intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Phẫu thuật dính khớp sọ sớm ở trẻ em

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
10
lượt xem
1
download

Phẫu thuật dính khớp sọ sớm ở trẻ em

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phẫu thuật dính khớp sọ sớm vẫn còn là những thử thách ở Việt Nam. Gồm nhiều khiếm khuyết khác nhau, phức tạp liên quan đến nhiều chuyên khoa như ngoại thần kinh, tai - mũi - họng, mắt và thẩm mĩ. Những dị tật này luôn gây những biến dạng nặng, tiến triển ở đầu và mặt trẻ. Những dị tật này để lại nhiều hậu quả về mặt thẩm mĩ, tâm lí và chức năng thần kinh. Vì vậy, phẫu thuật tạo hình sọ mặt luôn luôn cần thiết. Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá một số dị tật mà tác giả gặp phải và phân tích các dấu hiệu lâm sàng, kết quả cũng như là biến chứng phẫu thuật.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phẫu thuật dính khớp sọ sớm ở trẻ em

Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 4 * 2012<br /> <br /> PHẪU THUẬT DÍNH KHỚP SỌ SỚM Ở TRẺ EM<br /> Đặng Đỗ Thanh Cần*<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: Phẫu thuật dính khớp sọ sớm vẫn còn là những thử thách ở Việt Nam. Gồm nhiều khiếm khuyết<br /> khác nhau, phức tạp liên quan đến nhiều chuyên khoa như ngoại thần kinh, tai – mũi – họng, mắt và thẩm mĩ.<br /> Những dị tật này luôn gây những biến dạng nặng, tiến triển ở đầu và mặt trẻ. Những dị tật này để lại nhiều hậu<br /> quả về mặt thẩm mĩ, tâm lí và chức năng thần kinh. Vì vậy, phẫu thuật tạo hình sọ mặt luôn luôn cần thiết. Mục<br /> tiêu của nghiên cứu này là đánh giá một số dị tật mà chúng tôi gặp phải và phân tích các dấu hiệu lâm sàng, kết<br /> quả cũng như là biến chứng phẫu thuật.<br /> Đối tượng, phương pháp: Chúng tôi thu thập và trình bày những ca phẫu thuật dị tật sọ mặt đầu tiên tại<br /> khoa chúng tôi từ tháng 12 năm 2010 đến tháng 8 năm 2012. Tất cả các dữ kiện về lâm sàng, hình ảnh học, kết<br /> quả phẫu thuật được phân tích với phần mềm SPSS phiên bản 19.0.<br /> Kết quả: Có 12 BN dính khớp sọ sớm. Trong các ca dính khớp sọ sớm, có 7 ca dính khớp sọ đơn thuần<br /> không hội chứng (2 ca sọ dẹt phía trước, 3 ca sọ tam giác, 2 ca sọ hình thuyền) và 5 ca có hội chứng (4 ca Crouzon<br /> và 1 ca Feiffer). Có 3 ca dính khớp sọ hội chứng đều có tật Chiari và rỗng tủy kèm theo cần phẫu thuật giải ép<br /> chẩm cổ trước. Nội soi mở thông sàn não thất III cho 2 trường hợp hội chứng Crouzon có tắt cống não. Kết quả<br /> thẩm mĩ ban đầu đạt tốt 10 BN, khá 3 BN. Có 3 ca bị biến chứng rách màng cứng trong mổ nhưng không có dò<br /> dịch não tủy, 1 ca bị máu tụ dưới màng cứng mạn tính, không có nhiễm trùng cũng như di chứng và tử vong.<br /> Kết luận: Phẫu thuật tạo hình sọ mặt rất phức tạp và thử thách. Mọi thứ cần được chỉnh sửa trước khi trẻ<br /> đi học để phòng ngừa sang chấn tâm lí cho trẻ có thể gặp phải. Việc phối hợp nhiều chuyên khoa Ngoại thần kinh<br /> nhi, Tai – mũi – họng, thẩm mĩ sẽ cho kết quả phẫu thuật tốt hơn.<br /> Từ khoá: dính khớp sọ sớm, dị tật sọ mặt, phẫu thuật sọ mặt, hội chứng Crouzon, Feiffer.