lý dưới dạng
lâm, ngư trường và cho người dân thuê khoán với
thời gian 20 năm. Theo mô hình truyền thống: Rừng
chiếm 50-70%, mương 30-50%, chủ yếu rừng đước
<15 tuổi, tôm được nuôi theo hình thức quảng canh
hoặc quảng canh cải tiến. Tuy nhiên, điểm hạn chế
của mô hình này là diện tích tán rừng che phủ diện
tích mặt nước để nuôi tôm và các loài thủy sản khác:
Làm ánh sáng bị che bớt; (ii) lá cây rụng làm tăng
lượng mùn bã trong nước; hệ thống rễ cây làm cản
trở sự di chuyển của tôm, cá… nên sản lượng nuôi
không cao chỉ dao động trong khoảng 200 - 300 kg/
ha/năm.
Để nâng cao hiệu quả về sản lượng nuôi tôm
rừng tại ĐBSCL, từ năm 2016 ngành thủy sản, lâm
nghiệp và các chương trình dự án đã áp dụng giải
pháp cải tiến mô hình tôm rừng như: (i) Thay đổi
thiết kế rừng nhưng vẫn đảm bảo diện tích lớn 50%
và có mặt thoáng cho nuôi tôm và các loài thủy sản
khác; (ii) Áp dụng giải pháp chia giai đoạn (2 giai
đoạn, 3 giai đoạn) trong nuôi tôm để nâng cao tỷ lệ
sống trong mô hình tôm rừng. Qua áp dụng các giải
pháp kết hợp sản lượng tôm rừng đã tăng lên một
cách đáng kể, nhiều mô hình đạt sản lượng trên 500
kg/ha/năm, mô hình hiện đã nhân rộng ra nhiều tỉnh
tại ĐBSCL như Bạc Liêu, Trà Vinh, Bến Tre. Sau đây
là sơ đồ mô hình nuôi tôm rừng truyền thống và cải
tiến (Hình 1).
Bên cạnh kết quả đạt được, mô hình nuôi tôm
rừng cải tiến vẫn còn thách thức như sản lượng thấp,
nhiều rủi ro và chỉ chú trọng vào lợi ích kinh tế mà
chưa bảo vệ rừng.Vì vậy, để đồng nhất trong quản lý,
86 Số 9/2024
CHÍNH SÁCH - CUỘC SỐNG
chăm sóc và bảo vệ rừng trên
diện tích lớn thì cần có liên
kết chuỗi giá trị tôm rừng
theo hướng chứng nhận
bền vững (có tiêu chí bảo
vệ rừng), thông qua liên kết
các hộ dân và doanh nghiệp
tham gia chuỗi đạt được hiệu
quả như: (i) Thống nhất quy
trình nuôi; (ii) Đồng nhất
trong tiêu chí quản lý, chăm
sóc và bảo vệ rừng gắn với
nuôi tôm; (iii) Bán tôm có
chứng nhận với gia cao hơn
thị trường (cao hơn 20-30%
so với tôm thông thường với
các chứng nhận EU Organic,
Naturland, Bio Suisse, Selva
Shrimp) và đây cũng là công
cụ đảm bảo để người dân
giữ rừng; (iv) Doanh nghiệp
thu mua tôm với lượng lớn,
có chất lượng và có chứng
nhận quốc tế; (v) Thực hiện
chi trả dịch vụ sinh thái rừng
một cách hiệu quả thông
qua doang nghiệp tham gia
liên kết chuỗi, mực hiện tại
500.000 VNĐ/ha/năm.
Bảng 2. Các liên kết tôm rừng theo hướng chứng nhận bền vững tại ĐBSCL
TT Tên đơn vị
Diện tích nuôi tôm sinh thái
Diện tích
(ha) Số hộ (hộ) Doanh nghiệp Chứng nhận
1Công ty LN Ngọc Hiển 6.165 885 Camimex Naturland
2Tam Giang I 1.200 200 Seanamico Naturland
1.744 312 CASES EU
3Năm Căn 416 104 Phương Anh Naturland/EU
5Kiến Vàng 2.800 507 Minh Phú Selva shrimp
6Đầm Dơi 108 1CASES BAP/ASC
7Nhưng Miên
1.390 240 Seanamico Naturland
2.902 741 Minh Phú Naturland
82.902 699 Minh Phú Selva shrimp
9Đất Mũi 2.000 635 Quốc Việt Naturland
10 HTX Đồng Tiến, THT Tiền Phong
- Bạc Liêu 352 204 Thiên P ASC
11 Ba Tri - Bến Tre 350 217 Cửu Long Naturland/EU
12 Duyên Hải - Trà Vinh 300 184 Cửu Long Naturland/EU
22.629 4.929
Nguồn: ICAFIS tổng hợp 2020
VHình 1. Các mô hình tôm rừng truyền thống và cải tiến
87
Số 9/2024
CHÍNH SÁCH - CUỘC SỐNG
4. KẾT LUẬN
RNM có vai trò quan trọng trong việc cung cấp
các dịch vụ hệ sinh thái, tuy nhiên, việc quản lý, bảo
vệ RNM còn nhiều thách thức, do các nguồn tài
chính nhằm bảo vệ RNM rất hạn chế. Nguyên nhân
chủ yếu là do việc đánh giá chưa đầy đủ các giá trị hệ
sinh thái của RNM.
