
Phóng xạ: Có mặt ở khắp nơi
Từ năm 2003 đến nay,TS. Đặng Thanh Lương
là Phó Cục trưởng Cục Kiềm soát và An toàn
bức xạ
- Phông bức xạ tự nhiên được sinh ra bởi các
chất đồng vị phóng xạ chứa trong đất đá, nước,
không khí, thực phẩm, nhà chúng ta ở và ngay
Đôi nét về TS. Đặng Thanh Lương
Sinh năm 1954. Năm1978, Tốt nghiệp đại học
vật lý, trường ĐH Tổng hợp Kishinev. Năm
1997, bảo vệ luận án tiến sĩ vật lý, trường ĐH
Tổng hợp Hà Nội. Năm 1978-1998 Nghiên
cứu viên, Trung tâm An toàn bức xạ, Viện
Năng lượng nguyên tử Việt Nam (NLNTVN).
Năm 1998-2000 Phó Trưởng Ban Kế hoạch và
Hợp tác quốc tế- Viện NLNTVN. Năm 2000-
2003, Phó Trưởng Ban An toàn bức xạ và hạt
nhân, Bộ Khoa học-Công nghệ.

trong cơ thể chúng ta ví dụ như: Uranium,
Thorium, Kali, khí Radon,..vv. Có thể thấy rõ
như trường hợp đồng vị phóng xạ tự nhiên
Kali-40 có nhiều trong rau, hoa quả và cơ thể
con người.
Điều này cho thấy bức xạ ion hoá không có gì
xa lạ với con người, nó tồn tại xung quanh ta
và từ bao đời nay con người đã và đang sống
chung trong một môi trường có nhiều chất
phóng xạ.
- Phông bức xạ tự nhiên phụ thuộc vào hàm
lượng chất phóng xạ tự nhiên chứa trong đât
nước của từng vùng. Do vậy việc tồn tại các
vùng có có phông bức xạ cao hoặc thấp khác
nhau là lẽ đương nhiên. Vùng có phông bức xạ
cao thường tập chung ở những nơi có mỏ
Uranium, vùng sa khoáng có chứa chất phóng
xạ.
Ở Việt Nam, chúng ta cũng có một số vùng có
phông bức xạ môi trường cao hơn mức trung
bình (mức liều trung bình hàng năm từ phông
bức xạ môi trường trên toàn thế giới vào
khoảng từ 2,1 đến 2,5mSv, 80% liều bức xạ
này là do khí Radon gây ra) nói trên. Các vùng
này đã được Liên đoàn Địa chất - Xạ hiếm
phát hiện và lập hồ sơ.

1 mSv: Chưa phải là tiêu chuẩn giới hạn
của phông bức xạ tự nhiên
Liên quan đến thông tin cho rằng phông bức
xạ tự nhiên ở một số vùng cao hơn mức cho
phép 1mSv/năm, chúng tôi muốn làm rõ khái
niệm này như sau:
Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6866: 2001
giới hạn liều đối với nhân viên bức xạ và dân
chúng thì giới hạn liều đối với dân chúng là
1mSv/năm lấy trung bình trong 5 năm liên tục,
trong một năm đơn lẻ không được vượt quá
5mSv/năm và không tính tới đóng góp liều do
bức xạ tự nhiên, điều này phải được hiểu như
sau:
Giới hạn liều 1mSv/năm này áp dụng với các
công việc bức xạ, các nguồn bức xạ và các cơ
sở bức xạ hạt nhân - các hoạt động của con
người có thể làm tăng mức bức xạ đối với con
người và môi trường, mức liều không áp dụng
đối với chiếu xạ y tế và các nguồn bức xạ tự
nhiên.
Hiện nay trên thế giới nói chung và ở Việt
Nam nói riêng, trong thực tế chúng ta không
có giới hạn liều cho các nguồn bức xạ tự
nhiên, trừ trường hợp chiếu xạ tự nhiên từ khí
Radon khi nồng độ khí Radon vượt quá

1000Bq/m3 (có nước chấp nhận từ 500Bq/m3)
theo Tiêu chuẩn an toàn bức xạ quốc tế BSS-
115. Tất cả nhân viên làm việc trong môi
trường có khí Radon tự nhiên cao hơn mức
trên phải được coi là nhân viên bức xạ .
Điều này cho thấy những ý kiến trong một
số bài báo gần đây cho rằng nếu phông bức
xạ ở một số vùng cao hơn mức cho phép
1mSv/năm là không hợp lý. Chúng ta chỉ có
thể kết luận rằng tại một số vùng trong cả
nước có phông bức xạ (2-4mSv/ năm) cao hơn
mức phông bức xạ tự nhiên trung bình (2,1 –
2,5 mSv/năm).
Về đánh giá tác hại của phông bức xạ tự nhiên
cao đến sức khoẻ con người, thì hiện nay đang
còn là vấn đề được các nhà khoa học trên toàn
thế giới quan tâm.
Mặc dù khái niệm “phông bức xạ tự nhiên
cao” (cao hơn mức cho phép 1mSv/năm)
được cho là hiện diện ở một số vùng dân cư
nhưng trong trường hợp này, đây vẫn thuộc
vào vùng chiếu xạ liều thấp.
Khi bị chiếu xạ liều thấp, các triệu chứng bệnh
lý không thể phát hiện thấy mà chỉ có thể đánh
giá theo xác suất thống kê. Đây là một trở ngại
lớn cho nghiên cứu khoa học vì số liệu thống

kê chưa đủ để đi đến những kết luận chính xác
về các tác động của phông bức xạ tự nhiên cao
đến sức khoẻ con người và môi trường.