<br /> <br /> ABSTRACT<br /> SURGERY OF CRANIOSYNOSTOSIS IN CHILDREN<br /> Dang Do Thanh Can* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 4 - 2012: 122 - 125<br /> Objective: The surgery of craniosynostosis is still chalanges in Vietnam. Agroup of variable, complex defects<br /> is related to neurosurgical, ENT, opthalmological and plastic surgery. They usually cause the severelyprogressive<br /> deformities on the child’s head and face. And too many consequences are related to cosmetic, spychology and<br /> neurological function. So, the craniofacial reconstruction is always neccessary. The purpose of this study to<br /> evaluate some kinds of craniosynostosis and to analyse all the clinical symptoms, the results of surgeries and<br /> complications also.<br /> Methods: We collected and presented the first cases of craniofacial surgery in our department from Dec 2010 to Aug – 2012. We surveyed all consecutive profiles with preoperativeclinical signs, images and post-op<br /> results with statistic sofware SPSS version 19.0.<br /> Results: There are twelve patients suffered from craniosynostosis. About craniosynostosis, seven non –<br /> syndromic (anterior plagiocephaly, trigonocephaly, scaphocephaly) and five syndromic (four Crouzon and one<br /> <br /> *Khoa Ngoại Thần Kinh Đại học Y Dược TP HCM<br /> Tác giả liên hệ: ThS Đặng Đỗ Thanh Cần ĐT: 0919168345<br /> <br /> 122<br /> <br /> Email: drthanhcan@gmail.com<br /> <br /> Chuyên đề Phẫu Thuật Thần Kinh<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 4 * 2012<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Feiffer syndrome). All seven syndromic craniosynostosis had Chiari malformation and syrinx need to occipito –<br /> cervical decompression firstly. Third ventriculostomy were performed in two cases of Crouzon had aqueductal<br /> stenosis. The preliminary cosmetic results was archived with good (10 pts), fair (2 pts). The complications<br /> consisted with intraopreative dural laceration but no leakage (3 pts), chronic sudural hematoma (1 pt), no<br /> infection and no morbidity or mortality.<br /> Conclusion: The craniofacial reconstruction for craniosynosis is rather complex and challenge. Everything<br /> will be repair before the age of schooling to prevent the spychological stress. The good team with pediatric<br /> neurological, ENT and cosmetic surgeons should co-ordinate to get good results.<br /> Key words: Craniofacial deformities, craniofacial surgery, fronto – nasal encephalocele, Crouzon, Feiffer<br /> syndrome.<br /> giữa (phần nối giữa hai xương đính) làm cho<br /> MỞ ĐẦU<br /> đầu trẻ dài ra theo chiều trước sau, gọi là tật đầu<br /> Dị tật sọ mặt ở trẻ em là những bất thường<br /> hình thuyền (chiếm 60%). Khi khớp trán đính<br /> bẩm sinh tập trung chủ yếu ở vùng hộp sọ, mắt,<br /> (phần nối giữa xương trán và xương đính) bị<br /> mũi. Đôi khi có bất thường vùng hàm trên, hàm<br /> dính sẽ gây đầu bị méo về một bên hoặc bị dẹt<br /> dưới, thậm chí vùng hầu, họng, hệ TKTW. Các<br /> sang hai bên (chiếm 20%). Một số các dính khớp<br /> dị tật này có thể đơn thuần ở vùng đầu mặt<br /> sọ ít gặp hơn như khớp metopic (nối giữa hai<br /> nhưng cũng có thể kèm theo các dị tật khác của<br /> xương trán) gây tật đầu hình tam giác (chiếm<br /> hệ cơ – xương – khớp mà đã được mô tả thành<br /> 10%), dính khớp đính chẩm gây tật đầu dẹt ở<br /> tên rất nhiều hội chứng (có trên 50 hội chứng dị<br /> phía sau… Các khớp này có thể dính ở một hay<br /> tật sọ mặt)(1,2).