Chi trả DVMTR là chính sách đột phá tại Việt
Nam nhằm giảm gánh nặng ngân sách nhà nước,
đồng thời tạo ra nguồn tài chính ổn định nhằm bảo
vệ và phát triển rừng hiệu quả. Tuy nhiên, các khu
RNM gắn với NTTS chưa có nhiều chương trình chi
trả DVMTR được thực hiện.
Quản lý bền vững RNM gắn với phát triển NTTS
đã được áp dụng tại ĐBSCL từ năm 2002 (tại Cà Mau)
thông qua hình thức liên kết chuỗi và hình thức chia
sẻ lợi ích công bằng đã góp phần hiệu quả trong bảo
tồn và phát triển RNM. Mô hình liên kết nuôi tôm
rừng đã góp phần đảm bảo sinh kế của người dân và
bảo vệ RNM tốt nhất (duy trì ít nhất 40% diện tích
RNM nuôi tôm có rừng). Đồng thời, không phá hủy
các hệ sinh thái tự nhiên với cách thức thu hoạch trọn
lọc, với hình thức nuôi thân thiện với môi trường và
sinh thái. Đây là mô hình bền vững với môi trường,
mang lại nhiều lợi ích cho người dân. Sản phẩm tôm
rừng sinh thái được ưu chuộng trên thị trường quốc
tế với giá cao. Người dân nhận được nhiều hỗ trợ của
các dự án và công ty
Về chính sách, trong thời gian tới để phát triển
NTTS gắn với quản lý bền vững RNM, Bộ NN&PTNT
cần ban hành chính sách đặc thù trong trong quản lý
RNM để thu hút hiệu quả người dân tham gia trong
quản lý rừng trong đó cần cụ thể hóa mô hình quản
lý tổng hợp tài nguyên nước gắn với bảo vệ RNM và
phát triển thủy sản. Huy động sự tham gia của các
doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản xây dựng
cơ chế chia sẻ lợi ích hài hòa trong chuỗi trồng rừng
và NTTS kết hợpn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Thu Thủy, Bùi Thị Minh Nguyệt, Phạm Hồng
Lượng, Nguyễn Văn Diễn, Đào Thị Linh Chi, Hoàng
Tuấn Long, (2028) Vai trò của chi trả DVMTR trong
hỗ trợ tài chính cho ngành lâm nghiệp Việt Nam,
Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR).
2. Khung pháp lý v ề chi trả dịch vụ hệ sinh thái RNM
tại Việt Nam (2010) Forest Trends và nhóm Katoomba.
3. Pham Hong Tinh, Richard A. MacKenziE, Tran
Dang Hung, Nguyen Thi Hong Hanh, Nguyen Hoang
Hanh, Do Quy Manh, Hoang Thi Ha, Mai Sy Tuan
(2022) Distribution and drivers of Vietnam mangrove
deforestation from 1995 to 2019, Mitig Adapt Strateg
Glob Change.
4.Nguyễn Hoàng Hạnh, Đỗ Quý Mạnh, Trần Văn
Sáng, Cao Bá Kết (2018) Thực trạng và một số giải
pháp khôi phục, phát triển RNM biển đồng bằng sông
Cửu Long, Tạp chí Môi trường.
5. Steffen Gebhardt, Lam Dao Nguyen, and Claudia
Kuenzer (2014) Mangrove Ecosystems in the Mekong
Delta-Overcoming Uncertainties in Inventory Mapping
Using Satellite Remote Sensing Data.
6. Olivier M. Joffre, Roel H. Bosma, Arnold K. Bregt,
Paul A.M. van Zwieten, Simon R. Bush, Johan A.J.
Verreth (2015) What drives the adoption of integrated
shrimp mangrove aquaculture in Vietnam? Ocean &
Coastal Management 114 (2015) 53e63.
7. Tran Thi Thu Ha, Han van Dijk, Simon R. Bush
(2012) Mangrove conservation or shrimp farmers
livelihood? The devolution of forest management and
benefit sharing in the Mekong Delta, Vietnam, Ocean
& Coastal Management 69 (2012) 185e193.
8. Đinh Xuân Lập, Lê Thị Vân Huệ (2020), Thúc đẩy
phát triển rừng ngập mặn bền vững thông qua chuỗi
giá trị tôm rừng, Trung tâm Môi trường và Phát triển
nguồn lực cộng đồng (CECAD).
9. Bijeesh KozhikkodanVeettil, Raymond D.Ward, Ngo
Xuan Quang, Ngo Thi Thu Trang, Tran Hoai Giang
(2019) Mangroves of Vietnam: historical development,
current state of research and future threats, Estuarine
Coastal and Shelf science 218 (2019) 212 -236.
10. Pham Thu Thuy, Vien Ngoc Nam, Vo Quoc Tuan,
Tang Thi Kim Hong, Nguyen Tan Loi, Tran Ngoc
My Hoa, Nguyen Thi Thuy Anh, Nguyen Thi Van
Anh Nguyen Nhat Quang (2022) Opportunities and
challenges for mangrove restoration in the Mekong
Delta, Status, policies and stakeholder outlook, Center
for International Forestry Research.
11. Thu Vo, Hue Le, Diep Phan, Anh Tran, Yen
Nguyen, Ha Nguyen, Tuyet Pham (2024) Towards
sustainable mangrove-shrimp aquaculture through
capacity building and partnership in the Mekong River
Delta, APN Science Bulletin.
VHộ dân ở ấp Bào, xã Hiệp Thạnh (Trà Vinh) nuôi
tôm, cua, cá dưới tán RNM