<br /> nhiều đường khớp. Biểu hiện của bệnh là sự<br /> Các dị tật này phổ biến ở cộng đồng dân da<br /> biến dạng rõ rệt của hộp sọ trẻ theo nhiều hình<br /> đen châu Phi, người Mỹ gốc Phi, các nước Đông<br /> thái đặc biệt: đầu hình thuyền, đầu hình tam<br /> Nam Á. Đối với chủng tộc châu Á thường gặp<br /> giác, đầu bị méo, đầu dẹt, đầu nhỏ… Nếu nhìn<br /> nhất là tật dính khớp sọ sớm đơn thuần hoặc hội<br /> hoặc sờ sẽ thấy có một gờ xương nhô cao dọc<br /> chứng. Các nước phổ biến là Thái Lan,<br /> theo đường khớp. Khi ấn vào hai xương ở hai<br /> Campuchia, Lào, Malaysia, Việt Nam. Dị tật<br /> bên đường khớp sẽ không di chuyển được. Hai<br /> dính khớp sọ sớm (craniosynostosis), trước kia<br /> cung mày của bé phát triển không đều, một bên<br /> gọi là tật hẹp sọ (craniostenosis) không được<br /> bị dẹt và thấp hơn bên đối diện làm cho mắt bị<br /> chính xác. Tần suất trong dân số 6/10.000 trẻ(3).<br /> lồi ra trước. Đôi khi xương mũi hơi bị đẩy lệch<br /> Nguyên nhân là do các đường khớp sọ dính với<br /> sang một bên. Hai xương trán phát triển quá<br /> nhau từ trong bào thai. Bình thường các khớp<br /> mức, tạo thành hai ụ trán nhô ra phía trước(4).<br /> này sẽ cài vào nhau vào lúc 2 – 4 tuổi và chỉ<br /> ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> dính thật sự sau 20 tuổi. Có hai cơ chế chính<br /> Chúng tôi nghiên cứu hồi cứu 12 hồ sơ đã<br /> hoặc là do bệnh lí của xương sọ (dính khớp sọ<br /> được<br /> phẫu thuật dị tật sọ mặt tại bệnh viện Nhi<br /> nguyên phát) hoặc là do bệnh lí của não bộ<br /> Đồng 2 từ tháng 12/2010 đến tháng 8/2012. Các<br /> không phát triển được nên các khớp sọ bị đóng<br /> dữ kiện lâm sàng, cận lâm sàng được thống kê<br /> sớm (dính khớp sọ thứ phát gây tật đầu nhỏ).<br /> trên phần mềm SPSS 19.0<br /> Những trường hợp dính khớp sọ nguyên<br /> phát sẽ làm biến dạng hộp sọ của trẻ. Tuỳ khớp<br /> nào bị dính thì hộp sọ sẽ phát triển bù trừ theo<br /> hướng song song với đường khớp đó. Kết quả<br /> đầu trẻ sẽ không đều mà bị méo theo một hướng<br /> nào đó. Thường gặp là nhất là dính khớp dọc<br /> <br /> Chuyên đề Phẫu Thuật Thần Kinh<br /> <br /> KẾT QUẢ<br /> Giới tính<br /> Chúng tôi có 10 nam (83,3%) và 2 nữ<br /> (16,7). Cho thấy bệnh có khuynh hướng biểu<br /> hiện ở bé trai.<br /> <br /> 123<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 4 * 2012<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> Tuổi<br /> <br /> Phân bố từ 1 tháng đến 36 tháng tuổi, trung<br /> bình là 11,6 tháng tuổi.<br /> <br /> Chẩn đoán<br /> Chúng tôi có 12 trường hợp dính khớp sọ<br /> sớm trong đó dính khớp sọ đơn thuần chiếm<br /> 58,3%, dính khớp sọ hội chứng 41,3% gồm hội<br /> chứng là Crouzon và Feiffer.<br /> Chẩn đoán<br /> Dính khớp vành 1 bên<br /> Dính khớp Metopic<br /> Dính khớp dọc giữa<br /> Hội chứng Crouzon<br /> Hội chứng Feiffer<br /> Tổng<br /> <br /> Số ca<br /> 2<br /> 3<br /> 2<br /> 4<br /> 1<br /> 12<br /> <br /> Tỉ lệ %<br /> 16,7<br /> 25<br /> 16,7<br /> 33,3<br /> 8,3<br /> 100<br /> <br /> Phương pháp phẫu thuật<br /> Chúng tôi tiến hành 2 phương pháp tạo<br /> hình vùng sọ mặt chính là tạo hình trán - ổ mắt,<br /> và tạo hình toàn bộ hộp sọ tùy theo loại dị tật<br /> liên quan.<br /> Tạo hình trán - ổ mắt cho 10 trường hợp<br /> dính khớp vành, khớp metopic, hội chứng<br /> Crouzon và hội chứng Feiffer. Chúng tôi thực<br /> hiện một nắp sọ trán 2 bên ngay sau khớp vành.<br /> Tách màng xương xuống sát sàn sọ vượt qua<br /> khỏi trần và thành ngoài ổ mắt, qua đến phần<br /> xương mũi. Cắt một vành xương trán - ổ mắt 2<br /> bên rộng khoảng 1,5 – 2 cm kéo dài đến cánh<br /> xương bướm sau điểm keyhole khoảng 2 cm.<br /> Sau đó, vành trán - ổ mắt được uốn cong lại cho<br /> đều hai bên và đặt lại vị trí ban đầu nhưng ra<br /> trước 1 cm để mở rộng thể tích ổ mắt. Nắp sọ<br /> trán 2 bên được cắt lại theo những đường nan<br /> hoa và uốn cong cho hài hòa hai bên, đối xứng<br /> tương đối. Cuối cùng các nắp sọ được cố định<br /> với nhau bằng chỉ Vicryl 2.0, hoặc chỉ thép 4.0<br /> hoặc nẹp vít sọ tự tiêu(4).<br /> Tạo hình toàn bộ hộp sọ cho 2 trường hợp bị<br /> dính khớp dọc giữa gây tật đầu hình thuyền<br /> theo phương pháp của Schudt và Stein. Chúng<br /> tôi thực hiện cắt dọc hết toàn bộ khớp dọc giữa<br /> rộng 4 cm. Cắt giải phóng khớp vành và khớp<br /> lambda. Cắt tạo hình nang hoa cho các xương<br /> trán, xương chẩm, xương đính hai bên. Bẻ gãy<br /> <br /> 124<br /> <br /> dạng cành tươi 2 xương đính sang hai bên để<br /> tăng đường kính lưỡng đỉnh. Sau đó, cắt phần<br /> xương hai bên khớp dọc giữa thành nhiều mảnh<br /> rời nhỏ và nối vào hai xương dính hai bên.<br /> Màng xương được khâu cố định lại.<br /> Có 2 trường hợp Crouzon bị đầu nước do tắt<br /> cống não được mở thông sàn não thất III và 3<br /> trường hợp dính khớp sọ hội chứng kèm theo<br /> tật Chiari và rỗng tủy có triệu chứng đều được<br /> phẫu thật giải ép chẩm cổ trước đó 3 – 6 tháng<br /> rồi mới phẫu thuật tạo hình sọ mặt sau.<br /> <br /> Biến chứng<br /> Có 5 trường hợp có biến chứng tạm thời<br /> (41,7%) gồm 3 ca rách màng cứng (25%) trong<br /> lúc bóc tách xương sọ tại vị trí các đường khớp,<br /> màng cứng được khâu lại và không ca nào bị dò<br /> dịch não tủy sau mổ. Một ca bị tụ dịch não tủy<br /> vùng trán hai bên (8,3%) được xử trí băng ép sau<br /> 5 ngày thì hấp thu hoàn toàn. Có một trường<br /> hợp (8,3%) sau phẫu thuật 4 tháng và phát hiện<br /> bị máu tụ dưới màng cứng mạn tính hai bên<br /> được mổ dẫn lưu máu tụ.<br /> <br /> KẾT QUẢ<br /> Kết quả thẩm mĩ dựa trên tiêu chí sự phát<br /> triển hài hòa của hình dạng đầu, đặc biệt lưu<br /> tâm đến vùng trán - ổ mắt, giảm tật lồi mắt, khả<br /> năng điều chỉnh tật di lệch hai nhãn cầu. Trong<br /> đó, kết quả thẩm mĩ tốt là 10 trường hợp<br /> (83,3%), khá 2 trường hợp (16,7%). Có hai<br /> trường hợp hội chứng Crouzon tạo hình vùng<br /> trán hơi nhô cao, mất cân xứng với vùng đính<br /> hai bên, giảm được một phần tật lồi mắt.<br /> <br /> BÀN LUẬN<br /> Dị tật sọ mặt tương đối phổ biến ở Việt<br /> Nam. Việc phát hiện bệnh sớm tương đối dễ<br /> dàng do các biến dạng nặng vùng đầu mặt ngay<br /> sau sinh hoặc vài tháng đầu sau sinh. Có trên<br /> 30% trường hợp nhập viện trễ sau 6 tháng tuổi<br /> do đa phần là người dân tộc thiểu số không có<br /> đủ điều kiện kinh tế và sự hiểu biết về bệnh, một<br /> số ít trường hợp có đến một vài bệnh viện khu<br /> vực nhưng không được xử trí. Đa phần những<br /> trường hợp nhập viện trễ khi mà sự biến dạng<br /> <br /> Chuyên đề Phẫu Thuật Thần Kinh<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 4 * 2012<br /> trở nên nghiêm trọng và lan rộng nhiều vị trí<br /> phải cần những phẫu thuật tạo hình phức tạp<br /> hơn, mất máu nhiều hơn, nguy cơ cuộc mổ cao<br /> hơn cũng như tỉ lệ tái phát cao hơn. Điều này<br /> cho thấy việc chẩn đoán và phẫu thuật dị tật sọ<br /> mặt vẫn còn là một lãnh vực khá mới ở khu vực<br /> TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.<br /> Tất cả những phẫu thuật sọ mặt đều mất<br /> máu nhiều và cần phải truyền máu trong, sau<br /> mổ. Do đó, việc có chiến lược trong mỗi thì<br /> phẫu thuật như rạch da, bóc tách màng xương,<br /> cắt tạo hình xương sọ cần cẩn thận và cầm máu<br /> thật kĩ, hạn chế tối đa mất máu. Cả 5 trường hợp<br /> dính khớp sọ hội chứng chúng tôi quan sát thấy<br /> có rất nhiều những tĩnh mạch dị dạng, dãn lớn<br /> dưới da đầu, phần xương sọ khá dày, có nhiểu<br /> lỗ xương trên bề mặt và tủy xương chảy máu rất<br /> nhiều trong lúc khoan cắt sọ. Cần phải chuẩn bị<br /> đủ máu truyền trước khi tiến hành phẫu thuật.<br /> Cần thận trọng nguy cơ suy hô hấp sau mổ do<br /> có thể có bất thường đường hô hấp trên, đặc biệt<br /> có thoát vị hạnh nhân tiểu não hay đầu nước<br /> nặng kèm theo. Tất cả những dị tật này cần phải<br /> khảo sát kĩ và xử trí trước khi mổ tạo hình sọ<br /> mặt.<br /> Cần có một nhóm liên kết các chuyên khoa<br /> Ngoại Thần Kinh nhi, Tai – Mũi – Họng, Mắt,<br /> <br /> Chuyên đề Phẫu Thuật Thần Kinh<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Thẩm mĩ... phối hợp làm việc mới có thể giải<br /> quyết nhiều dị tật liên quan đến vùng sọ mặt.<br /> Chúng tôi có 3 trường hợp dính khớp sọ sớm<br /> hội chứng có kèm theo thiểu sản xương hàm<br /> trên và ổ mắt kèm theo. Bệnh nhân đã được<br /> phẫu thuật tạo hình tương đối hoàn chỉnh vùng<br /> sọ - ổ mắt nhưng vấn đề còn phải tiếp tục chỉnh<br /> hình xương hàm mặt.<br /> <br /> KẾT LUẬN<br /> Dị tật sọ mặt và phẫu thuật dị tật sọ mặt vẫn<br /> còn là thử thách và cần sự phối hợp nhiều<br /> chuyên khoa liên quan. Việc phát hiện và xử trí<br /> sớm thường đơn giản hơn. Phẫu thuật trước độ<br /> tuổi nhà trẻ giúp trẻ tránh được những sang<br /> chấn tâm lí nặng nề và giúp trẻ hòa nhập tốt vào<br /> cộng đồng.<br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> 1.<br /> <br /> 2.<br /> 3.<br /> 4.<br /> <br /> Ciurea AV (2011). Actual concepts in scaphocephaly (an<br /> experience of 98 cases). Journal of Medicine and Life, Volume 4<br /> (4): 424-431.<br /> Karbbani H (2004). Craniosynostosis. American Family Physician,<br /> volume 69 (12): 2863-2870.<br /> Mehta VA (2010). The evolution of surgical management for<br /> craniosynostosis. Neurosurg Focus 29: 1 – 7.<br /> Smyth MD (2006). The “clamshell” craniotomy technique in<br /> treating sagittal craniosynostosis in older children. J Neurosurg (4<br /> Suppl Pediatrics), 105: 245–251.<br /> <br /> 125<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản