UBND TỈNH THANH HÓA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
THANH HÓA
Thạch Minh Hoàng
QUẢN LÝ LỄ HỘI OK OM BOK CỦA NGƢỜI KHMER
Ở THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Thanh Hóa, 2023
UBND TỈNH THANH HÓA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
THANH HÓA
Thạch Minh Hoàng
QUẢN LÝ LỄ HỘI OK OM BOK CỦA NGƢỜI KHMER
Ở THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 8229042
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thanh Hà
Thanh Hóa, 2023
i
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Quản lý lễ hội Ok om bok của người Khmer ở thành phố
Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu” là công trình khoa học do tôi viết, dưới sự hướng
dẫn của PGS.TS Lê Thanh Hà.
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các các công trình
nghiên cứu đã công bố.
Ngƣời cam đoan
Thạch Minh Hoàng
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
MỤC LỤC ........................................................................................................ ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.......................................................................... v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ .................................................................................. vi
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................ 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................... 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................... 9
5. Phương pháp nghiên cứu .................................................................. 9
6. Những đóng góp của luận văn ........................................................ 10
7. Bố cục luận văn ............................................................................... 11
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
VÀ TỔNG QUAN LỄ HỘI OK OM BOK ................................................. 12
1.1. Một số khái niệm ......................................................................... 12
1.1.1. Lễ, hội .................................................................................................... 12
1.1.2. Quản lý và quản lý lễ hội ...................................................................... 13
1.2. Quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ......... 16
1.2.1. Văn bản của Trung Ương về quản lý lễ hội ........................................ 16
1.2.2. Văn bản của địa phương về quản lý lễ hội .......................................... 20
1.3. Khái quát về người Khmer và lễ hội Ok Om Bok ở thành phố Bạc
Liêu ..................................................................................................... 22
1.3.1. Khái quát về đồng bào dân tộc Khmer ở thành phố Bạc Liêu ........... 22
1.3.2. Tổng quan về Lễ hội Ok Om Bok của người Khmer ........................ 25
1.3.3. Nguồn gốc, ý nghĩa của lễ Ok Om Bok .............................................. 28
iii
1.3.4. Quy trình, cách thức tổ chức và các nghi thức tiến hành trong lễ hội
Ok Om Bok của người Khmer thành phố Bạc Liêu ..................................... 34
*Tiểu kết Chƣơng 1 ....................................................................................... 40
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ LỄ HỘI OK OM BOK Ở THÀNH
PHỐ BẠC LIÊU ............................................................................................ 41
2.1. Chủ thể quản lý ............................................................................ 41
2.1.1. Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Bạc Liêu ....................................... 41
2.1.2. Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố Bạc Liêu ................................ 42
2.1.3. Chủ thể cộng đồng cư dân trong quản lý lễ hội .................................. 42
2.2. Công tác quản lý lễ hội Ok Om Bok ở thành phố Bạc Liêu ........ 42
2.2.1. Ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, kế hoạch tổ chức lễ hội . 42
2.2.2. Công tác tuyên truyền, quảng bá ......................................................... 46
2.2.3. Tổ chức các hoạt động văn hóa trong lễ hội ....................................... 49
2.2.4. Quản lý các nguồn lực, cơ sở vật chất phục vụ cho tổ chức lễ hội . 50
2.2.5. Quản lý hoạt động dịch vụ, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự ........ 54
2.2.6. Hoạt động kiểm tra, giám sát việc tổ chức lễ hội ................................ 58
2.2.7. Sự tham gia của cộng đồng trong việc tổ chức, quản lý lễ hội .......... 59
2.3. Đánh giá chung ............................................................................ 62
2.3.1. Ưu điểm ................................................................................................. 62
2.3.2. Hạn chế, tồn tại ..................................................................................... 66
2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế .................................................................... 68
2.4. Những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý lễ hội Ok Om Bok ở
thành phố Bạc Liêu hiện nay .............................................................. 70
2.4.1. Những biến đổi trong tổ chức lễ hội Ok Om Bok ở thành phố Bạc
Liêu hiện nay ................................................................................................... 70
2.4.2. Về công tác quản lý lễ hội .................................................................... 76
* Tiểu kết Chƣơng 2 ...................................................................................... 81
iv
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ LỄ HỘI OK OM BOK Ở THÀNH
PHỐ BẠC LIÊU ............................................................................................ 82
3.1. Phương hướng và nhiệm vụ ......................................................... 82
3.1.1. Phương hướng ....................................................................................... 82
3.1.2. Nhiệm vụ ............................................................................................... 83
3.2. Giải pháp ...................................................................................... 84
3.2.1. Hoàn thiện cơ cấu bộ máy tổ chức và cơ chế quản lý lễ hội .............. 84
3.2.2. Hoàn thiện nội dung chương trình tổ chức lễ hội ............................... 86
3.2.3. Bảo vệ và phát huy giá trị truyền thống của lễ hội ............................. 87
3.2.4. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa ............................................................. 89
3.2.5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra ............................................. 91
3.2.6. Phát huy vai trò của cộng đồng ............................................................ 92
3.2.7. Bảo vệ và phát huy lễ hội Ok Om Bok gắn với xây dựng mô hình sản
phẩm du lịch tại địa phương. .......................................................................... 94
3.2.8. Một số giải pháp khác........................................................................... 96
Tiểu kết Chƣơng 3 ......................................................................................... 98
KẾT LUẬN .................................................................................................... 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 101
MỤC LỤC PHỤ LỤC ................................................................................. 105
v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nguyên nghĩa
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu long
HĐND Hội đồng nhân dân
KTXH Kinh tế - Xã hội
UBND Ủy ban nhân dân
vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Kết quả khảo sát về việc ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng
dẫn, kế hoạch tổ chức lễ hội ......................................................... 46
Biểu đồ 2.2. Kết quả khảo sát về công tác tuyên truyền, quảng bá ................ 48
Biểu đồ 2.3. Kết quả khảo sát về việc tổ chức các hoạt động văn hóa trong lễ
hội Ok Om bok.............................................................................. 50
Biểu đồ 2.4. Kết quả khảo sát việc quản lý các nguồn lực, cơ sở vật chất phục
vụ tổ chức lễ hội ............................................................................ 52
Biểu đồ 2.5. Kết quả khảo sát quản lý hoạt động dịch vụ, vệ sinh môi trường,
an ninh trật tự ................................................................................ 57
Biểu đồ 2.6. Kết quả khảo sát hoạt động kiểm tra, giám sát việc tổ chức lễ hội ..... 58
Biểu đồ 2.7. Kết quả khảo sát sự tham gia của cộng đồng trong việc tổ chức,
quản lý lễ hội ................................................................................. 60
Biểu đồ 2.8. Kết quả khảo sát nguyên nhân biến đổi của của lễ hội Ok Om
Bok tại thành phố Bạc Liêu .......................................................... 75
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thần của người
dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử. Lễ hội cũng chính là
dịp để con người giao lưu, gặp gỡ, là nơi kết nối cộng đồng, nơi con người thể
hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn. Lễ hội là một bộ phận quan trọng
của di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Việt Nam và là một loại hình có
tính chất tổng hợp chứa đựng trong nó cả tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập
quán, diễn xướng dân gian và văn nghệ dân gian. Nghiên cứu lễ hội truyền
thống trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn, góp phần xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [1, tr.21].
Trong quá trình cộng cư lâu dài với người Kinh (Việt), người Chăm và
người Hoa, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long đã sớm hình thành một
nền văn hóa phát triển, đã tạo nên bản sắc văn hóa của tộc người mình, góp phần
làm nên sự đa dạng trong một thể thống nhất của bản sắc văn hóa Việt Nam.
Người Khmer có một nền văn hoá nổi trội và mang những đặc tính văn
hoá riêng có và nó được đúc rút từ đời sống văn hoá của người dân. Văn hóa
Khmer là nền văn hóa lâu đời được tích hợp trên nền tảng văn hóa nông
nghiệp lúa nước là chính và Phật giáo trở thành tôn giáo của toàn dân tác
động, chi phối hầu như toàn bộ mọi mặt trong đời sống cư dân, cả đối với đời
sống văn hóa vật chất lẫn đời sống văn hóa tinh thần, tâm linh và các thiết chế
chính trị - xã hội cổ truyền của người Khmer. Được thể hiện rõ nét qua hình
ảnh là những ngôi chùa được trang hoàng nguy nga lộng lẫy với lối kiến trúc
cổ kín độc đáo đạt đến trình độ nghệ thuật điêu luyện sắc sảo, mà còn có
nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật phong phú đa dạng khác thể hiện sự sáng
tạo độc đáo, tạo nên giá trị văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa
dân tộc.
2
Trong nền văn hóa ấy, lễ hội là một điểm nhấn và hết sức nổi bật riêng
của dân tộc Khmer. Tại các lễ hội của đồng bào Khmer, có thể cảm nhận thấy
rõ rất nhiều khía cạnh khác nhau, và hầu như tất cả lễ hội của người Khmer
đều gắn chặt với Phật giáo, đậm nét nhất là những lễ hội mang đậm dấu ấn
truyền thống, tôn giáo và có sự cuốn hút đến khó cưỡng.
Đối với người dân Khmer thì có nhiều lễ hội khác nhau diễn ra trong
năm, trong số đó có thể kể đến một số lễ hội nổi bật như lễ hội năm mới, lễ
hội cúng ông bà, lễ cúng trăng. Trong số những lễ hội đó, có lẽ lễ hội Ok Om
Bok là lễ hội nổi tiếng, thu hút được nhiều người dân Khmer cũng như các
dân tộc khác tham gia và hưởng ứng nhiệt tình. Lễ hội Ok Om Bok nó mang
những nét độc đáo riêng có.
Thông qua lễ hội Ok Om Bok họ gửi gắm những tâm tư, nguyện vọng
và ước mơ của mình vào một tương lai tốt đẹp; không những thế lễ hội còn
góp phần thực hiện tình đoàn kết thương yêu nhau, thể hiện giá trị xã hội rõ
nét, cố kết cộng đồng gắn chặt với phum sóc và ngôi chùa, đồng thời góp
phần vào bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc cho
các thế hệ mai sau.
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xu thế hội
nhập ở nước ta hiện nay, một trong những vấn đề bức xúc được đặt ra là bảo
tồn, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc. Chỉ thị số
68/CT-TW của Ban Bí thư về công tác ở vùng đồng bào Khmer đã chỉ rõ:
“Tôn trọng, bảo vệ và phát huy di sản văn hóa chùa chiền Khmer kết hợp với
nội dung văn hóa mới. Ở những chùa có những điều kiện, xây dựng chùa
thành những Trung tâm văn hóa thông tin, hướng dẫn thực hiện nếp sống mới
cho đồng bào Khmer ở phum, sóc… nghiên cứu đưa một số chùa Khmer có ý
nghĩa tiêu biểu về lịch sử-văn hóa vào danh mục xếp hạng của Nhà nước”.
3
Từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lễ hội
Khmer Nam Bộ, đặc biệt là các lễ hội truyền thống của người Khmer. Tuy
nhiên lĩnh vực lễ hội Ok Om Bok của người Khmer Nam bộ nói chung và
cộng đồng dân tộc Khmer tại Bạc Liêu nói riêng vẫn chưa được nhiều nhà
nghiên cứu có quan tâm, từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Quản lý
lễ hội Ok Om bok của người Khmer ở thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu”
làm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Văn hoá.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Các công trình nghiên cứu về lý luận và các loại hình lễ hội của
Việt Nam
"Lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại" là một tác phẩm của tác giả
Đinh Gia Khánh, xuất bản vào năm 1993. Tác phẩm tập trung vào việc khám
phá vai trò và ý nghĩa của các lễ hội truyền thống trong một xã hội đương đại.
Tác giả Đinh Gia Khánh đặt câu hỏi về tình hình thay đổi của các lễ hội
truyền thống trong một xã hội đang tiến bộ và công nghiệp hóa. Ông phân
tích sự thay đổi trong cách thức tổ chức và ý nghĩa của các lễ hội truyền thống
trước và sau cách mạng công nghiệp. Trong tác phẩm, Đinh Gia Khánh cũng
tìm hiểu tác động của sự tiến bộ công nghệ và thay đổi xã hội lên các lễ hội
truyền thống. Ông đặt câu hỏi về việc liệu các lễ hội này có còn đáp ứng được
nhu cầu tâm linh, văn hóa và cộng đồng trong xã hội hiện đại hay không. Tác
phẩm đề cập đến một số lễ hội truyền thống Việt Nam và những thay đổi mà
chúng đã trải qua. Tác giả cung cấp các ví dụ về sự thay đổi trong ngữ cảnh
và tầm quan trọng của các lễ hội như Lễ hội mùa Xuân, Lễ hội Trung Thu và
Lễ hội Tết Nguyên Đán. Tuy nhiên, tác phẩm không chỉ tập trung vào sự thay
đổi mà còn nhấn mạnh vào giá trị và ý nghĩa văn hóa của các lễ hội truyền
thống. Tác giả khám phá cách mà các lễ hội này có thể tiếp tục tồn tại và phát
triển trong một xã hội hiện đại thông qua việc tạo ra các hình thức và nội
dung mới.
4
"Công trình '60 Lễ hội truyền thống'" là một tác phẩm của hai tác giả
Thạch Phương và Lê Trung Vũ, xuất bản vào năm 1995. Tác phẩm này tập
trung vào việc giới thiệu và tóm tắt về 60 lễ hội truyền thống đặc biệt và đa
dạng của Việt Nam. Công trình này bao gồm một tập hợp các lễ hội truyền
thống được tổ chức khắp cả nước từ Bắc vào Nam, bắt đầu từ tháng 1 đến
tháng 12. Các lễ hội được tìm hiểu và trình bày theo thứ tự thời gian trong
năm. Mỗi lễ hội trong cuốn sách được mô tả với các thông tin về nguồn gốc,
lịch sử, quy trình và các hoạt động trong lễ hội. Các tác giả cũng đề cập đến
các truyền thống, nghi lễ, và ý nghĩa văn hóa đặc trưng của từng lễ hội. Công
trình giúp độc giả hiểu rõ hơn về sự đa dạng và sự phong phú của các lễ hội
truyền thống ở Việt Nam, cung cấp cho đọc giả một cái nhìn tổng quan về các
nét văn hóa đặc sắc của đất nước.
"Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam" là một tác phẩm của tác
giả Hoàng Lương, được xuất bản vào năm 2002. Tác phẩm này tập trung vào
việc nghiên cứu và tóm tắt về các lễ hội truyền thống đa dạng và đặc biệt của
các dân tộc Việt Nam. Tác giả Hoàng Lương khám phá và trình bày về lễ hội
của các dân tộc Việt Nam thông qua việc khảo sát, tìm hiểu và sưu tầm thông
tin từ các nguồn tư liệu đa dạng. Tác phẩm giới thiệu và mô tả về các lễ hội
của các dân tộc khác nhau trên khắp đất nước, từ miền Bắc đến miền Nam và
từ vùng núi cao đến vùng đồng bằng. Mỗi lễ hội trong tác phẩm được tường
thuật với các thông tin về nguồn gốc, lịch sử, nghĩa cử, và các hoạt động
chính trong lễ hội. Tác giả cũng nhấn mạnh đến ý nghĩa văn hóa, tín ngưỡng
và sự gắn kết cộng đồng mà các lễ hội mang lại cho dân tộc. Qua tác phẩm,
độc giả có cơ hội hiểu rõ hơn về sự đa dạng và sự phong phú của các lễ hội
truyền thống của các dân tộc Việt Nam. Các nghi lễ, truyền thống và quan
niệm tâm linh đặc trưng được đề cập, cung cấp cho người đọc một cái nhìn
sâu sắc về bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc.
5
"Lễ hội và nhân sinh" là một tác phẩm của tác giả Đặng Văn Lung,
được xuất bản vào năm 2005. Tác phẩm này tập trung vào việc khám phá và
tìm hiểu về mối liên hệ giữa lễ hội và cuộc sống con người. Tác giả Đặng Văn
Lung xem xét lễ hội như một phần quan trọng của văn hóa dân gian và xã hội.
Ông nghiên cứu sự phát triển và biến đổi của lễ hội trong quá trình tiến hóa xã
hội. Tác phẩm trình bày các ý kiến và quan điểm về tầm quan trọng của lễ hội
trong việc gắn kết cộng đồng, bảo tồn văn hóa và thể hiện giá trị nhân sinh.
Đặng Văn Lung khám phá cách mà lễ hội ảnh hưởng đến nhân sinh, đó là sự
gắn kết giữa con người và tổ tiên, giữa người dân và đất nước, và giữa người
với nhau. Ông nhấn mạnh rằng lễ hội không chỉ là một sự kiện vui chơi giải
trí, mà còn là cơ hội để con người tìm thấy ý nghĩa sống và giữ vững những
giá trị truyền thống. Tác phẩm cũng thảo luận về tác động của công nghệ và
sự phát triển xã hội đến lễ hội truyền thống. Tác giả đặt câu hỏi về sự thay đổi
và mất mát của một số lễ hội truyền thống trong thời đại hiện đại và cách tìm
kiếm giải pháp để bảo tồn và phát triển các lễ hội này. Tóm lại, "Lễ hội và
nhân sinh" của Đặng Văn Lung là một tác phẩm nghiên cứu về mối liên hệ
giữa lễ hội và cuộc sống con người. Tác phẩm này tập trung vào tầm quan
trọng của lễ hội trong việc gắn kết cộng đồng, bảo tồn văn hóa và thể hiện giá
trị nhân sinh. Tác giả đặt câu hỏi về sự thay đổi và bảo tồn của lễ hội trong
thời đại hiện đại và tìm kiếm giải pháp cho vấn đề này.
"Công trình Lễ hội Việt Nam" là một tác phẩm do hai tác giả Lê Trung
Vũ và Lê Hồng Lý đồng chủ biên, được xuất bản vào năm 2005. Tác phẩm
này tập trung vào việc nghiên cứu và trình bày về các lễ hội truyền thống đặc
biệt của Việt Nam. Trong tác phẩm này, các tác giả tổng hợp và trình bày về
lễ hội của Việt Nam từ các dân tộc và vùng miền khác nhau trong cả nước.
Các lễ hội được trình bày theo thứ tự thời gian trong năm, mang lại cái nhìn
tổng quan về đa dạng và sự phong phú của lễ hội ở Việt Nam. Mỗi lễ hội
6
trong tác phẩm được mô tả với các thông tin về nguồn gốc, lịch sử, nghĩa cử,
và các hoạt động chính trong lễ hội. Các tác giả cung cấp các thông tin chi tiết
về cách tổ chức lễ hội, các truyền thống, tín ngưỡng và ý nghĩa văn hóa đặc
trưng của từng lễ hội. Tác phẩm cung cấp cho độc giả cái nhìn sâu sắc về văn
hóa dân gian, tín ngưỡng và sự gắn kết cộng đồng thông qua các lễ hội truyền
thống của Việt Nam. Ngoài ra, tác phẩm cũng tập trung vào việc bảo tồn và
phát triển các lễ hội truyền thống trong bối cảnh hiện đại và sự tiến bộ công
nghệ. Tóm lại, "Công trình Lễ hội Việt Nam" của Lê Trung Vũ và Lê Hồng
Lý là một tác phẩm tổng hợp và trình bày về các lễ hội truyền thống đặc biệt
của Việt Nam. Tác phẩm này giúp người đọc hiểu rõ hơn về đa dạng và sự
phong phú của lễ hội ở Việt Nam và mang lại cái nhìn sâu sắc về văn hóa dân
gian, tín ngưỡng và sự gắn kết cộng đồng thông qua các lễ hội truyền thống.
"Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội" là một tác phẩm của tác
giả Lê Hồng Lý, được xuất bản vào năm 2008. Tác phẩm này tập trung vào
việc nghiên cứu và trình bày về cách mà kinh tế thị trường ảnh hưởng đến lễ
hội truyền thống. Trong tác phẩm này, tác giả Lê Hồng Lý khám phá sự tác
động của quá trình phát triển kinh tế thị trường và sự tiến bộ công nghệ đối
với các lễ hội truyền thống. Ông tìm hiểu và phân tích cách mà yếu tố kinh tế,
thương mại, và sự thay đổi xã hội ảnh hưởng đến tổ chức và ý nghĩa của các
lễ hội. Tác giả đặt câu hỏi về sự thay đổi trong cách tổ chức lễ hội và các hoạt
động liên quan khi xã hội chuyển từ kinh tế truyền thống sang kinh tế thị
trường. Ông nêu rõ rằng áp lực của kinh tế thị trường, sự tham gia của các
công ty và nhà tài trợ, cũng như mục đích thương mại có thể thay đổi bản chất
và tư tưởng của một số lễ hội truyền thống. Tác phẩm cung cấp những ví dụ
và nghiên cứu về các trường hợp cụ thể, thể hiện sự tác động của kinh tế thị
trường lên các khía cạnh của lễ hội như tổ chức, nghệ thuật, giá trị văn hóa, và
tham gia của cộng đồng. Tác giả cũng đề xuất các biện pháp để bảo tồn và cân
7
nhắc sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo tồn các giá trị văn hóa trong
các lễ hội truyền thống. Tóm lại, "Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ
hội" của Lê Hồng Lý là một tác phẩm nghiên cứu về cách mà kinh tế thị
trường ảnh hưởng đến lễ hội truyền thống. Tác phẩm này tập trung vào sự
thay đổi trong tổ chức và ý nghĩa của các lễ hội dưới sự tác động của kinh tế
thị trường và các yếu tố liên quan
2.2. Các nghiên cứu liên quan đến lễ hội Ok Om Bok của người Khmer
Hiện nay, đã có hàng trăm công trình, bài viết về văn hóa Khmer, là tư
liệu quý giá cho những ai cần tìm hiểu, nghiên cứu về người Khmer. Để làm
cơ sở kế thừa các tư liệu đã có nghiên cứu gần và xa với đề tài, tôi xin điểm
qua những công trình như sau:
- Tiêu biểu là công trình “Người Việt gốc Miên” (1969) của Lê Hương.
“Tác giả đã sưu tầm và giới thiệu về nguồn gốc, dân số, sinh hoạt, xã hội,
phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng của người Khmer Nam Bộ trước
năm 1975. Đây có thể được xem là một công trình biên khảo khá đầy đủ giới
thiệu được diện mạo văn hóa truyền thống của người Khmer sinh sống ở
ĐBSCL. Đây cũng là tài liệu đầu tiên nghiên cứu về lễ hội một cách có hệ
thống từ thời gian tổ chức, nguồn gốc lễ hội và quy trình tổ chức những nghi
lễ của người Khmer Nam Bộ xưa”
- “Phong tục, nghi lễ và tranh ký tự dân tộc Khmer Nam Bộ" (2012)
của tác giả Sang Sết “là một công trình nghiên cứu có hệ thống, góp phần
vào việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy vốn văn hóa - văn nghệ dân gian và lễ
nghi quý báu của đồng bào Khmer, Tác giả đã giới thiệu khái quát những
phong tục, nghi lễ và những tranh ký tự truyền thống của người Khmer.
Từ đó người đọc có thể thấy giá trị văn hóa Khmer ẩn chứa bởi từng nghi
thức, phong tục và trong tranh ký tự được thể hiện trên tường, cổng,
mái…của ngôi chùa Khmer”.
8
- Tiếp đó Nguyễn Mạnh Cường với công trình “ Vài nét về người
Khmer Nam bộ” NXB Khoa học và xã hội, năm 2002, cũng có một nghiên
cứu khái quát về mặt đời sống người Khmer Nam bộ như tôn giáo, phong tục
tập quán, lễ hội, các yếu tố văn hóa vật thể, phi vật thể.
- “Lễ hội dân gian của người Khmer Nam Bộ”, của 02 tác giả Lâm
Quang Vinh và Tiền Văn Triệu đã hợp soạn công trình do NXB Khoa học Xã
hội ấn hành 2015. Tác giả “khái quát về người Khmer Nam Bộ, mô tả lễ hội
truyền thống của người đó, hai nhà nghiên cứu về Lễ hội truyền thống của
người Khmer như: Ok-Om-bok, Sên Đolta, Chol Chhnam Thmây và những lễ
hội đặc trưng ở nhiều địa phương như: Lễ hội Phước biển, Lễ hội cầu an, Lễ
hội Đạp Cồng - thác Côn, Lễ hội Đua bò, Lễ cúng Neak Tà đồng thời tác giả
cụ thể hóa qua các luận điểm lớn như: Hệ thống nghi lễ qua lễ hội và những
giá trị văn học dân gian cần giữ gìn qua lễ hội”.
Điểm qua lịch sử nghiên cứu vấn đề, có thể thấy rằng văn hóa người
Khmer Nam Bộ đang được nhiều nhà nghiên cứu có quan tâm và không ít
công trình có giá trị, trong đó có lễ hội Ok Om Bok mang đậm màu sắc tôn
giáo vẫn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống và khoa học. Chính vì
đều này, việc nghiên cứu lễ hội Ok Om Bok của người Khmer tỉnh Bạc Liêu
nói chung và Thành phố bạc Liêu nói riêng là hết sức cần thiết, nhằm giới
thiệu và cung cấp những thông tin góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học
cho việc đề xuất những định hướng và giải pháp bảo tồn và phát huy bền
vững nền văn hóa của người Khmer trong cộng đồng văn hóa Việt Nam
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu quản lý lễ hội truyền thống Ok Om Bok của cộng đồng dân
tộc Khmer ở thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, trên cơ sở đó đề xuất giải
9
pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội Ok Om Bok tại thành
phố Bạc Liêu trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa tài liệu liên quan đến quản lý lễ hội truyền thống
- Khái quát về lễ hội Ok Om Bok của đồng bào dân tộc Khmer và làm
rõ vai trò, giá trị của lễ hội Ok Om Bok
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý lễ hội Ok Om Bok của đồng bào
dân tộc Khmer ở thành phố Bạc Liêu hiện nay
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý lễ hội Ok Om Bok
của đồng bào dân tộc Khmer ở thành phố Bạc Liêu trong bối cảnh hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quản lý lễ hội Ok Om Bok tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu hoạt động quản lý lễ hội Ok Om Bok
tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu từ năm 2015 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để làm rõ đối tượng nghiên cứu và thực hiện nhiệm vụ của đề tài, trong
quá trình triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi chọn các phương
pháp: Trong quá trình thực hiện luận văn vận dụng các quan điểm tiếp cận
liên ngành: nghiên cứu sử dụng một số kiến thức của các ngành khác như dân
tộc học, nhân học, xã hội học... nhằm làm rõ đối tượng nghiên cứu và trong
suốt thời gian nghiên cứu luận văn sử dụng các phương pháp như sau:
- Phương pháp chuyên gia. Đây là phương pháp một khảo về lễ Ok Om
Bok của người Khmer tỉnh Bạc liêu (Nghiên cứu trường hợp thành phố Bạc
Liêu), giúp người nghiên cứu hiểu rõ và có thông tin chi tiết, đầy đủ về các góc
10
độ khác nhau của lễ hội, từ đó có cái nhìn khái quát về những biến đổi văn hóa
cũng như vai trò của lễ hội trong đời sống cộng đồng của người Khmer.
- Phương pháp điền dã dân tộc học, với hai hình thức quan sát tham dự và
phỏng vấn sâu: nhằm thực hiện phỏng vấn sâu với các đối tượng là những gia
đình người Khmer có tổ chức lễ hội này, các vị sư sãi, achar, ban quản trị và bà
con Khmer tham gia lễ hội. Cùng với việc quan sát tham dự trực tiếp vào lễ hội
để tìm ra đặc điểm, ý nghĩa, mục đích, những điểm chung và riêng, sự biến đổi,
xu hướng phát triển của lễ hội hiện nay ở các hộ gia đình người Khmer.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa các tư liệu, dựa vào
kết quả điều tra phỏng vấn sâu và các nguồn tư liệu khác nhau về lễ hội Ok
Om Bok để đi sâu vào phân tích, các giá trị, đặc điểm của lễ hội Ok Om Bok
của người Khmer tỉnh Bạc liêu (Nghiên cứu trường hợp thành phố Bạc Liêu)
nhằm làm nổi bật nội dung mà luận văn có đề cập một cách có hệ thống và
khoa học. Sau đó tổng hợp lại vấn đề nghiên cứu.
- Để cuộc khảo sát có độ tin cậy cao, chúng tôi đã tiến hành những cuộc
thăm dò xã hội học, đối với một số vấn đề thông qua các bảng hỏi liên quan
về lễ hội Ok Om Bok, tập trung vào đối tượng như Sư sãi, người cao niên,
trung niên và thanh niên Khmer trên địa bàn Thành phố Bạc Liêu.
6. Ngững đóng góp của luận văn
6.1. Về mặt khoa học
Đề tài vận dụng các lý thuyết về văn hóa, để nhận định những giá trị
văn hóa đặc sắc trong lễ hội của người Khmer nói chung mà cụ thể là Lễ hội
Ok Om Bok. Thông qua việc giới thiệu ý nghĩa và miêu tả diễn trình của Lễ -
Hội luận văn góp phần tư liệu hóa với mục đích bảo tồn các giá trị truyền
thống của Lễ hội Ok Om Bok đang có xu hướng biến đổi với hy vọng có thể
đóng góp thêm tư liệu trong việc nghiên cứu văn hóa phong tục của người
Khmer ở Thành Phố Bạc Liêu.
11
6.2. Về thực tiễn
Đề tài hy vọng có thể đóng góp thêm tư liệu trong việc nghiên cứu văn
hóa phong tục của người Khmer ở Thành Phố Bạc Liêu. Bên cạnh đó, việc
nghiên cứu Lễ hội Ok Om Bok từ góc nhìn văn hóa học để thấy những giá trị
cốt lõi, bản chất của hiện tượng nhằm đề xuất những giải pháp phát huy tiềm
năng, lợi thế văn hóa địa phương song song với việc bảo tồn giá trị văn hóa
tộc người Khmer.
7. Bố cục luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn bao gồm 03 chương như sau:
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về công tác quản lý lễ hội truyền thống và tổng
quan lễ hội Ok Om Bok
Chƣơng 2. Thực trạng quản lý lễ hội Ok Om Bok ở Thành Phố Bạc Liêu
Chƣơng 3. Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả
công tác quản lý lễ Hội Ok Om Bok
12
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
VÀ TỔNG QUAN LỄ HỘI OK OM BOK
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Lễ, hội
1.1.1.1. Khái niệm
Cho đến nay, có nhiều cách gọi và sự giải thích khác nhau về thuật ngữ
lễ - hội. “Có người gọi lễ hội là hội lễ, có người lại gọi là hội hè hay hội hè
đình đám, có người lại gọi là lễ, lễ tết... Rõ ràng, lễ hội là thuật ngữ ghép bởi
lễ và hội; hai thuật ngữ này có nội hàm và tính chất, tổ chức quy trình có khác
nhau nhưng bổ sung, hỗ trợ và cùng hoàn thiện lẫn nhau. Và cũng có nhiều
trường hợp là một tổ hợp từ lễ hội có mối liên quan với nhau, không tách rời
nhau, nhưng có trường hợp chỉ có lễ, không có hội hoặc ngược lại. Tuy cách
gọi và cách diễn đạt khác nhau nhưng các ý kiến đều không mâu thuẫn trong
nội dung: Lễ hội là sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của
cả cộng đồng, là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức lễ tế và trò diễn…”
[8, tr.4]. Như vậy, lễ hội là tập hợp của 2 từ ghép: Lễ và Hội, trong đó:
- Lễ: Theo từ điển tiếng Việt, lễ là “những nghi thức tiến hành nhằm
đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó. Trong thực tế,
lễ có nhiều ý nghĩa và có một lịch sử hình thành khá phức tạp. Lễ là một hệ
thống nghi thức, một hệ thống hành vi, động tác, sự kiện có định ước, quy
cách chặt chẽ và ổn định. Lễ ở trong hội không đơn lẻ mà là một hệ thống liên
kết có trật tự, cùng hỗ trợ nhau và có tính ổn định cao” [7, tr.61].
- Hội: “Hội là cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo mọi người dự, theo
phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt” [12, tr.495]. Hội là đám vui đông người,
trong một địa điểm và vui chơi với nhau, nhưng phải mang những yếu tố như:
13
• Được tổ chức nhân dịp kỷ niệm một sự kiện quan trọng nào đó và có
liên quan đến cộng đồng dân cư.
• Nhằm đem lại lợi ích tinh thần cho mọi thành viên của cộng đồng,
mang tính cộng đồng cả tư cách tổ chức lẫn mục đích của nó, có khi tính cộng
đồng đó được mở rộng đến quy mô làng, liên làng, liên vùng…
1.1.1.2. Lễ hội truyền thống
Nội hàm này là sự tập hợp giữa hai khái niệm: lễ hội và truyền thống.
“Nếu lễ hội được hiểu theo nghĩa tiếng Việt là sinh hoạt văn hóa tinh thần của
một cộng đồng dân cư nhằm thỏa mãn nhu cầu tôn kính thần linh bằng các lễ
nghi, nghi thức tế lễ và những trò chơi có mối quan hệ với tín ngưỡng và lễ
nghi đó, thì truyền thống là những tập tục, thói quen được hình thành từ lâu
đời trong lối sống và nếp nghĩ của con người được truyền lại từ thế hệ này
sang thế hệ khác” [7, tr.56]. Vì vậy, lễ hội truyền thống được hiểu là những
sinh hoạt văn hóa dưới hình thức lễ tế và trò chơi được lưu truyền lâu đời
trong một cộng đồng dân cư.
1.1.1.3. Biến đổi lễ hội
Biến đổi lễ hội là tập hợp hai nội hàm: biến đổi và lễ hội. Biến đổi là sự
phản ánh một hiện tượng (quá trình) nào đó không lặp lại trạng thái trước đó,
có nghĩa là làm khác đi, làm khác cách mà trước vẫn làm, thì lễ hội như đã đề
cập ở trên là những sinh hoạt văn hóa dưới hình thức lễ tế và trò chơi. Vì vậy,
biến đổi lễ hội được hiểu là quá trình thay đổi một phần hoặc toàn bộ (trong
trường hợp lãng quên, xuất hiện loại hình lễ hội mới) các sinh hoạt của đời
sống lễ hội truyền thống.
1.1.2. Quản lý và quản lý lễ hội
Về khái niệm quản lý, tác giả Cao Đức Hải quan niệm: “Quản lý là
hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến
14
khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt
được mục đích của tổ chức” [21, tr.23].
Tác giả Hoàng Nam cho rằng:
“Quản lý là một khoa học, dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát
triển của các đối tượng khác nhau, quy luật tự nhiên và quy luật xã hội, đồng
thời, quản lý còn là một nghệ thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức xã hội, tự nhiên
hay kỹ thuật… những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động
có mục tiêu, có kế hoạch, và được thực hiện qua những thể chế xã hội đặc
biệt” [29, tr.107].
Tác giả Nguyễn Đình Toàn trong “Giáo trình xã hội học trong quản lý”
NXB Học viện chính trị quốc gia HCM thì cho rằng “Quản lý là quá trình tác
động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể lên đối tượng theo một quy
trình nhất định nhằm đạt được hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đặt ra” [22, tr.352].
Quản lý, trong ngữ cảnh này, đồng nghĩa với việc sử dụng quyền lực để
điều chỉnh các hoạt động và quan hệ xã hội trong một cách tổ chức, điều
khiển và kiểm soát. Trong lĩnh vực văn hóa, quản lý nhà nước là việc sử dụng
quyền lực của chính phủ để điều hành các hoạt động văn hóa, bao gồm cả các
lễ hội, nhằm duy trì và phát triển giá trị văn hóa truyền thống. Đồng thời, qua
quá trình này, các giá trị mới cũng được tạo ra, đồng thời hấp thụ và kết hợp
với tinh hoa văn hóa của nhân loại, góp phần xây dựng bản sắc dân tộc và
nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân.
- Quản lý lễ hội
Theo Bùi Hoàng Sơn, 2018 thì “Quản lý di sản nói chung, lễ hội nói
riêng là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ
chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm
Pháp luật về lễ hội truyền thống nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những
giá trị văn hoá của lễ hội được cộng đồng coi trọng, đồng thời góp phần phát
triển kinh tế xã hội [34, tr.15].
15
Từ các phân tích trên tác giả rút ra: “Quản lý lễ hội là quá trình thực
hiện các hoạt động của Nhà nước thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện,
kiểm tra và giám sát việc tuân thủ các quy định pháp luật về lễ hội truyền
thống. Mục tiêu của quản lý lễ hội là bảo tồn và phát huy những giá trị văn
hóa của lễ hội được cộng đồng coi trọng, đồng thời góp phần phát triển kinh
tế và xã hội. Hoạt động quản lý lễ hội được hiểu như việc kiểm tra, giám sát
và điều hành từ các cơ quan chức năng Nhà nước ở cấp trên xuống cấp dưới,
thông qua các chính sách cụ thể trong lĩnh vực lễ hội. Quản lý là một phương
thức hoạt động có ý nghĩa của con người, bao gồm việc huy động, tổ chức và
điều hành các nguồn lực của chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã định
trước. Từ quan niệm này, quản lý lễ hội được hiểu như sự tác động liên tục,
có tổ chức và có chủ đích từ chủ thể quản lý lễ hội lên đối tượng quản lý
nhằm đạt được mục tiêu mà chủ thể đã đặt ra”
- Quản lý nhà nước về lễ hội
Quản lý lễ hội bao gồm quản lý nhà nước và các hình thức quản lý khác
đối với hoạt động lễ hội. Quản lý nhà nước về lễ hội là quá trình sử dụng các
công cụ quản lý như chính sách, pháp luật, tổ chức bộ máy vận hành, và các
nguồn lực khác để kiểm soát và can thiệp vào các hoạt động của lễ hội. Điều
này được thực hiện thông qua các phương thức tổ chức thực hiện thanh tra,
kiểm tra và giám sát nhằm duy trì việc thực hiện hệ thống chính sách và các
văn bản pháp quy của nhà nước, nhằm mục đích bảo tồn và phát triển lễ hội
theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước.
Quản lý nhà nước về lễ hội là sự tác động liên tục, có tổ chức và có chủ
đích của nhà nước thông qua hệ thống pháp luật và bộ máy nhằm điều chỉnh
hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia vào hoạt động lễ hội
và các vấn đề liên quan.
Trong quá trình quản lý nhà nước về lễ hội, mục đích là giữ gìn và phát
huy những giá trị của lễ hội, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
16
đà bản sắc dân tộc và góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân.
Chủ thể quản lý nhà nước về lễ hội là nhà nước, tổ chức thống nhất từ
trung ương đến địa phương. Quyền quản lý được phân cấp từ cấp trung ương
đến cấp tỉnh, huyện và xã. Vì vậy, cơ quan nhà nước tại mỗi cấp là chủ thể
quản lý lễ hội tương ứng.
Khách thể quản lý nhà nước về lễ hội là lễ hội cùng với các cơ quan, tổ
chức và cá nhân tham gia hoặc liên quan đến hoạt động lễ hội. Khách thể
quản lý lễ hội bao gồm nhiều hoạt động như giữ gìn di sản văn hóa vật thể và
phi vật thể, nghi thức lễ hội, cung cấp các dịch vụ văn hóa và các hoạt động
liên quan khác.
Phương thức quản lý lễ hội là một quá trình tác động liên tục, có tổ
chức và có chủ đích, không chỉ là một công việc tạm thời. Nó đòi hỏi sự chủ
động và là hoạt động của một tập thể.
Cán bộ đảm nhiệm công tác quản lý nhà nước về lễ hội cần trả lời
những câu hỏi cụ thể: ai là người quản lý, quản lý những đối tượng nào và
quản lý những khía cạnh nào của hoạt động lễ hội. Họ sử dụng các công cụ và
phương pháp quản lý như chính sách, pháp luật và tổ chức bộ máy để thực
hiện nhiệm vụ quản lý này.
1.2. Quan điểm, chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc
1.2.1. Văn bản của Trung Ương về quản lý lễ hội
1.2.2.1. Văn bản của Đảng
Trong lĩnh vực quản lý văn hoá, Đảng đã phát hành một số văn bản
quan trọng nhằm hướng dẫn và điều chỉnh các hoạt động văn hoá, bao gồm
cưới, tang, lễ hội và công tác tôn giáo. Dưới đây là phân tích về các văn bản
của Đảng trong lĩnh vực này:
Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12 tháng 1 năm 1998 của Bộ Chính trị về
thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang: Văn bản này đã đề ra
17
các nguyên tắc và quy định về nếp sống văn minh trong các hoạt động cưới,
tang. Nội dung của chỉ thị nhấn mạnh việc thực hiện các quy định văn hóa,
đạo đức và truyền thống của dân tộc trong các nghi lễ cưới, tang, đồng thời
chống lại những hành vi phung phí, hoang phí và kiêu căng.
Kết luận số 51-KL/TW ngày 22 tháng 7 năm 2009 của Bộ Chính trị về
việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 27-CT/TW: Văn bản này khẳng định sự tiếp tục
thực hiện Chỉ thị 27-CT/TW và đề xuất việc tăng cường kiểm tra, giám sát,
cũng như xử lý nghiêm các vi phạm liên quan đến nếp sống văn minh trong
việc cưới, việc tang và lễ hội.
Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI: Trong văn kiện
này, Đảng đặt ra mục tiêu về chăm lo văn hoá, đồng thời nhấn mạnh việc thực
hiện giáo dục, bồi dưỡng đạo đức và lối sống có văn hoá. Đảng cũng khuyến
nghị xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội để giữ
gìn và phát triển giá trị truyền thống của văn hoá Việt Nam.
Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 05 tháng 02 năm 2015 của Ban Bí thư về
việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý và tổ chức lễ hộ
Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9 tháng 6 năm 2014 của Hội nghị
Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt
Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước: Nghị quyết này đặt ra
mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam theo hướng đáp
ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Điều này bao gồm việc đẩy
mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng đạo đức và lối sống có văn hoá, tạo sức đề
kháng đối với các sản phẩm độc hại và góp phần giữ gìn và phát triển giá trị
truyền thống của văn hoá, con người Việt Nam.
Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về
công tác tôn giáo; Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 10/01/2018 của Bộ Chính trị về
tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo trong tình
18
hình mới: Hai văn bản này nhấn mạnh vai trò và tầm quan trọng của công tác
tôn giáo trong xã hội, đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác này.
Các văn bản này khuyến khích việc thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ
biến và giáo dục về tôn giáo, đồng thời tuân thủ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và
quy định chi tiết liên quan.
Tổng quan, các văn bản của Đảng trong lĩnh vực quản lý văn hoá đề
cao vai trò quản lý và phát triển văn hoá, con người Việt Nam. Chúng khuyến
khích nếp sống văn minh trong các hoạt động cưới, tang, lễ hội và góp phần
duy trì và phát triển giá trị truyền thống của văn hoá Việt Nam. Đồng thời,
các văn bản này cũng nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác
quản lý văn hoá, tổ chức lễ hội và công tác tôn giáo. Qua đó, Đảng đang đề
cao ý thức trách nhiệm và tầm nhìn chiến lược để xây dựng một xã hội văn
minh, bền vững và phát triển.
1.2.2.2. Văn bản ch đạo Quốc ội, h nh phủ
Các văn bản của Chính Phủ và Quốc Hội trong lĩnh vực quản lý văn
hoá mang tính chất pháp quy, nhằm xác định và hướng dẫn các hoạt động
quản lý, tổ chức và bảo vệ văn hoá, di sản văn hóa, tôn giáo, lễ hội, cũng như
nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang.
Trong lĩnh vực di sản văn hóa, Luật di sản văn hóa ngày 29 tháng 6
năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa ngày
18 tháng 6 năm 2009 là những văn bản quan trọng. Chúng xác định quản lý,
bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa của đất nước, đồng thời gắn kết văn
hóa với phát triển bền vững. Qua đó, những văn bản này định rõ trách nhiệm
và quyền hạn của các cơ quan chức năng, tổ chức và cá nhân liên quan đến
việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa.
Trong lĩnh vực tôn giáo, Luật số 02/2016/QH14 ngày 18 tháng 11 năm
2016 về Tín ngưỡng Tôn giáo cùng với Pháp lệnh số 21/2004/PLUBTVQH11
19
ngày 18 tháng 6 năm 2004 và Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01 tháng 3
năm 2005 là những văn bản quy định về tự do tín ngưỡng, quản lý và hoạt
động tôn giáo. Chúng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời định rõ các
quy định và biện pháp cụ thể để đảm bảo an ninh, trật tự và đoàn kết trong
hoạt động tôn giáo.
Trong lĩnh vực tổ chức lễ hội và công tác quản lý văn hoá, có nhiều văn
bản quan trọng như Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 6 tháng 11 năm
2009 về Quy chế hoạt động dịch vụ văn hoá công cộng, Nghị định số
158/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2013 về xử phạt vi phạm hành chính
trong hoạt động văn hoá, thể thao, du lịch và quảng cáo, Quyết định số
308/2005/QĐ-TTg ngày 25/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế
thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, Chỉ thị số
14/1998/CT-TTg ngày 28 tháng 3 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về
thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, Công điện
số 162/CĐ-TTg ngày 09 tháng 02 năm 2011, Công điện số 229/CĐ-TTg ngày
12 tháng 02 năm 2015 và Công điện số 2239/CĐ-TTg ngày 2 tháng 12 năm
2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý và tổ chức lễ hội, và Chỉ thị số
06/CT-TTg ngày 20 tháng 02 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc
tăng cường công tác quản lý, tổ chức lễ hội, lễ kỷ niệm.
1.2.2.3. Văn bản của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
- Thông tư số 09/2010/TT-BVHTTDL ngày 24 tháng 8 năm 2010 của
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết thi hành một số
quy định tại Nghị định số 75/2009/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2010 quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hoá.
- Chỉ thị số 16/CT-BVHTTDL ngày 3 tháng 2 năm 2010 của Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch về tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý hoạt động
văn hoá, tín ngưỡng tại di tích.
20
- Chỉ thị số 265/CT-BVHTTDL ngày 18 tháng 12 năm 2012 của Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc tăng cường công tác quản lý, tổ chức và
thực hiện nếp sống văn minh trong hoạt động lễ hội…
- Thông tư số 04/2011/TT-BVHTTDL ngày 21 tháng 01 năm 2011 Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về việc thực hiện nếp sống
văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội.
- Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT ngày 30
tháng 12 năm 2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài nguyên và
Môi trường về việc Hướng dẫn bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, tổ
chức lễ hội, bảo vệ và phát huy giá trị di tích
- Thông tư số 15/TT-BVHTTDL ngày 22 tháng 12 năm 2015 của Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về tổ chức lễ hội.
- Chỉ thị số 04/CT-BVHTTDL ngày 13 tháng 01 năm 2016 về tăng
cường công tác quản lý, tổ chức lễ hội và thực hiện nếp sống văn minh trong
hoạt động lễ hội năm 2016.
1.2.2. Văn bản của địa phương về quản lý lễ hội
Ngày 22 tháng 12 năm 2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành
Công văn số 5546/UBND-KGVX về triển khai thực hiện công tác quản lý, tổ
chức lễ hội trên địa bàn tỉnh năm 2021. Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh giao nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ban, ngành cấp tỉnh; Ủy ban nhân dân
các huyện, thị xã, thành phố thực hiện một số nội dung cơ bản như sau:
Sở Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch có nhiệm vụ: Hướng dẫn
các địa phương thực hiện nghiêm các quy định về công tác quản lý, tổ chức lễ
hội, các quy định thực hiện nếp sống văn minh; không tổ chức các lễ hội có
hành vi phản cảm, các nghi lễ có tính bạo lực, mê tín dị đoan, cờ bạc... gây
mất an ninh trật tự. Không cấp phép tổ chức lễ hội có mục đích thương mại,
trục lợi... Tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong nhân dân nội dung Nghị định
21
số 110/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018 của Chính phủ quy định về quản lý và tổ
chức lễ hội; tiếp tục triển khai công tác rà soát, thống kê, phân loại lễ hội, lễ hội
văn hóa, lễ hội ngành nghề và lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài để có giải
pháp quản lý hiệu quả; phối hợp chặt chẽ với Sở Y tế và các cơ quan, Ban,
Ngành, Đoàn thể cấp tỉnh thường xuyên cập nhật, theo dõi tình hình dịch bệnh,
kịp thời thông tin đầy đủ, chính xác đến người dân và du khách; đẩy mạnh
công tác tuyên truyền tại lễ hội và di tích về các biện pháp phòng, chống dịch
bệnh Covid-19. Trong trường hợp dịch Covid-19 bùng phát, nguy cơ lây nhiễm
trong cộng đồng; căn cứ tình hình thực tế, phối hợp với các đơn vị có liên quan
thực hiện nghiêm biện pháp tạm dừng lễ hội theo đúng quy định tại Điều 8
Nghị định số 110/2018/NĐ- CP; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật để
các cấp, các ngành, nhân dân và du khách nâng cao ý thức, trách nhiệm thực
hiện nghiêm túc các quy định của Nhà nước về tổ chức lễ hội.
Ban Dân tộc và Tôn giáo: Hướng dẫn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
tại các cơ sở tín ngưỡng tôn giáo, các lễ hội diễn ra tại chùa Khmer, đình, các
cơ sở tín ngưỡng tôn giáo là di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh đã
được xếp hạng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
Công an tỉnh: Chỉ đạo Công an các huyện, thị xã, thành phố đảm bảo an
toàn giao thông, phòng, chống cháy nổ, an ninh trật tự cho nhân dân và du
khách tại các địa phương có tổ chức lệ hội.
Sở Y tế: Thực hiện công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm phục
vụ tại các cơ sở tổ chức lễ hội. Thường xuyên cập nhật, theo dõi tình hình
dịch bệnh và có biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19.
Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố: Tập trung tuyên truyền
các chủ trương, chính sách, các quy định hiện hành về tổ chức lễ hội, tuyên
truyền nguồn gốc, giá trị nội dung và ý nghĩa của lễ hội và di tích; kiểm tra
việc thực hiện quy định về tổ chức lễ hội, kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm
các hành vi vi phạm.
22
Ngoài ra, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị các tổ chức chính trị,
chính trị - xã hội đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội
viên thực hiện tốt những chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp
luật của Nhà nước về tổ chức và quản lý lễ hội; tiếp tục bảo tồn, phát huy
những giá trị truyền thống tốt đẹp, những di sản văn hóa của dân tộc; đồng
thời, nâng cao ý thức cảnh giác, kịp thời ngăn chặn tình trạng lợi dụng di tích,
nơi thờ tự, lễ hội đổ trục lợi, tuyên truyền mê tín dị đoan và tổ chức các hoạt
động trái pháp luật cũng như thực hiện các hủ tục lạc hậu tại lễ hội./.
1.3. Khái quát về ngƣời Khmer và lễ hội Ok Om Bok ở thành phố
Bạc Liêu
1.3.1. Khái quát về đồng bào dân tộc Khmer ở thành phố Bạc Liêu
Thành phố Bạc Liêu là một trong những địa phương tập trung đông
đồng bào Khmer sinh sống ở Việt Nam. Theo số liệu thống kê, hiện có
khoảng 74.000 người Khmer, chiếm tỷ lệ 7,8% dân số toàn tỉnh. Điều này
chứng tỏ đồng bào dân tộc Khmer có sự gắn bó mạnh mẽ với địa phương và
đóng góp quan trọng vào đa dạng văn hóa của Bạc Liêu.
Ở đồng bằng sông Cửu Long người ta gọi “phum sóc” để chỉ nơi cư trú
của người Khmer. Như vậy, dù cùng chung sống với người Việt và người Hoa
trong nhiều thế kỷ, nhưng nhờ sinh ra, lớn lên, làm ăn... trong phum sóc nên
người Khmer vẫn giữ đậm bản sắc văn hóa tộc người thể hiện ở hai yếu tố tôn
giáo và văn hóa. Nói cách khác, phum sóc là không gian xã hội người Khmer.
Người Khmer theo Phật do tiểu thừa, chỉ thờ Phật Thích ca Mâu ni.
Ngoài chức năng thờ Phật, ngôi chùa đối với họ còn là trung tâm văn hóa.
Người Khmer từ lúc sinh ra đến trưởng thành, về già rồi đến lúc nhắm
mắt xuôi tay, mọi vui buồn đều diễn ra và gắn bó với chùa. Do vậy, người
Khmer dù nghèo khó đều đâu vẫn phải xây dựng ngôi chùa khang trang. Mỗi
ngôi chùa là một công trình kiến trúc tiêu biểu mang giá trị văn hóa cao của
người Khmer.
23
Toàn tỉnh Bạc Liêu hiện có 22 ngôi chùa người Khmer, trong đó có
những ngôi chùa cổ đã có hàng trăm năm tuổi như: chùa Hòa Bình cũ (ấp Thị
Trấn A, thị trấn Hòa Bình, huyện Hòa Bình); chùa Cái Giá chót (ấp Cái Giá,
xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi); chùa Costhum (ấp Cỏ Thum, xã Ninh Thạnh
Lợi, huyện Hồng Dân); đặc biệt là chùa Xiêm Cán (ấp Biển Đông B, xã Vĩnh
Trạch Đông, cách trung tâm TP. Bạc Liêu 15km về hướng Đông Nam) - ngôi
chùa tiêu biểu cho các ngôi chùa Khmer ở Bạc Liêu thu hút đông đảo du
khách tham quan.
Về đời sống tâm linh, người Khmer thờ Phật là chính. Ngoài ra, họ còn
thờ Neakta, Arak (đều là thần bảo hộ) và các hình thức cúng kiếng khác do có
sự giao lưu văn hóa như thờ cúng ông bà của người Việt, người Hoa.
Về phong tục, người Khmer theo chế độ mẫu hệ. Nền văn hóa của họ
chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ nhưng được Khmer hóa cao độ, tạo nên
diện mạo đặc biệt của văn hóa truyền thống Khmer.
Khi nói đến văn hóa của người Khmer, nét nổi trội nhất là các lễ hội
truyền thống. Hàng năm có 3 lễ hội lớn: lễ hội Chôl- chnam-thmây (lễ mừng
năm mới khoảng giữa tháng 4 dương lịch), lễ Pithi-sen-Đôn ta (lễ cúng ông bà
từ : 2/8 đến ngày 1/9 âm lịch) và lễ Oóc Om Bóc (lễ cúng trăng 15/10 âm lịch).
Có thể nói các lễ hội đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người
Khmer. Chúng chi phối toàn bộ sinh hoạt tính thần, vật chất và chiếm một
khoảng thời gian khá lớn vì hầu hết các lễ hội đều diễn ra trong vài ngay.
Tham dự các lễ hội của người Khmer ta thấy chúng có đặc điểm chung là vừa
thiêng liêng, trang trọng nhưng cũng vừa là dịp để vui chơi giải trí...
Ngôn ngữ của người Khmer ở Bạc Liêu là tiếng nói thuộc nhóm ngôn
ngữ Môn-Khmer. Ngôn ngữ này không chỉ là phương tiện truyền đạt thông tin
mà còn mang trong nó những giá trị văn hóa và truyền thống của cộng đồng.
24
Việc duy trì và phát triển ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng để bảo tồn và
truyền dạy văn hoá truyền thống của người Khmer.
Hoạt động sản xuất chủ yếu của người Khmer ở Bạc Liêu là nông
nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nước. Họ sử dụng các công cụ nông nghiệp độc
đáo và hiệu quả như cái phảng, cù nèo, cây nọc cấy và cái vòn gặt. Ngoài ra,
người Khmer cũng có các nghề khác như đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, làm
đường thốt nốt và làm gốm. Những nghề này không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh
hoạt hàng ngày mà còn mang trong nó giá trị văn hóa và truyền thống đặc biệt
của người dân
Âm nhạc và múa là một phần quan trọng trong văn hóa của người
Khmer. Họ có những bài hát và điệu múa đặc trưng như múa rồng, múa sạp,
múa lân, múa khèn, và múa apsara. Những biểu diễn này thường kết hợp với
những trang phục sặc sỡ, trang sức đẹp mắt và những bước nhảy uyển
chuyển, tạo nên sự hấp dẫn và độc đáo.
Đồng bào dân tộc Khmer ở Bạc Liêu cũng rất chú trọng đến việc bảo
tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Họ thường tổ chức các hoạt động
giao lưu văn hóa, truyền thống như hội thi ca múa, lễ hội truyền thống, và các
buổi biểu diễn nghệ thuật. Nhờ những nỗ lực này, văn hóa của người Khmer
đã được truyền dạy và phát triển qua các thế hệ, góp phần quan trọng vào sự
đa dạng văn hóa của Bạc Liêu và cả nước Việt Nam.
Bạc Liêu luôn đặc biệt quan tâm đến đồng bào Khmer bằng nhiều việc
làm thiết thực như ưu tiên đầu tư các nguồn vốn phục vụ phát triển kinh tế -
xã hội vùng đồng bào Khmer; làm đường giao thông, trường học, trạm y tế;
đầu tư vốn, giống cây trồng, tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, kinh nghiệm cho
bà con…
Ngoài ra, Bạc Liêu có chính sách quan tâm dành cho người có uy tín
trong đồng bào Khmer. Ðây là những người có khả năng vận động, tuyên
25
truyền người dân và cộng đồng dân cư thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ
trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của
chính quyền địa phương.
1.3.2. Tổng quan về Lễ hội Ok Om Bok của người Khmer
Lễ hội Ok Om Bok hay Oóc om bóc (theo tiếng Khmer) hoặc lễ Cúng
Trăng. Là một trong những lễ hội lớn trong năm của đồng bào Khmer bên
cạnh các lễ như Tết cổ truyền hol hnam Thmay, lễ cúng ông bà Sene
Dolta,... Tiếng Khmer “Oóc Om Bóc” có nghĩa là “đút cốm dẹt”, ngoài ra nó
còn có tên khác là lễ cúng trăng. Lễ được tổ chức hàng năm vào đêm 15/10
âm lịch.
Theo tín ngưỡng nhân gian lễ Ok Om Bok có nguồn gốc xuất phát từ
việc làm nông của người dân. Theo quan niệm của người Khmer, mặt trăng
được xem là vị thần cai quản thời tiết, điều tiết mùa màng trong năm. Vì thế,
sau khi mùa mưa kết thúc, người dân sẽ thực hiện tổ chức lễ hội Ok Om
Bok để tạ ơn thần Mặt trăng đã bảo vệ mùa màng, đem mưa thuận gió hòa để
mùa màng được bội thu. Đồng thời còn giúp họ cầu nguyện để có thể bội thu
mùa vụ tới.
Hầu như đa số người Khmer đều gắn chặt cuộc đời, gia đình và phum
sóc - xóm làng của mình với nông nghiệp. Thế nên, lễ hội Ok Om Bok mang
ý nghĩa cực kỳ quan trong với họ. Lễ hội thường được tổ chức ở mỗi gia đình,
trong chùa và quy mô lớn trên toàn tỉnh. Đặc biệt hơn khi lễ hội này còn được
Bộ VHTTDL công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia.
Lễ hội Ok Om Bok diễn ra vào trung tuần tháng 10 âm lịch hằng năm
mà tâm điểm là đêm Rằm tháng 10. Chủ yếu diễn ra tại sân chùa, sân nhà,
hoặc một khu đất trống nào đó để mọi người có thể dễ dàng quan sát Mặt
trăng. Tuy nhiên, đối với năm nhuận, lễ hội Ok-Om-Bok sẽ được tổ chức vào
tháng 9 âm lịch nhuận.
26
Lễ hội Ok Om Bok là lễ hội truyền thống lớn của người Khmer, có lịch
sử lâu đời. Tất cả những gia đình người Khmer đều coi trọng và nhiệt tình
tham gia lễ hội này. Ngày xưa, lễ hội gồm hai phần là lễ và hội và thường
diễn ra trong thời rằm tháng 10 âm lịch đây là là dịp sinh hoạt, vui chơi của cả
cộng đồng. Đặc biệt là phần nghi lễ rất được coi trọng. Lễ hội Ok Om Bok
ngày nay tuy có nhiều biến đổi để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới,
nhưng về cơ bản vẫn giữ được các yếu tố truyền thống từ thời gian, địa điểm
tổ chức, nghi thức tế lễ, đến phần tổ chức hội và các trò chơi.
Người Khmer chủ yếu làm nông nên gần bó mật thiết và tôn thờ tự
nhiên như những vị thần. Mặt trăng được xem như vị thần cai quân thời gian,
thủy triều và thời tiết. Do đó lễ hội Ok-Om- Bok là nhằm đưa tiễn mùa mưa,
mùa nước chào đón mùa khô và tạ ơn Thàn Mặt trăng đã ban cho mùa màng
tốt tươi. Lễ hội Ok- Om Bok thường được đồng bào Khmer tổ chức trong
phạm vi gia đình hoặc ở chùa, ở các nơi sinh hoạt cộng đồng rộng rãi, có ảnh
trăng rằm soi sáng.
Trong lễ hội Ok Om Bok ngoài nghi lễ cúng trăng, đồng bào Khmer
còn tổ chức nhiều hoạt động có tính chất hội khác: đua ghe ngo, thả đèn nước
và thả đèn gió.
- Thả đèn nước là thả ánh lửa trên mặt nước mục đích chính là tỏ lòng
biết ơn Thàn Nước, "Mẹ Sống và gửi lời tạ lỗi đến vị thần này vì đã làm ô
nam nguồn nước khi con người sinh hoạt, sản xuất. Chiếc đèn có cầu to như
một ngôi đến, thường được làm bằng thân và bẹ chuỗi, có trang trí hoa văn và
gần đến nhiều màu sặc sỡ. Đầu đèn có treo cờ phướn, chung quanh cắm đèn
cầy và nhang, bên trong có bảy các thức cúng. Mở đầu buổi lễ thả đèn nước,
sư sai và đông bào thấp nến và nhang xung quanh đèn rồi tụng kinh để tưởng
nhỏ đến Đức Phật và xin lỗi đất và Nước vì đã làm do bán nguồn nước và đào
xới đất.
27
- Thả đèn gió có ý nghĩa sâu xa là ta ơn Thần Gió, một trong những vị
thần cùng Thần Mặt trăng cai quản mùa màng, đem lại mưa thuận gió hòa.
Mặt khác, việc thả đèn gió còn có ý nghĩa tổng tiền những điều xui rủi, không
may mắn Đèn gió được làm bằng thấy quyền, chiều cao lồng đèn khoảng 1m,
chu vi tròn chừng 0,8m được kết lại bằng keo và thanh tre, trúc. Trong thân
đèn có một sợi dây để treo lớn, bắt dựng chất đốt; chất đốt được làm tử bỏng
và dầu dừa. Khi làm xong đèn gió, mọi người bắt ghế treo lên cao, đợi đến
ngày 14 tháng 10 âm lịch sẽ thả đèn bay lên không trung đón ánh trăng rằm.
Khi đốt lửa, không khí bên trong mất đi. tạo nên một lực đẩy đèn gió bay lên
cao, đung đưa theo gió
- Sôi động nhất là hội đua ghe ngo (Um-tuk), được tổ chức vào buổi
trưa (11-12 giờ) ngày 15 tháng 10 âm lịch. Theo quan niệm dân gian, hội đua
ghe ngo cũng là một nghi lễ tống tiễn Thần Nước, Thần Mưa của người
Khmer ở vùng hạ lưu sông Mekong. Đua ghe ngo còn để cảm ơn đất và nước
về những ân huệ, những tăng vật đã ban cho con người.
Theo sách Văn hóa người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long:
“Ghe dành cho cuộc đua là một loại ghe đặc biệt gọi là ghe Ngo. Ghe có hình
dáng dài như con thoi, đầu và đuôi cong lên, không mui, dài từ 22m đến 24m,
có khoảng 20 đến 24 khoang, chứa từ 43 đến 52 người chèo ngồi. Ghe làm
bằng thân cây sao nguyên vẹn do dân và chùa cùng làm. Sau khi đóng xong,
ghe được chà cho thật trơn bóng và sơn phết trang tr rất mỹ thuật. ó chiếc
vẽ đầu rồng đuôi phượng ở mũi, có chiếc lại vẽ ly, quy, hổ, báo, gấu, cá sấu,
riêng những mái chèo cũng được sơn phết cùng mầu với ghe” (tr.89).
Ghe ngo được xem như một vật thiêng chỉ dùng duy nhất cho cuộc đua
ghe ngo hàng năm, được nhà chùa cất giữ cẩn thận trong một ngôi nhà cao
ráo, thoáng đáng gọi là Rông - tuk. Theo người Khmer, mỗi chiếc ghe ngo
đều có một vị thần linh trông giữ, nên có nghi lễ riêng khi xuất ghe đi dự hội,
xuất phát trước mỗi cuộc đua hay kết thúc hội đua đưa ghe lên nhà ghe.
28
1.3.3. Nguồn gốc, ý nghĩa của lễ Ok Om Bok
1.3.3.1. Nguồn gốc
Trước tiên, lễ hội Cúng Trăng (pithi Sâm Peak Preach Khe) của người
Khmer là lễ hội thể hiện lòng biết ơn của con người với các đấng thần linh đã
bảo vệ mùa màng của họ được tươi tốt. Đó là thần Mặt Trăng (Sampate Pres)
người được cho là vị thần bảo hộ mùa màng, mưa thuận gió hòa, không có
sâu bệnh… Mẹ Đất (Neang Hinh Pres Anây Thor) và Mẹ Nước ( Neang Hinh
Pres Tưk)… Chúng ta cần hiểu rõ lễ hội Cúng Trăng là lễ hội lớn bao gồm
nhiều nghi thức, nghi lễ và các hoạt động vui chơi, giải trí. Trong đó có các
nghi thức, nghi lễ như: đua ghe Ngo (Um Tuk Ngua), Đút cốm dẹp (Ok Om
Bok), thả đèn gió, đèn nước… Bên cạnh đó, lễ hội Cúng Trăng cũng còn là
dịp để mọi người trong phum sóc tụ họp, vui chơi cùng với nhau sau những
ngày chăm sóc cây trồng vất vả.
Có rất nhiều sự tích nói nguồn gốc của lễ hội Cúng Trăng, nhưng tựu
chung lại thì nguồn gốc lễ hội đều liên quan đến 2 vấn đề chính đó là giải
thích việc cúng trăng là tưởng nhớ công ơn Thỏ trắng (Sôm Banh Đết - tiền
kiếp của Đức Phật), việc thứ hai chính là cúng các vị thần bảo trợ cho nông
nghiệp, mà vị thần chính đó là nữ thần mặt Trăng. Theo tác giả đây chính là
hai sự tích giải thích về nguồn gốc của lễ hội được đông đảo người dân và các
nhà nghiên cứu đồng tình. Bởi lẽ, hầu hết người dân Khmer theo đạo Phật,
nên việc tin vào đức Phật là một niềm tin đã thấm sâu trong tâm thức của họ.
Cùng với đó, việc thờ cúng, tin vào các vị thần bảo trợ cho nông nghiệp là
một niềm tin, lòng biết ơn với người đã bảo vệ mùa màng của mình.
Lễ hội Cúng Trăng được kể lại như sau: “tương truyền có một tiền kiếp
của Đức Phật là Thỏ Trắng, Thỏ Trắng sống bên bờ sông Hằng kết bạn với
Khỉ, Rái Cá và Chó Rừng. Chúng sống tương thân, tương ái với nhau. Trong
đám thú đó, Thỏ hiểu biết hơn cả, Thỏ còn biết tham thiền. Chính Thỏ đã nghĩ
29
ra và đề xuất với các bạn cuộc ước hẹn sẽ cùng ngồi tu thân. Một lần, trước
ngày trăng tròn, Thỏ nhắc các bạn lo việc ngồi thiền. Các bạn phải kiếm thức
ăn dự trữ khi ngồi thiền, giành thức ăn đó cho kẻ thiếu thốn đói khát. Các con
vật kia hăng hái đi săn bắt lo phần ăn những ngày ngồi thiền và để bố thí.
Trên trời cao, thần Sakhah vị chúa của các thần Têvađa thấu được việc hẹn hò
của các thú vật, động lòng cảm mến. Thần bèn giả người ăn xin xuống trần
gian coi các con vật thực hiện lời hứa? Rái Cá, Khỉ và Chó Rừng đều thảo
lòng mời người ăn xin dùng bữa của mình. Người ăn xin gặp Thỏ, Thỏ ngồi
thiền từ mấy ngày nên không có thức ăn, nhưng thỏ nhanh nhẹn nhóm bếp
tính nướng thân mình cho người ăn xin. Thỏ vừa nhảy vào lửa, thần Sakhah
biến lửa không nóng cháy Thỏ và thần hiện nguyên hình. Thần ngợi ca nghĩa
cử thương người cao cả của Thỏ. Thần vẽ hình Thỏ lên mặt trăng. Tiền kiếp
Thỏ của Phật Thích Ca tỏa sáng vĩnh hằng trong càn khôn!” (Phạm Thị
Phương Hạnh, 2012)
Với ý nghĩa như vậy, thì vầng trăng luôn mang ý nghĩa cao quý và
thiêng liêng đối với cộng đồng người Khmer Nam Bộ nói chung và người
Khmer Bạc Liêu nói riêng. Bên cạnh đó, đây cũng là thời gian kết thúc vụ
mùa, khép lại một năm làm ăn, mọi người cùng nhau vui chơi, giải trí để
chuẩn bị cho một vụ mùa mới
1.3.3.2. Về ý nghĩa của lễ Ok Om Bok
- Đối với cộng đồng
Qua tìm hiểu và nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy lễ hội Cúng Trăng của
người Khmer có vai trò rất quan trọng trong cộng đồng. Cũng như các lễ hội
của các cộng đồng khác, lễ Cúng Trăng có vai trò cố kết cộng đồng lại. Vào
ngày lễ, mọi người cùng nhau chung sức chung lòng chuẩn bị cho lễ hội. Mọi
người giúp nhau, nhà nhà trong phum sóc nô nức cùng nhau chuẩn bị cho lễ
cúng, cùng làm trang trí và chuẩn bị cho bàn lễ vật làm cho tình cảm hàng
xóm láng giềng càng khăng khít hơn.
30
Trong cuộc sống, ai ai cũng lo mưu sinh, ngày ngày tất bật trên ruộng
đồng, ít có thời gian chia sẻ trong cuộc sống. Nhưng trong ngày lễ, mọi người
cùng nghỉ ngơi, thăm hỏi nhau chia sẻ về công việc. Cùng nhau cúng các vị
thần và cầu mong các vị thần cùng ban phước cho gia đình, phum sóc và cả
cộng đồng. Không chỉ là hàng xóm hỏi thăm nhau, mà ngay cả chính quyền
địa phương cũng nhân dịp này tới thăm hỏi tặng quà cho các chùa, các gia
đình chính sách cùng chung với lễ với bà con, làm cho tình cảm của nhân dân
và chính quyền càng thêm khăng khít hơn.
Trong các phần hội như thả đèn gió, đèn nước, đua Ghe Ngo, trò chơi
dân gian… đông đảo nhiều người dân tham gia, cổ vũ cho phum sóc, cho
huyện của mình. Ai ai cũng vui vẻ và háo hức. Bên cạnh đó, ngày nay không
chỉ có người Khmer tham gia trong các hoạt động này mà còn có cộng đồng
người Việt, Hoa cùng tham gia. Ví dụ như trò chơi dân gian, thành phần tham
gia có nhiều tầng lớp, độ tuổi, sắc tộc khác nhau. Rồi hội đua ghe Ngo, không
cần biết đó là đội đua của khu vực nào, chỉ cần thấy ra thi là mọi người cùng
nhau reo hò cổ vũ, cùng nhau bình luận và đánh giá.
Lễ hội là một hoạt động có ý nghĩa rất to lớn trong việc gắn kết mọi
người lại gần nhau hơn, giúp mọi người giải tỏa sự mệt mỏi sau bao ngày vất
vả bên ruộng đồng và cùng nhau cầu nguyện vui chơi với bao nhiêu niềm tin
cho năm mới. Ngay nay, xã hội có quá nhiều vấn đề phải suy ngẫm đặc biệt
về các giá trị đạo đức, tình người thì lễ hội này lại làm cho con người gần con
người hơn, trái tim gần đến với trái tim hơn.
Có thể nói, lễ hội là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, nơi nuôi giữ những giá trị
của dân tộc cho các thế hệ sau học tập. Nơi đây giống như một ngày học, cho
các thế hệ trẻ hiểu về cội nguồn hiểu về bản sắc của dân tộc mình, giúp cho
mọi người hiểu về cội nguồn của mình, văn hóa của dân tộc.
Lễ hội còn là cầu nối giữa con người trần tục với thế giới thần linh linh
thiêng, là nơi trao gửi những ước mơ, khát vọng của mình đến với đấng siêu
31
nhiên. Đây cũng là lúc, con người lấy lại niềm tin, “nạp năng lượng” để tiếp
tục cho cuộc sống bề bộn đầy lo toan hàng ngày.
Lễ hội là bài học sâu sắc về việc biết ơn và xin thứ lỗi của người
Khmer. Cúng Trăng là cúng các vị thần như thần mặt trăng, thần nước, thần
gió, thần đất… vì đã mang mưa thuận gió hòa, một mùa màng bội thu, gia
đình no ấm, mọi người bình an. Bên cạnh đó, đây cũng là dịp để mọi người
xám hối đến các vị thần, vì năm qua đã xâm phạm, làm ô uế đến các vị và
mong được thứ lỗi. Việc thả đèn gió, đèn nước là một trong những biểu hiện
của các hành động ấy. Hay đua ghe Ngo cũng là một hoạt động thể hiện ước
mơ, niềm tin vào vụ mùa tới (dẫn nước về phum sóc, về đồng).
Đây là một trong những lễ hội quan trọng trong năm của người Khmer,
đến đây, họ được bày tỏ lòng tôn kính đối với các vị thần, được cầu nguyện
và cảm giác như rất gần gũi với các vị thần linh, mọi lo toan cuộc sống đều
được loại bỏ, họ chỉ có sự vui vẻ, có niềm tin để rồi về nhà họ tiếp tục nuôi
giữ niềm tin ấy cho những ngày tháng lao động tiếp theo. Khi tham gia các
hoạt động, dường như họ thấy rằng mình đã chung tay cùng cộng động tỏ
lòng thành đến các vị thần, cảm giác như mình đã làm được một việc có ích
cho cả cộng đồng.
Đây còn là cơ hội để mọi người giao lưu với nhau, không chỉ là trong
cộng đồng người Khmer, mà còn có các cộng đồng người Việt, Hoa cùng
tham gia lễ hội. Nhân dịp để này quảng bá văn hóa của người Khmer đến với
các dân tộc khác, để cùng làm phong phú thêm văn hóa của dân tộc mình.
- Đối với gia đình
Lễ hội là nơi để mọi người trong gia đình ngồi lại bên nhau, cùng nhau
chuẩn bị vật phẩm cho lễ cúng. Tuy không giống với lễ mừng năm mới (mọi
người phải về nhà, dù đi làm ở đâu), nhưng với lễ hội Cúng Trăng mọi người
sẽ cố gắng sắp xếp về bên gia đình, cùng gia đình tham gia lễ hội.
32
Lễ hội còn là cầu nối giúp cho mọi người trong gia đình ngồi bên nhau,
những bạn trẻ được chứng kiến giây phút linh thiêng của lễ hội, một nét văn
hóa của cộng đồng mình. Đây cũng là nơi để ông bà cha mẹ hiểu con mình
hơn (hỏi về những ước mơ, nguyện vọng của con cái khi đút cốm dẹp), là nơi
ông bà, truyền tải những nét văn hóa truyền thống của dân tộc mình cho con
cái, cháu chắt, để sau này mất đi, thế hệ sau biết được cách tổ chức, cầu
nguyện, nguồn gốc của lễ hội. Tất cả giống như một buổi học mà ông bà cha
mẹ là giáo viên, con cái là những học sinh.
Đối với một gia đình nông nghiệp, ban ngày ra ruộng đồng từ sáng
sớm, tối mới về. Như vậy, sau một ngày vất vả mọi người thường nghỉ ngơi
rất sớm. Chính vì thế, lễ hội là những ngày nghỉ ngơi để mọi người quan tâm
đến nhau hơn, là dịp để bồi đắp thêm tình cảm gia đình.
- Đối với cá nhân
Đối với mỗi cá nhân, lễ hội là dịp để mọi người được trải nghiệm, được
sống trong không khí linh thiêng của người và thần, được hòa mình vào
không gian của lễ hội, được vui chơi và xóa đi mọi căng thẳng của cuộc sống
thường ngày.
Thường ngày ai cũng vất vả học tập, lao động, ít có cơ hội vun đắp tình
cảm với nhau. Là dịp con cháu, ông, bà, cha, mẹ…ngồi lại bên nhau, là dịp để
bạn bè vui vẻ cùng nhau vui chơi, là dịp để đôi lứa tìm hiểu, vun vén tình cảm.
Đây cũng là một môi trường giáo dục tốt cho mỗi cá nhân. Mỗi người
được hiểu thêm về văn hóa của dân tộc cũng mình cũng như thấy được tầm
quan trọng của lễ hội trong việc giữ gìn, phát huy văn hóa của mình. Từ đó,
mỗi các nhân có trách nhiệm hơn đối với bản thân, gia đình, xã hội để xây
dựng và phát triển đất nước.
1.3.3.3. hức năng của lễ hội Ok Om Bok
Lễ hội Ok Om Bok có nhiều chức năng quan trọng và mang tính đa
chiều trong việc tôn giáo-tín ngưỡng, cố kết cộng đồng, giáo dục, bảo tồn, và
giải trí. Dưới đây là một phân tích chi tiết về các chức năng này:
33
- Chức năng tôn giáo - tín ngưỡng: Lễ hội Ok Om Bok là dịp để cảm ơn
các vị thần và Đức Phật đã bảo trợ cho một mùa màng bội thu. Người dân nông
nghiệp tin rằng các vị thần trong tự nhiên giúp đỡ họ trong việc canh tác và sản
xuất nông sản. Lễ hội này giúp kết nối con người với các vị thần và vị phật,
làm tăng lòng biết ơn và tôn trọng với các nguyên lý tôn giáo và tín ngưỡng.
- Chức năng cố kết cộng đồng: Lễ hội Ok Om Bok là dịp để cả cộng
đồng tham gia và cống hiến. Lễ hội không chỉ thu hút một vài cá nhân, mà là
sự tham gia của cả một cộng đồng. Mọi người từ mọi lứa tuổi, giới tính và vai
trò trong xã hội đều tham gia vào lễ hội. Đây là cơ hội để gặp gỡ, giao lưu, và
trao đổi kinh nghiệm trong cuộc sống. Lễ hội tạo ra một tinh thần đoàn kết và
gắn kết mạnh mẽ, và thể hiện tinh thần gia đình trong cộng đồng.
- Chức năng giáo dục: Lễ hội Ok Om Bok mang đến những bài học về
sự lao động, lòng biết ơn và sự đoàn kết cho các thế hệ trẻ. Trong lễ hội, trẻ
em được tiếp xúc với những giá trị về lao động và trách nhiệm. Họ học cách
biết ơn công ơn của các vị thần, phật và gia đình trong việc nuôi sống và
chăm sóc họ. Lễ hội cũng khuyến khích sự đoàn kết và sự giúp đỡ lẫn nhau
trong cộng đồng.
- Chức năng bảo tồn: Lễ hội Ok Om Bok không chỉ đơn giản là một dịp
vui chơi, mà còn là cách để bảo tồn và truyền lại những giá trị văn hóa truyền
thống của dân tộc Khmer. Lễ hội đề cao tinh thần lao động, sự hòa hợp của
con người với thiên nhiên, và tôn vinh công việc của người nông dân. Qua
việc tổ chức và duy trì lễ hội này, cộng đồng Khmer đảm bảo rằng những nét
văn hóa truyền thống của họ được bảo tồn và truyền lại cho thế hệ sau.
- Chức năng giải trí: Lễ hội Ok Om Bok cũng có chức năng giải trí
quan trọng. Sau những ngày lao động và học tập vất vả, lễ hội mang đến một
không gian vui chơi và giải trí cho mọi người. Những hoạt động như đua ghe
ngo, xem đèn gió, đèn nước và các hoạt động khác tạo ra không khí vui tươi
và thú vị. Lễ hội cho phép mọi người quên đi những lo âu và buồn phiền
trong cuộc sống, tạo ra một tinh thần thoải mái và sự gắn kết trong cộng đồng.
34
Tóm lại, lễ hội Ok Om Bok không chỉ là một sự kiện vui chơi mà còn
mang theo nhiều chức năng quan trọng. Từ việc tôn giáo-tín ngưỡng, cố kết
cộng đồng, giáo dục, bảo tồn đến giải trí, lễ hội đóng vai trò quan trọng trong
việc gắn kết cộng đồng, truyền bá giá trị văn hóa và xây dựng tinh thần đoàn
kết trong xã hội.
1.3.4. Quy trình, cách thức tổ chức và các nghi thức tiến hành trong
lễ hội Ok Om Bok của người Khmer thành phố Bạc Liêu
- Về không gian
Trong hoặc trước ngày 15 tháng 10 âm lịch người ta chuẩn bị đồ cúng,
vật cúng, chiều lại người ta dựng giàn cúng gọi là “Ren Têvada", chiều tối
người ta tập trung về điểm hẹn chở cho trăng lên rồi bắt đầu nghi thức cúng
trăng. Cũng xong người ta tổ chức thả đèn hoa đăng rồi Oóc Om Bóc, xong
Oóc Om Bóc đến thả đèn trời rồi người ta tổ chức các trò chơi dân gian như:
trò chơi đấu khăn, kéo co, đẩy gậy, cháp Kôn Kh leng nơi có điều kiện người
ta tổ chức múa hát ram võng... đến lúc nào cảm thấy mệt và buồn ngủ, thì giải
tán nhà ai nấy về.
Sáng hôm sau người ta tập trung về chùa để đưa ghe Ngo đi đua. Lực
lượng trai trẻ thì cung cấp tay chèo, còn các cụ thì đi làm các nghi thức cần
thiết cho ghe Ngo trước giờ xuất phát, còn phụ nữ và các em nhỏ là những cổ
động viên nhiệt tình.
Trong nghi thức cúng trăng nếu tổ chức ở chùa thì người ta thỉnh chư
tăng đọc kinh trước lúc tổ chức Oóc om bok. Hiện nay thường tổ chức ở chùa
nhiều hơn vì tập trung đông vui hơn. Vẫn còn một vài nơi xa chùa tổ chức
theo phum xóm.
- Địa điểm tổ chức:
Ở trong phum người ta chọn địa điểm tổ chức là nơi có sân rộng để tiện
tổ chức cho các trẻ chơi, nơi sân nhà các cụ cao niên hoặc nơi để các cụ cao
niên tiện để hướng dẫn con cháu tổ chức. Nếu ở chùa người ta chọn sân chùa
ban quản trị chùa là người chủ trì việc này.
35
Bước đầu tiên tiến hành là chọn khuôn viên sân chùa hoặc một khu đất
trống trong phum, sóc, nơi không có bóng cây che khuất để tổ chức lễ. Thông
thường họ chọn vùng đất cao ráo, sạch sẽ rồi đào lỗ chôn hai trụ bằng tre hai
bên, mỗi bên cách nhau khoảng 1,5 mét, chính giữa buộc thêm một khúc tre
làm đà ngang tạo thành khung hình chữ nhật - giới hạn phạm vi của cõi nhân
gian, phía ngoài khung là thế giới của các thần tiên. Ở đây cây đà ngang còn
có nghĩa là tượng trung cho vị thần tiên tối cao đã bảo vệ con người. Hai trụ
hai bên tượng trưng cho cây đà dựng cao bầu trời để che chở cho loài người
những bất thường mà thiên tai gây ra.
Trước đây, cổng lễ thường rất đơn sơ, gọn nhẹ. Ngày nay người ta lại
chú ý trang trí cầu kỳ hơn bằng cách chọn thêm cành đùng đình và mía thẳng
lóng, có lá tốt nẹp chắc vào hai trụ vừa có tính chất để trang trí vừa mong ước
cuộc sống sau này sẽ ngày càng vươn lên mạnh mẽ, vững vàng như những
cây đùng đình và luôn luôn ngọt ngào hạnh phúc như hương vị của mía.
Việc trang trí được chia thành nhiều bước, mỗi người một việc ai ai
cũng với một tâm trạng vui vẻ, hăng say. Chọn 24 lá trầu tươi xanh, cuộn tròn
rồi xâu kết vào hai sợi chỉ, mỗi bên 12 lá trầu rồi giăng lên hai bên trụ, một
bên tượng trung cho 12 tháng của năm. Tiếp theo dùng 7 trái cau chẻ vỏ tựa
như cách ong rồi xâu lại, tượng trưng cho 7 ngày trong tuần luôn khỏe mạnh,
làm ăn thuận lợi. Cổng lễ sẽ đẹp và bắt mắt hơn nhiều khi giăng lên chuỗi dài
hoa hồng, hoa cúc vàng rực được xâu kết rất tỉ mỉ.
Giàn cúng làm ở hướng mặt trăng mọc trong sân để mọi người quay
mặt về hướng mặt trăng. Giàn cúng làm thành 02 bậc. Bậc trên để vật cúng,
bậc dưới để đồ cúng. Người ta làm một cặp Slathor, 01 cặp bay sây, chén, pé,
nhan, đèn.v.v. đồ cúng gồm: om bóc, dừa tươi, chuối chín, xoài, ổi... những
loại quả mà địa phương sản xuất được, làm những chiếc thuyền nhiều dạng
khác nhau như
36
- Đồ cúng, vật cúng
Các lễ vật cúng trăng được bày trí trên bàn, theo quan sát thì thường
thấy: Tất cả các lễ vật cúng trăng hầu hết đều là những sản phẩm nông nghiệp
lúa nước cùng với một số cây trái hoa màu.
Trong đó lễ vật chính bắt buộc là phải có “Om bok” (cốm dẹp), cụ thể:
- Cốm dẹp là lễ vật đặc biệt không thể thiếu trong buổi lễ, được chế
biến từ lúa nếp, tượng trưng cho lòng hiếu thảo, tạ ơn hạt thóc đã nuôi sống
con người.
- Trái dừa, quả tròn giống Mặt trăng, cắt bỏ phần nhọn, là sản phẩm có
nước thể hiện hương vị ngọt ngào của dừa - tượng trưng cuộc sống con người
ngọt ngào yên vui
- Cây mía thể hiện được hương vị ngọt, thẳng lóng là một sản phẩm
nông nghiệp - tượng trưng cho sự vương lên thẳng đứng, mạnh mẽ.
- Cách thức cúng trăng
Sau khi bày trí các thứ lễ vật xong, họ trải chiếu và cho con cháu trong
gia đình cùng ngồi chắp tay quay mặt về hướng mặt trăng làm lễ. Đúng thời
khắc mặt trăng tròn lên cao tỏa sáng, mọi người thắp nhang đèn, rót trà và
mời cụ lớn tuổi trong gia đình đúng ra làm lễ: Ông cụ bắt đầu khấn vái, nói
lên lòng biết ơn của mọi người đối với thần mặt trăng, cầu xin thần tiếp nhận
những lễ vật do họ dâng cúng và cầu mong vị thần mặt trang ban phước lành
cho mọi người được sức khỏe dồi dào, thời thiết mưa thuận gió hòa để người
dân được hưởng nhiều thành quả lao động trong năm mới.
Cúng xong, ông cụ gọi con cháu đến làm nghi thức Ok om Bok (đút
cốm dẹp) cho từng đứa trẻ có mặt trong buổi cúng.
Người ta chọn một số trẻ để oóc. Trước khi oóc lục Acha hướng dẫn
“các cháu, cháu nào có ước điều gì thì hãy chuẩn bị nói, có ước được vòng
vàng, ngọc ngà, châu báu, ước được nhà trăm gian, lúa thóc 20 kho đầy, ước
được giàu sang, phú quý.
37
Nói xong bắt đầu oóc cho từng đứa một, oóc xong các em nói khi om
bóc còn trong miệng nên nghe rất dễ thương. Có nơi thì hỏi đầy chưa? Các
em trả lời đầy đủ 03 lần thì đến em khác. Khi oóc cho các em nhỏ xong những
người còn lại thì tập trung ăn cốm dẹp (om bóc) và các loại trái cây mà mọi
người mang đến và uống nước dừa tươi vui vẻ.
- Lễ thả đèn gió.
Quan niệm trong thả đèn gió là: Năm nào đèn bay tốt thì trong năm đó
người ta làm ăn được suôn sẻ và cũng là niềm vui của người làm ra đèn đó.
Người ta làm đèn bằng giấy mỏng rồi dán lại bằng hồ thành hình trụ bịt kín
phần trên, người ta lấy trẻ chẻ từng lát bằng cây đũa rồi cuốn tròn lại lấy dây
chỉ căng cắt ngang 04 sợi, ở giữa làm vòng tròn như tổ chim để đựng nhiên
liệu đẩy rồi gắn ở phần dưới đèn ở tư thế đẩy, lấy bông gòn trộn với sáp hoặc
nến phơi nắng cho chảy thẩm vào bông gòn làm nguyên liệu đốt, cách này
cháy chậm hơn và cũng bay xa hơn. Do sắp quá đắt nên người ta dùng đầu hói
nhiên liệu để cho đỡ tốn kém và bay cũng nhanh hơn
Lúc thả đèn khi lửa đã cháy đều sức đẩy đã mạnh đủ để bay người ta
mới thả cho bay, người xoay thành vòng xoắn để đèn không đảo và an toàn
trước khi lên khỏi ngọn cây. Lúc thả đèn trống cồng đánh vang và mọi nơi
cũng hô lên rất sôi động.
Thả đèn gió xong người ta cùng nhau chơi các trò chơi dân gian như trình
bày ở trên. Những nơi có điều kiện người ta tổ chức ca múa cho đến khuya.
- Thả đèn nước
Hoạt động thả đèn nước chính là việc thả ánh lửa trôi trên mặt nước.
Mục đích chính của hoạt động này nằm tỏ lòng biết ơn của người dân đến với
Thần Nước. Đồng thời còn là lời tạ lỗi đến vị thần này vì đã làm bẩn nguồn
nước trong quá trình sinh hoạt sản xuất.
Những chiếc đèn nước có hình dạng tựa như một ngôi đền, thường
được làm bằng thân và bẹ chuối. Xung quanh được trang trí bằng những hoa
38
văn và màu sắc sặc sỡ. Đèn cầy sẽ được thắp sáng và cắm bao quanh đèn
nước, bên trong đèn sẽ bày biện các thức cúng.
Mở đầu buổi lễ thả đèn nước, sư sãi và bà con trong phum sóc thắp
nhang. Sau đó nghe sư tụng kinh cầu, cúng trăng để cầu nguyện sự an yên và
thịnh vượng. Sau đó mọi người sẽ tập trung ở các sông nơi họ cư trú để thả
trôi đèn theo dòng nước Lễ thả đèn nước cũng là một hoạt động quan trọng
trong lễ hội Ok Om Bok. Trong buổi tối, người dân sẽ chuẩn bị những chiếc
đèn nước được làm từ giấy và khung tre, thả chúng xuống mặt nước. Trên
mỗi chiếc đèn nước, người ta có thể viết những lời chúc tốt đẹp, câu đối hoặc
hình vẽ mỹ thuật. Khi được thả xuống mặt nước, những chiếc đèn nước sẽ lấp
lánh và tạo ra cảnh quan đẹp mắt và thư thái.
Lễ thả đèn nước trong lễ hội Ok Om Bok còn mang ý nghĩa tượng
trưng về việc gửi đi những điều xấu xa, lo lắng và khó khăn trong quá khứ, để
mở đường cho sự mới mẻ và sự thịnh vượng trong tương lai. Đồng thời, lễ thả
đèn nước cũng thể hiện lòng biết ơn và cầu nguyện cho các vị thần nước và
thần linh về sự dồi dào của nguồn nước và mùa màng bội thu.
Cả hai hoạt động, lễ thả đèn gió và lễ thả đèn nước, đều tạo ra không khí
lãng mạn, thần thái và tâm linh trong lễ hội Ok Om Bok. Những cánh đèn bay
trên bầu trời đêm hay trôi trên mặt nước tạo nên một cảnh tượng tuyệt đẹp và
gợi lên cảm xúc tình yêu và sự kính trọng đối với thiên nhiên và cuộc sống.
- Đua ghe ngo
Phải thừa nhận đua ghe Ngo là phần hấp dẫn nhất lễ hội Oóc Om Bóc,
thiếu đua ghe Ngo chắc lễ hội Oóc Om Bóc không có quy mô như hiện nay và
cũng thiếu tính hấp dẫn.
Hội Đua ghe ngo là một lễ hội truyền thống của người Khmer. Được tổ
chức hàng năm, lễ hội này thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia
và tận hưởng không khí vui tươi, sôi động.
39
Hội Đua ghe ngo diễn ra trên sông Cà Mau và là một cuộc thi đua ghe
ngo truyền thống giữa các thuyền viên địa phương. Đặc điểm độc đáo của lễ
hội này là các thuyền được làm từ cây ghe ngo - một loại cây mọc phổ biến ở
vùng đồng bằng sông Cửu Long. Những chiếc ghe ngo được chế tạo tỉ mỉ và
trang trí đẹp mắt, tạo nên cảnh quan sôi động và màu sắc đặc trưng cho lễ hội.
“Trong suốt quá trình chuẩn bị và tổ chức ội Đua ghe ngo, quản lý lễ
hội đóng một vai trò quan trọng để đảm bảo sự an toàn, trật tự và thành công
của sự kiện. h nh quyền địa phương và các cơ quan chức năng đảm nhận
nhiệm vụ quản lý, bao gồm ban hành các quy định, pháp lệnh và ch nh sách
liên quan đến việc tổ chức lễ hội. ọ cũng thực hiện công tác kiểm tra, giám
sát và hỗ trợ các hoạt động diễn ra trong lễ hội, nhằm đảm bảo mọi người
tham gia đều an toàn và có trải nghiệm tốt nhất” [8, tr.43].
Hội Đua ghe ngo là một ví dụ điển hình cho việc quản lý lễ hội với mục
tiêu bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của địa phương. Qua
quản lý lễ hội, chính quyền địa phương và cộng đồng mong muốn góp phần
xây dựng nền văn hóa Việt Nam, gìn giữ và truyền bá những giá trị văn hóa
đặc sắc của Hội Đua ghe ngo cho thế hệ tương lai.
40
*Tiểu kết Chƣơng 1
Chương 1 đã trình bày một cơ sở lý luận về quản lý lễ hội truyền thống
và tổng quan về lễ hội Ok Om Bok. Chương này đã đề cập đến các khái niệm
quan trọng như lễ hội, quản lý lễ hội, quản lý nhà nước về lễ hội, lễ hội Ok
Om Bok, cũng như những biến đổi và giá trị của lễ hội này.
Trước hết, chương đã định nghĩa lễ hội là một sự kiện văn hóa tập trung
vào các hoạt động vui chơi, giải trí và tôn giáo, thường diễn ra định kỳ và
mang đến cho cộng đồng một cảm giác thống nhất và hứng khởi. Quản lý lễ
hội được đề xuất như một quá trình tổ chức, lập kế hoạch và điều hành các
hoạt động lễ hội để đảm bảo sự thuận lợi, an toàn và thành công của nó.
Ngoài ra, chương cũng đã nêu rõ vai trò của quản lý nhà nước trong lễ
hội, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc có sự hỗ trợ, định hướng và quy định
từ phía chính quyền để đảm bảo lễ hội diễn ra một cách trật tự, đúng quy trình
và tuân thủ các quy định về an toàn và môi trường.
Chương tiếp tục trình bày về lễ hội Ok Om Bok, một lễ hội truyền
thống đặc biệt của người Khmere miền Tây Nam Bộ Việt Nam. Được tổ chức
vào mỗi dịp trăng tròn tháng Mười theo lịch âm, lễ hội Ok Om Bok gắn liền
với nền văn hóa dân gian và tôn giáo dân gian của địa phương. Đồng thời
trong nội dung Chương 1 cũng đã đưa ra và phân tích những giá trị về mặt
văn hoá, nghệ thuật, xã hội… của lễ hội Ok Om Bok.
41
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ LỄ HỘI OK OM BOK
Ở THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
2.1. Chủ thể quản lý
Mô hình phân cấp quản lý
2.1.1. Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Bạc Liêu
Sở VHTTDL chịu trách nhiệm hoàn chỉnh và tham mưu cho UBND
tỉnh về kế hoạch và đề án tổ chức Lễ hội. Lấy ý kiến của các đơn vị liên quan
trên địa bàn tỉnh, xây dựng kế hoạch truyền thông để tuyên truyền cho lễ hội.
Liên hệ với các doanh nghiệp đóng trên địa bàn cũng như các doanh nghiệp
có liên quan để xin tài trợ kinh phí cho lễ hội. Hỗ trợ về trang thiết bị, xe sân
khấu, âm thanh, ánh sáng, nhân lực lên maket, in pano khẩu hiệu, người dẫn
chương trình khai mạc...
42
2.1.2. Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố Bạc Liêu
Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố chủ trì phối hợp với các cơ
quan, đơn vị có liên quan và Ủy ban nhân dân các phường, xã tăng cường
công tác thanh tra, kiểm tra trước, trong và sau khi tổ chức lễ hội, kịp thời
phát hiện, ngăn chặn, chấn chỉnh và xử lý nghiêm các biểu hiện tiêu cực trong
lễ hội, đặc biệt là hành vi lợi dụng lễ hội, lợi dụng hoạt động tín ngưỡng để
trục lợi; kích động bạo lực, tuyên truyền mê tín dị đoan, cờ bạc trá hình, lưu
hành văn hóa phẩm trái phép và các hành vi vi phạm pháp luật khác
2.1.3. Chủ thể cộng đồng cư dân trong quản lý lễ hội
Lễ hội Ok Om Bok là lễ hội dân gian truyền thống nên cộng đồng là
chủ thể chính, là nòng cốt, là linh hồn của lễ hội, nhân dân địa phương trực
tiếp tham gia và quản lý các hoạt động lễ hội. Đối với các hoạt động phần lễ,
nhân dân địa phương là lực lượng chủ đạo, từ lúc chuẩn bị cơ sở vật chất, lễ
vật, tập dượt nghi thức trước khi vào hội chính. Bên cạnh đó, họ cũng là lực
lượng thực hiện hoạt động dịch vụ, tiếp đón khách lễ thập phương, làm vệ
sinh môi trường. Đối với các hoạt động phần hội, họ vừa tham gia trực tiếp,
vừa là lực lượng cổ vũ.
Có thể nói, sự tham gia quản lý lễ hội của các cấp chính quyền, cơ quan
chuyên môn, các lực lượng liên ngành phối kết hợp cùng với các tầng lớp
nhân dân khiến cho các hoạt động lễ hội được thực hiện quy củ, song tính nhà
nước cũng thể hiện rõ nét. Trong khi đó, lễ hội Ok Om Bok vốn là một lễ hội
truyền thống mang đậm tính cộng đồng, việc nhà nước hóa lễ hội làm nảy
sinh nhiều bất cập trong chỉ đạo, thi hành hoạt động quản lý
2.2. Công tác quản lý lễ hội Ok Om Bok ở thành phố Bạc Liêu
2.2.1. Ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, kế hoạch tổ chức lễ hội
Việc ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn và kế hoạch tổ chức lễ
hội Ok Om Bok là một phần quan trọng trong quá trình quản lý và tổ chức lễ
43
hội này. Các văn bản này có vai trò định hướng, hỗ trợ và đảm bảo sự thành
công của lễ hội.
Văn bản chỉ đạo: “Đây là các văn bản được ban hành từ các cấp quản lý
nhà nước, chủ yếu từ chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan. Văn
bản này có nhiệm vụ chỉ đạo các hoạt động liên quan đến lễ hội Ok Om Bok,
bao gồm việc xác định mục tiêu, nguyên tắc tổ chức, phân công trách nhiệm
và quyền hạn của các đơn vị liên quan” [9, tr 3].
Văn bản hướng dẫn: “Đây là các văn bản chi tiết và cụ thể hơn, được
ban hành để hướng dẫn các đơn vị và cá nhân thực hiện các nhiệm vụ cụ thể
trong quá trình tổ chức lễ hội. Văn bản này có thể bao gồm hướng dẫn về việc
lập kế hoạch, quản lý an ninh, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, xử lý
sự cố và bảo đảm an toàn” [9, tr 3].
Kế hoạch tổ chức: Đây là một tài liệu tổ chức chi tiết về lễ hội Ok Om
Bok, bao gồm lịch trình, chương trình, hoạt động và nguồn lực cần thiết. Kế
hoạch tổ chức định rõ các hoạt động chính, thời gian diễn ra, địa điểm, phân
công trách nhiệm và sắp xếp các yếu tố khác nhau để đảm bảo lễ hội diễn ra
thuận lợi và thành công.
Ngày 11/3/2022, Ủy ban nhân dân thành phố Bạc Liêu ban hành Kế
hoạch số 47/KH-UBND về triển khai thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa
đến năm 2030 trên địa bàn thành phố Bạc Liêu.
Theo đó, mục đích của Kế hoạch là nhằm triển khai các quy hoạch, dự
án, chương trình, kế hoạch nhằm đạt được các mục tiêu của Chiến lược để
xây dựng và phát triển văn hóa, con người toàn diện, phù hợp với xu thế thời
đại, những tác động to lớn của thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng…đối với
kinh tế, xã hội và con người; Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Không ngừng nâng cao đời sống văn hóa
tinh thần của nhân dân, từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa
44
giữa thành thị và nông thôn, giữa các đối tượng chính sách yếu thế; chú trọng
phát triển văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Tiếp tục hoàn thiện cơ chế
thị trường trong lĩnh vực văn hóa gắn với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội
của thành phố. Ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp văn hóa mà thành
phố có tiềm năng, lợi thế.
“Kế hoạch xác định một số chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 như: Tiếp tục
duy trì hoạt động hiệu quả các thiết chế văn hóa - thể thao; 100% đơn vị hành
chính cấp xã có trung tâm văn hóa - thể thao đáp ứng tiêu chí theo quy định;
Phấn đấu ít nhất 70% di tích quốc gia và 70% di tích cấp tỉnh trên địa bàn thành
phố được tu bổ, tôn tạo; 100% di sản văn hóa phi vật thể được bảo vệ và phát
huy giá trị; đề xuất lập hồ sơ khoa học các di sản văn hóa phi vật thể có giá trị
tiêu biểu hoặc các di sản có nguy cơ bị mai một, cần được bảo vệ khẩn cấp đề
nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; Bảo đảm ít nhất
95% người dân ở các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số được hưởng thụ và
tham gia các hoạt động văn hóa, nghe, xem các kênh phát thanh, kênh truyền
hình của quốc gia và tỉnh; Phấn đấu duy trì và giữ vững tỷ lệ 97% hộ gia đình
văn hóa, 100% khóm, ấp văn hóa; phấn đấu có trên 90% cơ quan, đơn vị, doanh
nghiệp trên địa bàn đạt chuẩn văn hóa; Tin học hóa 100% các đơn vị thực hiện
hoạt động văn hóa, nhất là các đơn vị quản lý nhà nước về văn hóa - nghệ thuật,
thực hành, trình diễn văn hóa nghệ thuật của thành phố” [9, tr 21].…
Bên cạnh đó, Kế hoạch đề ra các nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện
gồm: Nâng cao nhận thức, đẩy mạnh tuyên truyền về phát triển văn hóa; Triển
khai thực hiện tốt thể chế, chính sách về văn hóa; Xây dựng con người phát
triển toàn diện; Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh tạo động lực phát
triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế; Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt
động văn hóa; Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa; Hoàn thiện cơ chế thị
trường trong lĩnh vực văn hóa, ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp
45
văn hóa; Chủ động hội nhập, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về văn hóa;
Tập trung phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; Đẩy
mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong lĩnh vực văn
hóa; Phát huy hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển trong lĩnh vực văn hóa.
Ủy ban nhân dân thành phố giao Phòng Văn hóa và Thông tin thành
phố chủ trì, phối hợp với các phòng, ban, ngành, Ủy ban nhân dân phường, xã
xây dựng kế hoạch thực hiện hàng năm và tổng hợp nhu cầu kinh phí trình
cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đồng thời, đôn đốc tổ chức thực hiện kế hoạch
đạt hiệu quả.
Ngoài ra còn một số các văn bản của UBND tỉnh Bạc Liêu như:
Quyết định số 58/QĐ-UBND: Về việc phê duyệt kế hoạch tổ chức lễ
hội Ok Om Bok năm 2022.
Văn bản này quy định kế hoạch tổ chức lễ hội Ok Om Bok trong năm
2022, bao gồm các hoạt động chính, ngày diễn ra, địa điểm, nguồn kinh phí,
và các biện pháp tổ chức và bảo đảm an toàn cho lễ hội.
Công văn số 18/CV-UBND: Về việc tăng cường an ninh, trật tự và an
toàn giao thông cho lễ hội Ok Om Bok.
Văn bản này yêu cầu các cơ quan chức năng tăng cường biện pháp bảo
vệ an ninh, trật tự và an toàn giao thông trong quá trình diễn ra lễ hội Ok Om
Bok. Nó có thể đề cập đến việc triển khai lực lượng an ninh, lập trình đường
dẫn giao thông, đảm bảo trật tự công cộng và phòng tránh các tình huống
khẩn cấp.
Chỉ thị số 34/CT-UBND: Về việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
truyền thống trong lễ hội Ok Om Bok.
Văn bản này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy
giá trị văn hóa truyền thống trong lễ hội Ok Om Bok. Nó có thể đề cập đến
việc tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia, bảo vệ di sản văn hóa,
46
khuyến khích các hoạt động truyền thống và đảm bảo sự tham gia tích cực của
cộng đồng.
Kết quả khảo sát về công tác ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn,
kế hoạch tổ chức lễ hội như sau:
Biểu đồ 2.1. Kết quả khảo sát về việc ban hành các văn bản chỉ đạo,
hƣớng dẫn, kế hoạch tổ chức lễ hội
Nguồn: Kết quả khảo sát
Điểm bình quân qua kết quả khảo sát là 4,5. Điều này chứng tỏ công
tác ban hành văn bản tổ chức lễ hội được UBND tỉnh và UBND Thành phố
Bạc Liêu thực hiện tốt. Cụ thể UBND tỉnh đã ra các văn bản chỉ đạo chung
trong việc tổ chức các hoạt động văn hoá (trong đó có lễ hội Ok Om Bok),
đồng thời trước mỗi kỳ tổ chức, căn cứ vào tình hình thực tại UBND tỉnh,
UBND Thành phố đều có các văn bản hướng dẫn chỉ đạo cụ thể, chi tiết nhằm
đảm bảo cho việc tổ chức lễ hội đúng pháp luật, an toàn, hiệu quả, mang đậm
bản sắc riêng, có giá trị cho nhân dân và cộng đồng.
2.2.2. Công tác tuyên truyền, quảng bá
Công tác tuyên truyền và quảng bá cho lễ hội Ok Om Bok của tỉnh Bạc
Liêu đang được tổ chức và triển khai nhằm thu hút sự quan tâm và tham gia
47
của cộng đồng địa phương và du khách. Dưới đây là một số thực trạng liên
quan đến công tác tuyên truyền và quảng bá cho lễ hội Ok Om Bok:
Chiến dịch truyền thông đa phương tiện: UBND tỉnh Bạc Liêu nói
chung và UBND thành phố Bạc Liêu nói riêng đã triển khai các chiến dịch
truyền thông đa phương tiện nhằm quảng bá về lễ hội Ok Om Bok. Điều này
bao gồm việc sử dụng các phương tiện truyền thông như truyền hình, phát
thanh, báo chí và mạng xã hội để giới thiệu về lễ hội, những hoạt động nổi bật
và giá trị văn hóa của nó.
Sự hợp tác với đơn vị truyền thông: UBND thành phố Bạc Liêu đã thiết
lập sự hợp tác với các đơn vị truyền thông để tạo ra các nội dung quảng bá
chất lượng về lễ hội Ok Om Bok. Các đơn vị này có thể là các đài truyền
hình, đài phát thanh, tờ báo địa phương và trang web du lịch. Qua đó, thông
điệp về lễ hội được truyền tải một cách rộng rãi và hiệu quả.
Xây dựng văn bản chỉ đạo: UBND thành phố Bạc Liêu đã ban hành các
văn bản chỉ đạo, hướng dẫn và kế hoạch về công tác tuyên truyền và quảng bá
cho lễ hội Ok Om Bok. Những văn bản này có thể xác định mục tiêu, phạm vi
và phương pháp tuyên truyền, cũng như định rõ trách nhiệm của các cơ quan,
đơn vị và cá nhân tham gia công tác này.
Sự tham gia của cộng đồng địa phương: Công tác tuyên truyền và
quảng bá cũng tạo điều kiện để cộng đồng địa phương tham gia và đóng góp
vào quá trình tổ chức lễ hội Ok Om Bok. Việc tham gia của cộng đồng giúp
lan tỏa thông điệp về lễ hội một cách tự nhiên và chân thực,
Sự tận dụng các phương tiện truyền thông địa phương: UBND thành
phố Bạc Liêu đã khai thác và tận dụng các phương tiện truyền thông địa
phương như biển quảng cáo, hội chợ, triển lãm, sự kiện văn hóa và du lịch
khác để quảng bá lễ hội Ok Om Bok. Qua việc sử dụng các phương tiện này,
thông điệp về lễ hội được truyền tải đến đông đảo người dân địa phương và
du khách.
48
Tổ chức các hoạt động trực tuyến: UBND thành phố Bạc Liêu cũng đã
thực hiện các hoạt động tuyên truyền và quảng bá lễ hội Ok Om Bok thông
qua các kênh trực tuyến như trang web, fanpage trên mạng xã hội, video
clip...Điều này giúp tiếp cận được đối tượng khán giả rộng hơn, bao gồm cả
du khách trong và ngoài tỉnh.
Hợp tác với các đối tác du lịch và công ty truyền thông: UBND thành
phố Bạc Liêu đã thiết lập mối quan hệ hợp tác với các đối tác du lịch và công
ty truyền thông để đẩy mạnh quảng bá lễ hội Ok Om Bok. Điều này có thể
bao gồm việc tổ chức các tour du lịch kết hợp tham quan lễ hội, tổ chức sự
kiện đặc biệt và sản xuất nội dung truyền thông chất lượng cao.
Đánh giá hiệu quả và điều chỉnh chiến lược: UBND thành phố Bạc
Liêu liên tục đánh giá hiệu quả công tác tuyên truyền và quảng bá cho lễ hội
Ok Om Bok thông qua việc thu thập thông tin phản hồi từ cộng đồng và
khách tham quan. Dựa vào đó, họ sẽ điều chỉnh và cập nhật chiến lược tuyên
truyền để đạt được hiệu quả cao nhất trong việc quảng bá và thu hút sự quan
tâm đối với lễ hội.
Kết quả khảo sát như sau:
Biểu đồ 2.2. Kết quả khảo sát về công tác tuyên truyền, quảng bá
Nguồn: Kết quả khảo sát
49
Điểm bình quân là 4.3. Đây cũng là tín hiệu tốt, bởi vì việc quảng bá
một lễ hội lớn, mang tính tổng thể, cần nhiều nguồn lực khác nhau. Có thể
thấy tỷ lệ đồng ý và rất đồng ý chiếm đến 80%, tỷ lệ lựa chọn mức “Bình
thường” là 20% và không có ý kiến nào không đồng ý, hoàn toàn không đồng
ý. Điều này chứng tỏ trong giai đoạn vừa qua các đơn vị có liên quan đến
công tác lễ hội đã thực hiện tốt hoạt động truyền thông tới nhân dân trong
vùng, du khách về lễ hội Ok Om Bok.
2.2.3. Tổ chức các hoạt động văn hóa trong lễ hội
Phần này chúng tôi tiến hành khảo sát các hoạt động văn hóa diễn ra Lễ
Oóc Om Bok năm 2022 tại Chùa Xiêm Cán (Xã Vĩnh Trạch Đông thành phố
Bạc Liêu) như sau:
- Vào ngày 14 tháng 10 âm lịch:
Ngày: diễn ra các hoạt động thi đấu thể thao gồm: bóng đá, bóng
chuyền, đẩy gậy, kéo co...
Về đêm: diễn ra liên hoan văn nghệ quần chúng Khmer. Các đội ghe
Ngo, thuyền hoa đăng tập trung về để cùng vui chơi ở khu vực chợ có tổ chức
hội chợ thương mại, hội chợ ẩm thực, chương trình biểu diễn ca nhạc, cải
lương phục vụ suốt thời gian diễn ra lễ hội.
- Ngày 15 tháng 10 âm lịch:
Ban ngày: tiếp tục thi đấu các mới, thể thao của hôm trước và chung
kết trao giải.
Trên sông nước bắt đầu thi đấu vòng loại đua ghe Ngo.
Về đêm: diễn ra lễ kỉ mạc, sân khấu hóa lễ hội Oóc Om Bóc, tổ chức lễ cúng
trăng. Chấm điểm xếp hạng các thuyền hoa đăng tổ chức múa hát Ram Vông.
- Ngày 16 tháng 10 âm lịch:
Thi đấu bán kết và chung kết trao giải đua ghe Ngo, kết thúc lễ hội Oóc
Om Bóc.
50
Trong quá trình diễn ra lễ hội bà con du khách gần xa đến cùng vui
chơi suốt trong 03 ngày 02 đêm đông nhất vẫn là người kinh, người khmer rồi
người hoa. Như vậy ngày hội không còn là của riêng người Khmer nữa mà nó
đã trở thành của cả người dân ở địa phương.
Kết quả khảo sát như sau:
Biểu đồ 2.3. Kết quả khảo sát về việc tổ chức
các hoạt động văn hóa trong lễ hội Ok Om bok
Nguồn: Kết quả khảo sát
Thông qua kết quả khảo sát thấy rằng, việc tổ chức các hoạt động văn
hoá trong lễ hội đa số được người dân đồng tình. Các hoạt động văn hoá đã
mang đậm bản sắc dân tộc, thể hiện tính truyền thống. Chính vì thế tỷ lệ ý
kiến rất đồng ý là 20%, 60% đồng ý và không có ý kiến là 20%, không có ý
kiến nào “không đồng ý” hoặc “hoàn toàn không đồng ý”. Điều này cho thấy
sự ủng hộ, đồng tình của nhân dân trong vùng trong việc tổ chức lễ hội Ok
Om Bok
2.2.4. Quản lý các nguồn lực, cơ sở vật chất phục vụ cho tổ chức lễ hội
- Quản lý tài chính
Công tác quản lý tài chính tại lễ hội Ok Om Bok của Bạc Liêu được
thực hiện một cách công khai và minh bạch, tuân thủ đúng tinh thần chỉ thị số
51
41/CT-TW của Ban Bí thư về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong
công tác quản lý và tổ chức lễ hội. Quản lý tài chính được tiến hành một cách
cụ thể và khoa học, đảm bảo hiệu quả và minh bạch.
Ban tổ chức lễ hội thành lập các tiểu ban và phân công nhiệm vụ. Các
tiểu ban này có trách nhiệm lên dự toán kinh phí cho hoạt động của mình,
đảm bảo tuân thủ quy định của nhà nước. Trong các hoạt động tài chính, việc
quản lý tiền công đức là một phần quan trọng. Ban tổ chức tiếp nhận tiền công
đức tại các bàn công đức và thu gom tiền sau đó lưu giữ trong két công đức.
Ngoài ra, Ban tổ chức lễ hội cũng quản lý tài chính liên quan đến hoạt
động dịch vụ. Việc phân công và phân nhiệm công việc chi tiết giúp đảm bảo
sự hiệu quả và khoa học trong quản lý hoạt động dịch vụ. Các khoản kinh phí
thu được từ cá nhân, tập thể công đức, tài trợ được gửi trực tiếp vào các hòm
công đức và sau đó kiểm điểm và gửi vào kho bạc theo tài khoản của đơn vị.
Việc tổ chức lễ hội Ok Om Bok của thành phố Bạc Liêu đã thực hiện
công tác quản lý tài chính một cách hiệu quả, đảm bảo tính công khai và minh
bạch trong việc thu chi tài chính. Việc thành lập các tiểu ban và phân công
nhiệm vụ giúp tập trung quản lý kinh phí cho từng hoạt động cụ thể của lễ
hội. Đồng thời, việc lên dự toán tổng thể và trình UBND thành phố để được
phê duyệt nguồn kinh phí cho lễ hội đảm bảo sự tuân thủ quy định của nhà
nước và tránh tình trạng lãng phí tài chính.
Trong việc quản lý tiền công đức, việc tiếp nhận tại các bàn công đức
và thu gom tiền lễ trên ban thờ được thực hiện một cách cẩn thận và minh
bạch. Quá trình kiểm két tiền công đức có sự tham gia của cơ quan công an,
Tài chính - Kế hoạch thành phố và đại diện chính quyền xã nơi tổ đông đồng
bào Khmer sinh sống, đảm bảo tính chính xác và trung thực trong việc đếm và
ghi nhận số tiền thu được từ công đức..
52
Kết quả khảo sát như sau:
Biểu đồ 2.4. Kết quả khảo sát việc quản lý các nguồn lực,
cơ sở vật chất phục vụ tổ chức lễ hội
Nguồn: Kết quả khảo sát
Thông qua kết quả khảo sát, có thể thấy rằng việc quản lý các nguồn
lực, cơ sở vật chất phục vụ cho lễ hội được quản lý tốt. Cụ thể 80% số lượng
người khảo sát thể hiện sự đồng ý và rất đồng ý. Không có ý kiến nào thể hiện
sự không đồng ý hoặc hoàn toàn không đồng ý.
Công tác quản lý tài chính cũng liên quan đến hoạt động dịch vụ của lễ
hội. Ban tổ chức lễ hội bố trí tổ ghi thu công đức để tiếp nhận kinh phí từ các
cá nhân, tập thể công đức và tài trợ. Quá trình gửi kinh phí vào hòm công đức
và sau đó kiểm điểm và gửi vào kho bạc theo tài khoản của đơn vị đảm bảo
tính minh bạch và xác thực trong việc quản lý tài chính liên quan đến hoạt
động dịch vụ.
Tổng hợp lại, công tác quản lý tài chính tại lễ hội Ok Om Bok của
thành phố Bạc Liêu được thực hiện một cách nghiêm túc, công khai và minh
bạch. Việc thành lập các tiểu ban, lên dự toán kinh phí, thực hiện kiểm két
tiền công đức đảm bảo tính chính xác và trung thực trong việc quản lý nguồn
tài chính
53
- Quản lý nguồn nhân lực
Trong lễ hội Ok Om Bok tại Bạc Liêu, công tác quản lý nguồn nhân lực
đóng vai trò quan trọng để đảm bảo các hoạt động diễn ra thuận lợi và hiệu
quả. Ban tổ chức lễ hội đã áp dụng phương thức xã hội hóa để tận dụng tối đa
nguồn nhân lực có sẵn. Dưới đây là mô tả về việc quản lý nguồn nhân lực
trong các bộ phận khác nhau của lễ hội:
Quản lý nguồn nhân lực xây dựng nội dung kịch bản lễ hội: Trưởng
ban lễ hội đã phân công Phó Giám đốc sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch chịu
trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc các thành viên thực hiện nhiệm
vụ liên quan đến xây dựng nội dung kịch bản lễ hội. Trưởng ban tổ chức cũng
đảm nhận một số nhiệm vụ khác như lãnh đạo và chỉ đạo các hoạt động trong
lễ hội, xây dựng chương trình, kịch bản, công tác tổ chức khai mạc và hướng
dẫn các hoạt động tuyên truyền văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao trong dịp
lễ hội. Ngoài ra, trưởng ban cũng tham gia thẩm định các nội dung hoạt động
tại lễ hội và tham mưu văn bản huy động nguồn kinh phí từ xã hội. Việc sử
dụng nguồn nhân lực trong bộ phận này được thực hiện dựa trên sự chỉ đạo và
phân công của trưởng ban.
Quản lý nguồn nhân lực trang trí, khánh tiết: Ban tổ chức lễ hội đã lựa
chọn một thành viên trong ban làm tổ trưởng cùng với một nhóm thành viên
và cộng tác viên chịu trách nhiệm hợp đồng với một công ty chuyên môn để
thực hiện công việc trang trí và khánh tiết. Đội ngũ này chịu trách nhiệm về
nội dung và hình thức trang trí khánh tiết trong lễ hội. Quản lý nguồn nhân
lực trong bộ phận này đảm bảo sự cộng tác và phối hợp chặt chẽ
Quản lý nguồn nhân lực tham gia nghi thức: Trưởng Ban lễ hội đã chỉ
định một thành viên trong ban làm tổ trưởng cùng với một nhóm thành viên
và cộng tác viên để quản lý việc luyện tập và thực hành nghi thức trong lễ hội.
Tổ này có trách nhiệm trực tiếp tham gia góp ý hoặc tìm người hiểu biết về
nghi thức và thành thục về thực hành nghi thức. Họ cũng hướng dẫn luyện tập
54
nghi thức tại các phường, xã. Quản lý nguồn nhân lực trong bộ phận này đảm
bảo việc tổ chức và thực hiện các nghi thức suôn sẻ và chính xác.
Quản lý nguồn nhân lực hoạt động văn hóa-văn nghệ, vui chơi trong lễ
hội: Ban tổ chức đã tận dụng chuyên môn và kỹ năng của các thành viên trong
ban để quản lý nguồn nhân lực tham gia vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ,
thể dục, thể thao và trò chơi trong lễ hội. Dựa trên chuyên môn của từng thành
viên, trưởng ban đã thành lập một tổ quản lý đặc thù. Tổ quản lý này chịu
trách nhiệm phân công từng cá nhân trong tổ, gồm người phụ trách hoạt động
văn hóa-văn nghệ, người phụ trách hoạt động thể dục-thể thao và người phụ
trách các hoạt động trò chơi. Quản lý nguồn nhân lực trong bộ phận này đảm
bảo sự phối hợp tốt giữa các thành viên và công việc của từng người để đạt
được mục tiêu hoạt động văn hóa-văn nghệ và giải trí trong lễ hội.
Tổ chức lễ hội Ok Om Bok đã triển khai quản lý nguồn nhân lực một
cách chủ động và tận dụng tối đa sự phối hợp và cống hiến của các thành viên
trong ban. Việc phân công rõ ràng và đặt trách nhiệm cho từng cá nhân và
nhóm giúp đảm bảo sự thuận lợi và hiệu quả trong quản lý nguồn nhân lực tại
các bộ phận khác nhau của lễ hội Ok Om Bok tại Bạc Liêu.
2.2.5. Quản lý hoạt động dịch vụ, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự
- ông tác an ninh trật tự
Theo công văn của UBND tỉnh thì “Trên cơ sở các thành viên do
UBND tỉnh chỉ định, trong đó có thành viên là công an. Trưởng ban giao cho
đồng chí phó trưởng công an tỉnh là thành viên lễ hội đề xuất sử dụng nguồn
nhân lực là công an thành phố, công an và ban bảo vệ dân phố các địa
phương, xây dựng phương án bảo đảm an ninh, trật tự thời gian diễn ra lễ hội.
Ban tổ chức yêu cầu Tổ an ninh, trật tự sắp xếp địa điểm, người trông giữ
phương tiện, bố trí lao động trông giữ phương tiện ô tô, xe máy đảm bảo an
toàn về tài sản không để xảy ra tình trạng mất mát cũng như hư hỏng”.
Đồng thời “Tiểu ban ANTT lên kế hoạch và có phương án đảm bảo an
ninh trật tự trong suốt quá trình tổ chức lễ hội với phương châm an toàn tuyệt
55
đối về người, tài sản của nhân dân trong quá trình tổ chức lễ hội; quy định và
hướng dẫn hoạt động giao thông trong khu vực tổ chức lễ hội. Đảm bảo an
toàn tuyệt đối về an ninh trật tự trong những ngày lễ hội và khu vực tổ chức lễ
hội. Phối hợp với phòng LĐTBXH đưa người ăn xin về trung tâm bảo trợ xã
hội, không còn hiện tượng ăn xin nhếch nhác gây phản cảm cho lễ hội”
- ông tác dịch vụ
Công tác tổ chức các hoạt động dịch vụ tại lễ hội Ok Om Bok tại thành
phố Bạc Liêu được Ban tổ chức chú trọng đặc biệt. Ban tổ chức đã yêu cầu
các chủ kinh doanh đồ lưu niệm và các ấn phẩm văn hóa-nghệ thuật tham gia
lễ hội phải cam kết bán hàng có nguồn gốc rõ ràng, bán đúng giá và đúng vị
trí mà Ban tổ chức đã sắp xếp. Điều này đảm bảo sự minh bạch và tránh các
vấn đề tranh chấp liên quan đến giá cả và vị trí kinh doanh trong lễ hội.
Một khía cạnh quan trọng khác trong công tác tổ chức dịch vụ là dịch
vụ trông giữ phương tiện. Ban tổ chức đã thực hiện sắp xếp địa điểm trông
giữ phương tiện gọn gàng và ngăn nắp. Các khu vực gửi ô tô, xe máy và xe
đạp được phân chia riêng biệt, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ phương tiện
đến tham gia lễ hội. Việc này đảm bảo an toàn cho phương tiện và ngăn ngừa
tình trạng mất mát và hư hỏng của phương tiện của người dự lễ hội.
Ban tổ chức lễ hội Ok Om Bok thành phố Bạc Liêu đã đảm bảo rằng
các hoạt động dịch vụ được tổ chức và quản lý một cách chuyên nghiệp và
hợp pháp. Việc kiểm soát nguồn gốc, giá cả và vị trí kinh doanh của các sản
phẩm đồ lưu niệm và ấn phẩm văn hóa-nghệ thuật giúp du khách có được sự
tin tưởng và trải nghiệm mua sắm an lành tại lễ hội. Ngoài ra, dịch vụ trông
giữ phương tiện cũng được Ban tổ chức quan tâm và tổ chức một cách chặt
chẽ. Địa điểm trông giữ phương tiện được sắp xếp sao cho gọn gàng và tiện
lợi, với sự phân chia khu vực riêng biệt cho ô tô, xe máy và xe đạp. Điều này
giúp tạo ra một môi trường an toàn và thuận tiện cho chủ phương tiện khi
tham gia lễ hội. Nhờ vào việc sắp xếp hợp lý này, người dự lễ hội có thể yên
tâm và tận hưởng sự vui chơi mà không cần lo lắng về việc mất mát hoặc hư
hỏng phương tiện của mình.
56
Ngoài ra, công tác tổ chức các hoạt động dịch vụ còn bao gồm các hoạt
động về ẩm thực và dịch vụ ăn uống. Ban tổ chức lễ hội đã sắp xếp các khu
vực ẩm thực và quầy hàng đồ ăn theo một cách hợp lý và thuận tiện. Các quầy
hàng được sắp xếp sao cho người tham gia lễ hội dễ dàng tiếp cận và lựa chọn
các món ăn phong phú và đa dạng. Đồng thời, Ban tổ chức cũng đảm bảo
rằng các nhà hàng và quầy hàng tuân thủ các quy định về vệ sinh và an toàn
thực phẩm, đảm bảo rằng người tham gia lễ hội được thưởng thức những món
ăn ngon và an toàn.
Hơn nữa, công tác tổ chức dịch vụ tại lễ hội Ok Om Bok Bạc Liêu còn
liên quan đến các hoạt động giải trí và trò chơi. Ban tổ chức đã phối hợp với
các đơn vị chuyên nghiệp và các tổ chức xã hội để tổ chức các hoạt động văn
hóa, văn nghệ và thể thao trong lễ hội. Có những sân khấu biểu diễn, khu vực
trò chơi dân gian và các hoạt động giải trí phong phú để mang đến những trải
nghiệm thú vị cho khách tham quan. Ban tổ chức cũng đảm bảo rằng các hoạt
động này được quản lý và an toàn, và có sự tham gia của những người có
Kỹ năng và kinh nghiệm trong việc tổ chức các hoạt động giải trí. Điều
này đảm bảo rằng mọi người tham gia lễ hội có thể tận hưởng những trò chơi,
trình diễn nghệ thuật và các hoạt động giải trí một cách an toàn và đáng nhớ.
Ngoài ra, công tác tổ chức dịch vụ tại lễ hội Ok Om Bok Bạc Liêu cũng
bao gồm việc quản lý không gian và môi trường. Ban tổ chức đã chú trọng
đến việc duy trì sự sạch sẽ và an ninh tại các khu vực lễ hội. Các nhân viên
được đào tạo để đảm bảo rằng mọi người tham gia lễ hội có thể di chuyển dễ
dàng và thoải mái. Ngoài ra, các biện pháp bảo mật cũng được triển khai để
đảm bảo an toàn cho tất cả mọi người tham gia.
Để đáp ứng các yêu cầu và tiêu chuẩn nghiêm ngặt trong việc tổ chức
các hoạt động dịch vụ tại lễ hội, Ban tổ chức đã hợp tác chặt chẽ với các cơ
quan chức năng và các đơn vị liên quan. Việc này đảm bảo rằng tất cả các
hoạt động dịch vụ được tuân thủ đúng quy định pháp luật và các tiêu chuẩn về
an toàn và chất lượng. Ban tổ chức cũng thường xuyên kiểm tra và giám sát
để đảm bảo rằng mọi hoạt động diễn ra trơn tru và tốt nhất có thể.
57
Tổ chức các hoạt động dịch vụ tại lễ hội Ok Om Bok Bạc Liêu đòi hỏi
sự chuyên nghiệp, sự quan tâm và sự tỉ mỉ trong mọi chi tiết. Ban tổ chức đã
đưa ra các yêu cầu cụ thể về nguồn gốc và chất lượng hàng hóa, vị trí kinh
doanh, an toàn phương tiện, vệ sinh và an ninh môi trường. Tất cả những điều
này nhằm tạo ra một lễ hội chất lượng cao, đáng tin cậy và mang lại trải
nghiệm tuyệt vời cho mọi người tham gia.
- ông tác vệ sinh môi trường
Công tác quản lý vệ sinh môi trường trong lễ hội Ok Om Bok Bạc Liêu
được thực hiện một cách kỹ càng và sát sao nhằm đảm bảo một không gian lễ
hội sạch, đẹp, văn hóa và văn minh. UBND tỉnh đã giao phó công ty Quản lý
Cổ phần Đô thị Bạc Liêu trách nhiệm tổ chức công tác vệ sinh môi trường
trước, trong và sau ngày diễn ra lễ hội.
Biểu đồ 2.5. Kết quả khảo sát quản lý hoạt động dịch vụ, vệ sinh môi
trƣờng, an ninh trật tự
Nguồn: Kết quả khảo sát
Điểm bình quân là 4. Điều này chứng tỏ hoạt động quản lý tổ chức lễ
hội của TP Bạc Liêu là tương đối tốt. Các đơn vị đã huy động các lực lượng
trong và ngoài xã hội để thực hiện hoạt động dịch vụ vệ sinh môi trường, an
ninh… để đảm bảo cho lễ hội mang lại hình ảnh đẹp trong du khách và người
dân địa phương.
58
Tác giả luận văn cũng tiến hành phỏng vấn du khách và người dân
tham gia lễ hội cho thấy 100% số du khách và người dân đều mong muốn sẽ
được tham dự lễ hội trong các năm sau
Sau mỗi khi kết thúc lễ hội Ban tổ chức đã hợp đồng với công ty môi
trường để làm sạch không gian lễ hội. Cán bộ phụ trách quản lý vệ sinh môi
trường lễ hội cho biết rằng việc duy trì vệ sinh môi trường được thực hiện
thường xuyên bằng việc thu gom rác thải trong và ngoài khuôn viên khu di
tích, không để làm mất cảnh quan môi trường.
Tuy nhiên, mặc dù công tác quản lý vệ sinh môi trường đã được thực
hiện kỹ càng, vẫn còn những khó khăn và thách thức. Lực lượng quản lý
không đủ đông, trong khi không gian lễ hội rất rộng. Ý thức của một số người
tham dự lễ hội còn kém, họ tùy tiện vứt bỏ các loại rác tùy tiện mà không cần
quan tâm đến vệ sinh môi trường. Từ những mẩu giấy bánh, kẹo, mẩu thuốc
lá cho đến những bánh, trái thừa,
Qua kết quả khảo sát về việc tổ chức lễ hội trong mấy năm qua có thể
thấy như sau:
2.2.6. Hoạt động kiểm tra, giám sát việc tổ chức lễ hội
Biểu đồ 2.6. Kết quả khảo sát hoạt động kiểm tra, giám sát việc tổ chức lễ hội
Nguồn: Kết quả khảo sát
59
Kết quả khảo sát cho thấy 100% cho rằng hoạt động kiểm tra giám sát
việc thực hiện tổ chức lễ hội là tốt. Trong đó 80% là đồng ý và 20% là rất
đồng ý. Điểm bình quân của hoạt động này là 4.2 điểm.
Công tác thanh kiểm tra của các cơ quan chức năng về lễ hội Ok Om
Bok tại Bạc Liêu là một phần quan trọng trong việc đảm bảo sự tổ chức và
quản lý chặt chẽ của lễ hội. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bạc Liêu đã
thành lập đoàn kiểm tra liên ngành nhằm kiểm tra toàn diện các hoạt động lễ
hội trên toàn tỉnh.
Nhiệm vụ của đoàn kiểm tra là kiểm tra và đánh giá các khía cạnh của
công tác quản lý và tổ chức lễ hội. Các nội dung kiểm tra bao gồm việc ban
hành các văn bản chỉ đạo và hướng dẫn, tổ chức các hoạt động lễ hội, tuyên
truyền và giáo dục về nếp sống văn minh và thuần phong mỹ tục của dân tộc
trong hoạt động lễ hội, đảm bảo các yêu cầu về nội dung lễ hội, tổ chức hoạt
động dịch vụ trong khu vực lễ hội, quản lý thu, chi tiền công đức và tiền tài
trợ, công tác vệ sinh môi trường, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ và an
toàn giao thông trong lễ hội.
Tuy nhiên, trong quá trình quản lý và kiểm tra lễ hội Ok Om Bok tại
Bạc Liêu, đã có nhận thức về sự "nhà nước hóa" của lễ hội khi lễ hội được
nâng tầm và chú trọng các hoạt động quản lý từ phía chính quyền địa phương.
Điều này có thể làm mất đi bản sắc văn hóa dân gian và truyền thống của lễ
hội. Mặc dù đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận, song vẫn cần khắc
phục những hạn chế trong việc tổ chức lễ hội
2.2.7. Sự tham gia của cộng đồng trong việc tổ chức, quản lý lễ hội
Lễ hội Ok Om Bok Bạc Liêu không chỉ được quản lý bởi các cơ quan
nhà nước mà còn có sự tham gia quan trọng của cộng đồng địa phương. Các
hoạt động và nhiệm vụ quản lý được phân chia một cách rõ ràng giữa Ban lễ
60
hội và các tổ chức xã hội, đảm bảo sự hợp tác và góp phần vào thành công
của lễ hội.
Biểu đồ 2.7. Kết quả khảo sát sự tham gia của cộng đồng
trong việc tổ chức, quản lý lễ hội
Nguồn: Kết quả khảo sát
Kết quả khảo sát cho thấy có 80% lựa chọn đồng ý (4 điểm), 10% là rất
đồng ý (5 điểm) và 10% không ý kiến (3 điểm). Tổng điểm bình quân 4 điểm.
Ban tổ chức lễ hội có trách nhiệm theo dõi và quản lý các hoạt động
trong lễ hội như nguồn nhân lực tham gia nghi thức, an ninh, trật tự, và vệ
sinh môi trường. Tuy không có đại diện cư dân các phường, xã trực tiếp tham
gia lễ hội, nhưng các cơ quan địa phương đã phối hợp chặt chẽ với Ban trị sự
chùa để tổ chức và quản lý các hoạt động liên quan. Sự tự quản và trách
nhiệm cao của cộng đồng đã góp phần lớn vào thành công của lễ hội.
Cộng đồng địa phương không chỉ tham gia trực tiếp vào quản lý lễ hội,
mà còn đóng góp tài chính. Người dân trong và ngoài địa phương đều hướng
về quê nhà và đóng góp những khoản kinh phí tuỳ tâm. Những khoản kinh phí
này đã trở thành nguồn tài chính quan trọng để tổ chức các hoạt động trong lễ
hội và quản lý nhiều khía cạnh của nó. Điều này thể hiện sự tương tác tích cực
61
giữa cộng đồng và lễ hội, góp phần duy trì và phát triển lễ hội một cách tự
nhiên và bền vững.
Theo tinh thần của UNESCO, việc duy trì và phát triển lễ hội dựa trên
quyền của cộng đồng là cực kỳ quan trọng. Việc trao quyền và hỗ trợ cho
cộng đồng, để người dân tự thực hành lễ hội mà không bị áp đặt, tạo nên một
không gian tự nhiên và ý thức của cộng đồng. Do vậy, việc quản lý lễ hội Ok
Om dựa trên cộng đồng địa phương đã được thực hiện theo tinh thần tự
nguyện và ý thức của người dân ở các tổ chức xã hội phường, xã. Điều này đã
mang lại nhiều lợi ích và ý nghĩa quan trọng cho lễ hội.
Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quản lý lễ hội đã góp
phần tạo ra một môi trường lễ hội an lành, văn minh và an toàn. Các tổ chức
xã hội đã chịu trách nhiệm tổ chức và quản lý các hoạt động nghi thức, văn
hóa, thể dục, thể thao, vui chơi và giải trí. Nhờ vào sự nhiệt tình và hăng hái
của các thành viên trong cộng đồng, lễ hội đã trở thành một sự kiện đáng chú
ý và thu hút sự quan tâm của người dân trong và ngoài địa phương.
Sự tham gia của cộng đồng không chỉ giới hạn ở mặt hoạt động, mà
còn lan tỏa đến khía cạnh tài chính. Người dân đã tự nguyện đóng góp kinh
phí để hỗ trợ tổ chức lễ hội. Những khoản kinh phí này đã được sử dụng để tổ
chức các hoạt động trong lễ hội và đảm bảo một môi trường lễ hội tốt hơn.
Điều này chứng tỏ lòng tự hào và tình yêu quê hương của người dân và đồng
thời tạo ra một sự chủ động và tự quản trong việc xây dựng và duy trì lễ hội.
Quản lý lễ hội Ok Om Bok thông qua sự tham gia của cộng đồng địa
phương không chỉ đáng khen ngợi về mặt tổ chức và quản lý, mà còn mang
lại ý nghĩa sâu sắc về tinh thần cộng đồng và sự gắn kết xã hội. Việc tạo ra
một môi trường thuận lợi cho lễ hội và đảm bảo sự tham gia tích cực của
người dân không chỉ góp phần phát triển du lịch văn hóa và kinh tế địa
phương, mà còn thể hiện lòng yêu quê hương, gìn gi tốt truyền thống văn hóa
và tạo nên một tinh thần đoàn kết, hiệp thông trong cộng đồng.
62
Qua việc tham gia quản lý lễ hội, cộng đồng địa phương đã có cơ hội
thể hiện tình yêu và tự hào với đất nước, với nền văn hóa dân tộc. Các tổ
chức xã hội, cư dân các phường, xã đã cùng nhau hợp tác, tổ chức các hoạt
động theo quy mô lớn và có sự phân công công việc rõ ràng. Điều này đã
tạo ra một tinh thần đoàn kết và hợp tác mạnh mẽ, làm tăng thêm sức mạnh
và giá trị của lễ hội.
Ngoài ra, việc tham gia vào quản lý lễ hội cũng đã giúp cộng đồng địa
phương nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường và vệ sinh công cộng. Các hoạt
động như thu gom rác thải, duy trì vệ sinh môi trường và không gian lễ hội đã
được các thành viên trong cộng đồng chia sẻ và thực hiện một cách tự
nguyện. Điều này không chỉ tạo ra một lễ hội sạch đẹp, mà còn góp phần bảo
vệ và duy trì giá trị văn hóa, môi trường sống cho cả người dân và du khách
tham gia lễ hội.
Quản lý lễ hội Ok Om Bok thông qua sự tham gia của cộng đồng địa
phương không chỉ là một nhiệm vụ của chính quyền địa phương, mà còn là
một trách nhiệm và cống hiến của tất cả các thành viên trong cộng đồng. Sự
tham gia tích cực của cộng đồng đã tạo ra một sự hòa quyện giữa truyền
thống và hiện đại, giữa tinh thần cộng đồng và ý thức cá nhân. Đây là một mô
hình thành công trong việc quản lý lễ hội và có thể trở thành nguồn cảm hứng
cho các lễ hội khác trên toàn quốc.
2.3. Đánh giá chung
2.3.1. Ưu điểm
Công tác quản lý lễ hội Ok Om Bok tại thành phố Bạc Liêu đã đạt được
nhiều ưu điểm quan trọng, đóng góp tích cực vào sự thành công và phát triển
của lễ hội. Dưới đây là một số ưu điểm nổi bật:
- Sự tham gia tích cực của cộng đồng: Công tác quản lý lễ hội Ok Om
Bok đã thu hút sự quan tâm và tham gia đông đảo của cộng đồng địa phương.
63
Người dân, các tổ chức xã hội, các đoàn thể và đơn vị chức năng đã tự
nguyện và nhiệt tình tham gia vào các hoạt động quản lý và tổ chức lễ hội.
Điều này thể hiện lòng tự hào và sự gắn kết của người dân với văn hóa
truyền thống và sự kiện quan trọng này. UBND các phường, xã đã phối hợp
với các hội như Ban quản trị các chùa Khmer để tổ chức tự quản các công
việc và hoạt động trong lễ hội. Điều này không chỉ giúp cộng đồng địa
phương tham gia trực tiếp vào quản lý một số hoạt động lễ hội, mà còn thể
hiện tinh thần đoàn kết và trách nhiệm cao của cộng đồng trong việc góp
phần vào sự thành công của lễ hội.
Sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương không chỉ giới hạn
trong việc quản lý và tổ chức lễ hội, mà còn bao gồm việc đóng góp kinh phí.
Người dân tại địa phương, cũng như những người có quê hương tại các
phường, xã, dù đang sinh sống, làm việc hay học tập ở nơi khác, đều hướng
về quê nhà và đóng góp những khoản kinh phí tùy theo khả năng của mình.
Những khoản kinh phí này sau đó được sử dụng làm nguồn tài chính quan
trọng để hỗ trợ hoạt động lễ hội và quản lý một số hoạt động trong lễ hội.
“Phát huy được quản lý cộng đồng trong công tác quản lý các hoạt động văn
hóa - nghệ thuật trong lễ hội. Lễ hội hoành tráng, quy mô một phần biểu hiện
ở lễ rước kiệu, cờ phướn và mô hình các binh đao, khí giới… Ban tổ chức đã
khai thác tương đối tốt vai trò quản lý của các tổ chức xã hội ở cơ sở như: Hội
người cao tuổi, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ… để tham gia vào nghi thức
và mọi hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao, trò chơi… trong lễ
hội. Cùng với quản lý nhà nước bước đầu đã phối hợp với quản lý cộng đồng
là một ưu điểm của sự thành công lễ hội. Tuy vai trò, vị trí của quản lý cộng
đồng trong lễ hội không được ghi trong các văn bản hướng dẫn, quản lý lễ
hội. Nhưng trên thực tiễn, vai trò của quản lý cộng đồng trong hoạt động lễ
hội Ok Om Bok được đánh giá cao. Nhận thức được ý nghĩa cao cả của lễ hội
64
Ok Om Bok, hầu hết người dân các phường, xã tham gia lễ hội đều tự nguyện
tham gia vào hoạt động quản lý để lễ hội diễn ra thành công tốt đẹp
Tổ chức tự quản và trách nhiệm cao: Các tổ chức xã hội, hội đoàn và
đơn vị chức năng đã đảm nhận trách nhiệm quản lý các hoạt động lễ hội một
cách chủ động và tự quản. Họ đã tổ chức và điều phối các công việc từ việc
quản lý nguồn nhân lực, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường đến quản lý tài
chính và dịch vụ. Sự tổ chức và trách nhiệm cao này đã đóng góp rất lớn vào
sự thành công và hiệu quả của lễ hội.
Tăng cường công tác kiểm tra và giám sát: Qua việc thành lập đoàn
kiểm tra liên ngành, các cơ quan chức năng đã thực hiện công tác kiểm tra và
giám sát lễ hội một cách rộng rãi và toàn diện. Các nhiệm vụ kiểm tra bao
gồm việc quản lý tổ chức, nội dung lễ hội, hoạt động dịch vụ, quản lý tài
chính và an toàn trong lễ hội. Điều này đảm bảo tính chuyên nghiệp, tuân thủ
quy định và đảm bảo an toàn cho người tham gia.
Đa dạng hoá nội dung lễ hội: Công tác quản lý lễ hội Ok Om Bok tại
thanh phố Bạc Liêu đã tạo ra sự đa dạng hóa nội dung lễ hội, từ các hoạt động
nghi thức lễ hội, đến hoạt động vui chơi, giải trí. Điều này giúp thu hút sự
quan tâm và tham gia của đa tầng lớp trong cộng đồng, từ trẻ em, thanh thiếu
niên, người già đến các tầng lớp công nhân, nông dân và doanh nhân. Sự đa
dạng này cũng mang lại những trải nghiệm phong phú cho người tham gia và
đồng thời giúp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống.
Quản lý tài chính hiệu quả: Công tác quản lý lễ hội cũng tập trung vào
việc quản lý tài chính phục vụ lễ hội. Các tổ chức xã hội, đoàn thể và cộng
đồng đã đóng góp kinh phí từ tâm huyết của mình để hỗ trợ hoạt động lễ hội.
Quản lý tài chính được thực hiện một cách minh bạch, minh đạt, đảm bảo tính
minh bạch và hiệu quả trong việc sử dụng nguồn kinh phí để đảm bảo các
hoạt động lễ hội diễn ra suôn sẻ và đáng nhớ. “Tài chính là vấn đề quan trọng
65
trong mọi hoạt động phục vụ cho đời sống xã hội. Làm không tốt quản lý tài
chính thì thành công của lễ hội không trọn vẹn, gây ảnh hưởng lớn đến ý
nghĩa cao cả của lễ hội. Ưu điểm của công tác quản lý tài chính của Ban tổ
chức lễ hội là các khoản kinh phí thu chi được công khai chi tiết, rõ ràng trên
báo cáo thu chi tài chính lễ hội, đảm bảo sự minh bạch. Toàn bộ vấn đề tài
chính, khi quyết toán không có bất cứ một uẩn khúc nào”
Tầm quan trọng của tình nguyện viên: Công tác quản lý lễ hội Ok Om
Bok cũng tạo điều kiện và tăng cường vai trò của tình nguyện viên trong quá
trình tổ chức và quản lý lễ hội. Tình nguyện viên đóng vai trò quan trọng
trong việc hỗ trợ các hoạt động lễ hội, từ hướng dẫn, hỗ trợ người tham gia,
quản lý an ninh trật tự, giải quyết các vấn đề phát sinh, đảm bảo sự thuận lợi
và thành công của lễ hội. Sự tận tụy và đam mê của tình nguyện viên đã tạo
nên một không khí tràn đầy năng lượng tích cực trong lễ hội.
Sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng được thực hiện một
cách hiệu quả và tổ chức một cách hoàn chỉnh là một trong những ưu điểm
quan trọng trong công tác quản lý lễ hội Ok Om Bok trong đó Ban Tôn giáo
- Dân tộc đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra và đánh giá các hoạt
động lễ hội.
Sự hợp tác này giúp đảm bảo việc ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn
và tổ chức hoạt động lễ hội được thực hiện đúng quy định. Ngoài ra, các cơ
quan còn đảm nhận trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến và giáo dục thực hiện
nếp sống văn minh và thuần phong mỹ tục của dân tộc trong hoạt động lễ hội.
Hơn nữa, sự hợp tác giữa các cơ quan chức năng còn bao gồm quản lý
các hoạt động dịch vụ trong khu vực lễ hội, quản lý thu, chi tiền công đức và
tiền tài trợ, cũng như công tác vệ sinh môi trường, an ninh trật tự và an toàn
giao thông trong lễ hội. Sự phối hợp này giúp đảm bảo sự thuận lợi và an toàn
cho người dân tham gia lễ hội.
66
Ngoài ra, một ưu điểm khác trong công tác quản lý lễ hội Ok Om Bok
tại Bạc Liêu là sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Cộng đồng
được coi là một bộ phận quan trọng và không thể thiếu trong quá trình quản lý
và tổ chức lễ hội. Các tổ chức xã hội ở phường, xã đã chung tay tham gia vào
công tác quản lý và tổ chức lễ hội.
2.3.2. Hạn chế, tồn tại
Mặc dù có nhiều ưu điểm trong công tác quản lý lễ hội Ok Om Bok tại
Bạc Liêu, nhưng cũng không thể phủ nhận rằng vẫn tồn tại những hạn chế cần
được khắc phục. Dưới đây là một số hạn chế quan trọng:
Thiếu kế hoạch dài hạn: Một trong những hạn chế đáng lưu ý là thiếu
kế hoạch quản lý lễ hội Ok Om Bok dài hạn. Thường xuyên chỉ đạo và quản
lý lễ hội dựa trên kế hoạch ngắn hạn sẽ làm giảm tính liên tục và bền vững
của công tác quản lý. Việc thiếu kế hoạch dài hạn cản trở việc định hướng
phát triển lễ hội và xây dựng các chương trình hoạt động dựa trên mục tiêu và
chiến lược cụ thể. Một hạn chế quan trọng trong công tác quản lý lễ hội Ok
Om Bok tại Bạc Liêu là thiếu kế hoạch phát triển bền vững. Hiện nay, công
tác quản lý tập trung chủ yếu vào việc tổ chức lễ hội mỗi năm mà chưa có sự
định hướng và kế hoạch dài hạn. Việc thiếu kế hoạch phát triển bền vững ảnh
hưởng đến việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội trong tương lai.
Cần xem xét và xây dựng kế hoạch phát triển bền vững để đảm bảo lễ hội Ok
Om Bok được tổ chức một cách bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển du
lịch và kinh tế địa phương.
Thiếu sự phối hợp và liên kết: Công tác quản lý lễ hội Ok Om Bok cần sự
phối hợp và liên kết chặt chẽ giữa các cơ quan, ban, ngành và cộng đồng địa
phương. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc phối hợp và liên kết này chưa đạt được
mức độ cao như mong đợi. Sự chia tách và thiếu tương tác giữa các đơn vị quản
lý làm mất đi sự hiệu quả và tính toàn diện trong công tác quản lý lễ hội. “Thực
67
tế vai trò quản lý của cộng đồng trong lễ hội Ok om Bok mờ nhạt. Trên cơ sở
được sự chỉ đạo, hướng dẫn bởi các văn bản của UBND tỉnh Bạc Liêu, chủ thể
quản lý cấp cao nhất lễ hội Bạc Liêu. Cộng đồng thực hiện tổ chức và quản lý lễ
hội theo sự áp đặt của các bộ phận cơ quan quản lý nhà nước”
Thiếu nguồn lực đầu tư: Công tác quản lý lễ hội đòi hỏi sự đầu tư về
nguồn lực, bao gồm nguồn nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất và công nghệ.
Tuy nhiên, hiện tại, việc cung cấp đủ nguồn lực đầu tư cho công tác quản lý lễ
hội vẫn còn hạn chế. Thiếu nguồn lực đầu tư không chỉ ảnh hưởng đến chất
lượng tổ chức lễ hội mà còn làm hạn chế khả năng quản lý và kiểm soát các
hoạt động trong lễ hội.
Thiếu kiểm soát và giám sát: Công tác kiểm soát và giám sát trong
quản lý lễ hội còn tồn tại nhiều hạn chế.
Vấn đề an ninh và trật tự: Công tác quản lý lễ hội Ok Om Bok cần đảm
bảo an ninh và trật tự trong quá trình diễn ra lễ hội. Tuy nhiên, vẫn còn những
hạn chế về công tác an ninh, đặc biệt là trong việc kiểm soát và ngăn chặn các
hành vi gây rối, xô xát, hoặc vi phạm pháp luật. Thiếu sự hỗ trợ từ lực lượng
chức năng và cơ quan an ninh dẫn đến việc không thể đảm bảo an toàn tuyệt
đối cho du khách và người dân tham gia lễ hội.
Thiếu công tác tuyên truyền và giáo dục: Công tác tuyên truyền và giáo
dục về ý nghĩa và giá trị văn hóa của lễ hội Ok Om Bok còn hạn chế. Việc
tuyên truyền và giáo dục cho cộng đồng về quy định, nội quy và giá trị văn
hóa của lễ hội không được thực hiện đầy đủ và hiệu quả. Do đó, một số người
tham gia lễ hội có thể không có đủ nhận thức và tôn trọng các quy định và
truyền thống của lễ hội, gây ảnh hưởng đến không gian văn hóa và tinh thần
của lễ hội.
Thiếu sự tham gia của cộng đồng địa phương: Mặc dù đã có những nỗ
lực để đưa cộng đồng địa phương tham gia vào công tác quản lý lễ hội, nhưng
68
việc thực hiện vẫn còn hạn chế. Cần tạo điều kiện và khuyến khích sự tham
gia tích cực của cộng đồng địa phương, nhằm tạo sự chủ động và sự đồng
lòng trong việc quản lý và tổ chức lễ hội. Hiện nay, việc tham gia của cộng
đồng địa phương còn chưa được đẩy mạnh, dẫn đến sự thiếu sự tự quản và
tương tác sáng tạo trong quá trình quản lý lễ hội.
Thiếu sự đổi mới và sáng tạo: Công tác quản lý lễ hội Ok Om Bok cần
có sự đổi mới và sáng tạo để thu hút khách du lịch và tạo sự hấp dẫn đối với
công chúng
Công tác quản lý tài chính của lễ hội Ok Om Bok cũng còn hạn chế.
Việc thu, chi và quản lý tài chính chưa được thực hiện một cách minh bạch, rõ
ràng và có kiểm soát chặt chẽ. Điều này dẫn đến khả năng tiềm ẩn của thất
thoát tài chính, lạm phát và thiếu minh bạch trong việc sử dụng nguồn kinh
phí. Cần tăng cường công tác quản lý tài chính, xây dựng quy trình minh bạch
và kiểm soát hiệu quả, đảm bảo nguồn tài chính được sử dụng một cách hợp
lý và mang lại hiệu quả tốt nhất cho lễ hội.
Thiếu hỗ trợ từ các nguồn lực và đối tác: Công tác quản lý lễ hội Ok
Om Bok cần sự hỗ trợ từ các nguồn lực và đối tác, bao gồm cả chính phủ, các
tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, hiện
nay vẫn còn hạn chế trong việc tạo dựng mối quan hệ hợp tác và khai thác các
nguồn lực này. Cần tăng cường giao lưu, hợp tác và hỗ trợ từ các đối tác trong
việc phát triển và quản lý lễ hội
2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế
Có một số nguyên nhân chính gây ra những hạn chế trong công tác quản
lý lễ hội Ok Om Bok tại Bạc Liêu. Dưới đây là một số nguyên nhân phổ biến:
Thiếu nhận thức về giá trị văn hóa và du lịch: Một nguyên nhân quan
trọng là thiếu nhận thức về giá trị văn hóa và tiềm năng du lịch của lễ hội Ok
Om Bok. Điều này có thể dẫn đến sự thiếu quan tâm và đầu tư không đủ vào
công tác quản lý lễ hội, gây ra hạn chế trong việc phát triển và bảo tồn lễ hội.
69
Thiếu quy định và quy trình rõ ràng: Việc thiếu quy định và quy trình
rõ ràng trong công tác quản lý lễ hội là một nguyên nhân khác gây ra hạn chế.
Việc thiếu sự chỉ đạo và hướng dẫn từ phía chính quyền địa phương, cũng
như quy định hợp lý về tổ chức, tài chính, an ninh, và các khía cạnh khác của
lễ hội đồng nghĩa với việc mất đi sự minh bạch và hiệu quả trong quản lý.
Thiếu nguồn lực đầu tư và hỗ trợ: Công tác quản lý lễ hội Ok Om Bok
đòi hỏi sự đầu tư và hỗ trợ về nguồn lực về cả nhân lực và tài chính. Thiếu
nguồn lực đủ để triển khai các hoạt động quản lý, bảo tồn và phát triển lễ hội
gây ra hạn chế trong việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý và giới hạn khả
năng phát triển của lễ hội.
Thiếu năng lực và kiến thức chuyên môn: Cán bộ và nhân viên tham
gia công tác quản lý lễ hội cũng đối mặt với thiếu năng lực và kiến thức
chuyên môn. Việc thiếu năng lực và kiến thức trong lĩnh vực quản lý lễ hội,
văn hóa và du lịch làm giảm hiệu quả và đồng thời tạo ra những rủi ro trong
công tác quản lý.
Thiếu quyền lực và trách nhiệm của cộng đồng địa phương: Một yếu tố
quan trọng trong công tác quản lý lễ hội là sự tham gia và trách nhiệm của
cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, thiếu quyền lực và trách nhiệm của cộng
đồng địa phương dẫn đến việc thiếu sự tương tác tích cực và sự đồng lòng
trong việc bảo vệ, quản lý và phát triển lễ hội. Điều này cản trở quá trình quản
lý và đặt ra những hạn chế về mặt tài chính, nhân lực và hỗ trợ của cộng đồng.
Ảnh hưởng của thị trường du lịch: Lễ hội Ok Om Bok chịu ảnh hưởng
của thị trường du lịch địa phương. Trong nỗ lực thu hút khách du lịch và
tăng thu nhập, một số tổ chức có thể tập trung quá mức vào khía cạnh kinh
doanh và tiếp thị, bỏ qua việc bảo tồn và quản lý lễ hội một cách bền vững.
Điều này có thể gây ra mất cân đối trong việc duy trì giá trị văn hóa và
truyền thống của lễ hội.
70
Thiếu phản hồi từ khách du lịch và cộng đồng: Một nguyên nhân khác
là thiếu phản hồi đầy đủ từ phía khách du lịch và cộng đồng địa phương. Sự
thiếu thốn thông tin phản hồi và góp ý từ những người tham gia lễ hội và cư
dân địa phương gây ra khó khăn trong việc cải tiến và đáp ứng nhu cầu của
khách du lịch cũ
2.4. Những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý lễ hội Ok Om Bok
ở thành phố Bạc Liêu hiện nay
2.4.1. Những biến đổi trong tổ chức lễ hội Ok Om Bok ở thành phố
Bạc Liêu hiện nay
- Sự biến đổi về cách thức tổ chức lễ hội
Lễ hội theo phong tục tập quán của người Khmer ở tỉnh Bạc Liêu nói
chung và thành phố Bạc Liêu, đặc biệt là lễ hội Ok Om Bok đều có tính chất
và quy mô khác nhau, vì vậy cách thức tổ chức cũng khác nhau. Nếu như
ngày xưa, vai trò của nhà chùa, Sư sãi, các vị Achar, lão làng có uy tín trong
cộng đồng rất quan trọng. thì ngày nay vẫn được xã hội rất quan tâm trận
trọng và phát huy về vai trò chủ đạo đứng ra chủ trì, làm chủ lễ, tổ chức các
nghi thức hành lễ theo đúng phong tục - lễ hội truyền thống của dân tộc.
Ngoài ra, còn có sự tham gia của chính quyền ở cấp độ khác nhau vào
việc quản lý, chỉ đạo tổ chức lễ hội của địa phương cũng góp phần nâng cao
về ý nghĩa, tầm quan trọng của lễ hội như ở chùa Xiêm Cáng xã Vĩnh Trạch,
thành phố Bạc Liêu. Điều này cho thấy công tác tổ chức lễ hội đã có sự quan
tâm, tham gia và thể hiện trách nhiệm cộng đồng xã hội từ phía các cấp chính
quyền nhà nước, sự tham gia của cộng đồng dân tộc. Sư sãi và nhà chùa ở các
phum sóc trong tỉnh.
Cũng từ đó, ngoài phần lễ được tổ chức một cách trang trọng, nghiêm
túc, phần hội cũng được bổ sung nhiều nội dung mới, như nghỉ thức khai mạc
lễ hội góp phần làm tăng thêm phần sinh khí với nhiều loại hình hoạt động,
71
sinh hoạt văn hóa, văn nghệ phong phú đa dạng và sôi nổi, phù hợp với tính
chất đặc điểm của lễ hội Ok om bok và đặc trưng văn hóa truyền thống của
dân tộc. Bên cạnh đó, công tác an ninh trật tư phục vụ bà con dân tộc và nhân
dân đến chung vui dự lễ cũng được đảm bảo an toàn, làm cho cách thức tổ
chức lễ ngày càng đi vào quy củ, nề nếp.
- Sự biến đổi về không gian và thời gian tổ chức
Về không gian tổ chức: theo phong tục ngày xưa thường chỉ trong
phạm vi của trong chùa hoặc gia đình trong phạm vi địa phương. Ngày nay, lễ
hội Ok om bok đã được mở rộng về quy mô không gian tổ chức trên phạm
liên tỉnh, liên vùng và quy mô tổ chức cũng ngày càng lớn hơn
- Về thời gian tổ chức: lễ hội Ok Om bok ngày nay đã trở thành một
sản phẩm văn hóa du lịch đặc thù của thành phố Bạc Liêu, nên tử nhiều năm
nay thời gian tổ chức có thể kéo dài nhiều ngày hơn. Nguyên nhân do nhu cầu
phát huy giá trị lễ hội cho xứng tầm và thu hút du khách để phát triển du lịch
ở địa phương.
- Biến đổi về lễ vật dâng cúng
Chuẩn bị lễ vật dâng cúng là một việc làm trọng đại, thể hiện niềm tin
của người Khmer đối với Đức Phật hay các vị thần. Vật dâng cúng cũng là thể
hiện tính chất, bản chất của lễ hội là một trong thành tố thu hút mọi người về
dự lễ hội. Không chỉ vậy, lễ vật còn là một thành tố được coi là linh thiêng,
chứa đựng năng lượng thiêng để dâng Phật tế thần, đồng thời phản ánh, thể
hiện sự tôn kính, tỉnh cảm, thái độ, trách nhiệm của người Khmer dành cho
Đức Phật và các vị thần.
Qua khảo sát thực tế về lễ vật được sử dụng trong tổ chức lễ hội Ok
Om Bok tại chùa Xiêm Cáng xã Vĩnh Trạch thành phố Bạc Liêu lễ vật dâng
cúng của người Khmer có sự thay đổi nhất định như: Theo phong tục từ xa
xưa của người Khmer, việc sử dụng đèn cầy trong làm lễ phải là màu vàng
72
hay màu trắng nhưng ngày nay hầu hết đều sử dụng đèn cầy màu đỏ; hay một
số loại bánh dân tộc có ý nghĩa sâu sắc trong hầu như hiếm khi nhìn thấy
được, Cốm dẹp ngày nay được làm sẵn có thể mua ngoài chợ, người Khmer
hiện nay tại Bạc Liêu nói chung và thành phố Bạc Liêu nói riêng không còn
trực tiếp sản xuất cốm dẹp từ nếp để làm lễ vật cúng trăng, các loại củ làm lễ
vật truyền thống trước đây hiện nay được thay thế bằng khoai môn, quýt,
cam, bánh in mua sẵn để dân cúng thần mặt trăng
- Sự biến đổi về yếu tố nghệ thuật, trình diễn trò chơi dân gian
Theo tập tục truyền thông, mỗi phong tục, lễ hội của người Khmer đều
có hình thức trò chơi, trò diễn kèm theo dưới dạng diễn xướng, kết hợp dàn
nhạc dây truyền thống, múa đối. Những trò chơi, trò diễn ấy trong lễ hội ngày
nay đã biến đổi dần, ít khi thấy thực hiện như các trò chơi dân gian trong lễ
không còn chú trọng, âm nhạc truyền thống thay vào bằng dàn nhạc điện tử
(hiện đại),
Tuy nhiên, nếu nhận xét một cách khách quan cho thấy: Những biến
đối trong lễ hội của người Khmer ở Bạc Liêu nhìn chung vừa mang lại nhiều
lợi ích thiết thực vừa phù hợp với cuộc sống hiện tại. Điều quan trọng là vẫn
giữ được những cốt cách, căn cơ, tính trang trọng của lễ hội cũng như bản sắc
văn hóa dân tộc một cách rõ ràng, đậm nét. Điểm biến đổi nhiều nhất là môi
trường lễ hội được chuẩn bị khang trang hơn, lễ vật có sự xuất hiện các vật
phẩm công nghiệp hiện đại, thành phần tham gia lễ hội có bổ sung khách du
lịch và người dân các phum, sóc khác trong vùng, sự xuất hiện các trò chơi
mới và liên hoan văn nghệ, quỹ chi phí cho lễ hội nhiều hơn vì có sự hỗ trợ từ
nhiều nguồn kinh phí khác nhau, trang phục các thành phần tham gia hội cũng
có sự lộn xộn giữa trang phục hiện đại/ truyền thống…
* Nguyên nhân của sự biến đổi lễ hội
Trong những năm gần đây, lễ hội ok om bok có những biến đổi nhất
định như đã phân tích ở trên. Những biến đổi đó xuất phát từ nhiều nguyên
73
nhân, như sinh kế thay đổi, đời sống kinh tế nâng cao, tiếp nhận những thành
tựu về khoa học công nghệ và những chính sách có liên quan đến vùng ven
biển của Nhà nước, chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế, biến đổi khí hậu…
- Đời sống kinh tế người dân Khmer được nâng cao
Trong những năm gần đây, sự phát triển về kinh tế là yếu tố quan trọng
tác động đến sự biến đổi văn hóa, lễ hội truyền thống của người Khmer. Kinh
tế phát triển khiến đời sống người Khmer được nâng cao, họ có điều kiện
đóng góp tiền bạc cho các hoạt động lễ hội của phum, sóc. Bên cạnh đó không
thể không nói đến nguồn hỗ trợ đáng kể từ những người con xa xứ - bộ phận
kiều bào đang sinh sống ở nước ngoài, hoặc đi làm ăn xa.
Mặt khác, kinh tế phát triển, nhu cầu đời sống tinh thần nâng cao,
người dân có điều kiện được tiếp xúc và hưởng thụ nhiều thành tựu văn hóa
mới lạ, nhiều hoạt động vui chơi giải trí hấp dẫn, và hệ quả là lễ hội truyền
thống ít nhiều có sự biến đổi, đồng thời xuất hiện một số lễ hội hiện đại để
đáp ứng nhu cầu, thị hiếu mới của người dân
“Một số gia đình trong phum, sóc đều có con em ở nước ngoài nên
hàng năm đều gửi tiền về cho người thân, để tổ chức các hoạt động cộng
đồng. Rồi việc trồng rau, trồng lúa, nuôi tôm thu nhập cũng cao hơn nên ai
cũng mong muốn tổ chức lễ hội cúng thần linh với hình thức, quy mô to lớn
hơn trước đây” [Nguồn: Tác giả phỏng vấn Ông DQ, năm sinh 1979, xã Vĩnh
Trạch Đông, 2022]
Có thể thấy, chính nhờ đời sống kinh tế được cải thiện, người dân
Khmer càng có điều kiện quay trở lại phục hồi các lễ hội truyền thống, như
vừa để tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên, thần linh, cầu mong được an lành, mùa
màng bội thu vừa là để thụ hưởng các giá trị văn hóa lễ hội như thỏa mãn đời
sống tâm linh, thắt chặt quan hệ cộng đồng, kích cầu du lịch… Và quá trình
74
phục hồi đó, tất yếu sẽ có những biến đổi nhất định trong không gian tổ chức,
lễ vật, lễ nghi của lễ hội.
- Sự phát triển của khoa học - công nghệ
Cùng với sự phát triển về kinh tế tại địa phương, đặc biệt là du lịch,
thương mại dịch vụ, nuôi trồng thủy sản đặc biệt là nuôi tôm công nghệ cao,
trải bạt đem lại nhiều thay đổi về kinh tế đã khiến những tri thức dân gian,
niềm tin tín ngưỡng của con người vào các thế lực siêu nhiên, các vị thần
dường như dần bị mai một. Theo đó, lễ hội truyền thống với không gian tâm
linh sâu lắng cũng ít nhiều bị biến đổi và có xu hướng lãng quên, đặc biệt là
tầng lớp thanh thiếu niên hiện nay.
- Quá trình giao lưu, ảnh hưởng văn hoá, văn minh hiện đại
Trong những năm gần đây, ở vùng người Khmer đã diễn ra quá trình
giao lưu, ảnh hưởng văn hóa hiện đại, nhất là văn hoá của 02 dân tộc Kinh và
Hoa cũng như quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đây cũng là nhân tố
dẫn đến xu hướng biến đổi lễ hội của người Khmer, như sự thay đổi trang
phục, ẩm thực, các phương tiện máy móc hiện đại trong lễ hội truyền thống,
sự xuất hiện các lễ hội mới, trò chơi mới… Rõ ràng, nếu như trước đây, cộng
đồng người Khmer về cơ bản mọi giá trị của lễ hội đều được bảo tồn trong cơ
chế tự quản ngày nay môi trường văn hóa và văn minh hiện đại tác động đến
đời sống của người dân, nên văn hóa truyền thống, trong đó có lễ hội cũng
được biến đổi để tạo nên sự cân bằng giữa con người với xã hội và giữa con
người với môi trường tự nhiên. Trong tình hình đó, có khi cái mới chưa được
lựa chọn đã tác động đến đời sống lễ hội của người dân làm cho hoạt động
văn hóa này vốn linh thiêng, sâu lắng đã xuất hiện những vết nhòa, vết gợn,
thể hiện rõ nhất ở trang phục của những người tham gia lễ hội bị lai căng,
kệch cỡm; yến tiệc tổ chức linh đình, tốn kém; nhạc cụ, loa phóng thanh công
suất lớn làm náo động cả một vùng quê, thậm chí có trường hợp, văn hóa lễ
hội mất đi những giá trị “linh thiêng” cốt lõi
75
“Trong phum, sóc của người Khmer có những hộ kinh doanh loa máy,
nên mỗi khi tổ chức lễ hội cũng thuê họ đến hát hò gây tiếng ồn ảnh hưởng đến
người dân xung quanh. Các lễ vật, món ăn, đồ uống cũng có thể mua sẵn nên
không còn giữ được những nét truyền thống như trước đây”. [Nguồn: Tác gải
phỏng vấn Ông TV sinh năm 1972, Phường 1, Thành phố Bạc Liêu, năm 2022]
- Sự phát triển của kinh tế thị trường
Từ khi Việt Nam bước sang nền kinh tế thị trường, đời sống kinh tế,
văn hóa, xã hội của các cộng đồng dân cư trên đất nước Việt Nam, trong đó
có người dân tộc Khmer tại Bạc liêu có sự biến đổi. Chính sự nghiệt ngã của
kinh tế thị trường, như là một tất yếu làm giảm đi tính cộng đồng, sự gắn bó
lẫn nhau, và theo đó đời sống lễ hội của người Khmer cũng ít nhiều biến đổi,
thậm chí có những lễ hội bị mờ nhạt, lãng quên .
Như vậy, quá trình biến đổi lễ hội truyền thống của cộng đồng người
Khmer tại thành phố Bạc Liêu trong những năm gần đây bắt nguồn từ nhiều
nguyên nhân. Trong đó có những biến đổi thuộc về nguyên nhân này, có biến
đổi thuộc về nguyên nhân khác, có nghĩa là một lễ hội nào đó chịu sự biến đổi
không bắt buộc phải có nhiều nguyên nhân.
Biểu đồ 2.8. Kết quả khảo sát nguyên nhân biến đổi của
của lễ hội Ok Om Bok tại thành phố Bạc Liêu
Nguồn: Kết quả khảo sát
76
Theo đó, có 87,8% người dân ở ba điểm nghiên cứu (Xã Vĩnh Trạch,
Phường 5, Thành Phố Bạc Liêu, và Phường 8, Thành phố Bạc Liêu) đồng tình
nguyên nhân do tác động kinh tế thị trường, 77,6% do tác động của khoa học
công nghệ, 53,2% do tiếp thu văn hóa hiện đại, 47,7% , do đời sống nâng cao,
29,3% do chính sách của Đảng, Chính phủ và chính quyền địa phương. Các
thông số đó ít nhiều phản ánh mức độ các nguyên nhân tác động đến sự biến
đổi lễ hội Oc om bok hiện nay của người Khmer
2.4.2. Về công tác quản lý lễ hội
- Nhận thức về lễ hội và quản lý lễ hội
Dưới tác động của cơ chế thị trường và xu hướng giao lưu, hội nhập, lễ
hội ở nước hiện nay đã chuyển qua một giai đoạn mới, không còn chỉ mang ý
nghĩa đáp ứng tự thân về tinh thần của cộng đồng và bó hẹp trong những
không gian nhất định như trước đây. Hơn nữa, trong cơ chế thị trường với
nhiều cạnh tranh khốc liệt, con người luôn trong tâm trạng bất an, vì thế mà
người dân tìm đến không gian tâm linh để cầu tài lộc. Việc tổ chức lễ hội nảy
sinh ra hàng loạt những vấn đề phức tạp:
Việc thương mại hóa lễ hội dẫn tới nạn chặt chém, buôn thần bán
thánh. Dịch vụ nghỉ, ăn, đi lại đến các phí tham quan, giá cả các mặt hàng
trong các ngày lễ hội đều tăng vọt, dịch vụ bói toán, hầu đồng ở nhiều điểm lễ
hội, nhất là những lễ hội lớn …
Việc coi lễ hội là cơ hội quảng bá thương hiệu cho địa phương dẫn đến
phương thức tổ chức lễ hội hoành tráng, chạy theo tâm lý con gà tức nhau
tiếng gáy hoặc hiện tượng tự nâng cấp lễ hội…
Trước thực trạng các xu hướng biến đổi của lễ hội đang diễn ra nhanh
chóng như hiện nay, có thể thấy việc tổ chức và quản lý lễ hội vô cùng lộn
xộn, mất bản sắc văn hóa dân tộc, gây ra nhiều hậu quả cho cả nhà quản lý và
cộng đồng.
77
Sự biến đổi của lễ hội dân gian và sự xuất hiện của nhiều loại hình lễ
hội hiện đại là một yếu tố khách quan trong đời sống văn hóa. Vì thế không
nên lấy các nguyên lý tổ chức lễ hội truyền thống làm khuôn mẫu mọi lễ hội.
Mọi bước trong tổ chức lễ hội cần được tính toán sao vừa đảm bảo yếu tố
gốc, vừa trở thành sự kiện đáng nhớ, đáp ứng được các mục đích của người
tham gia lễ hội về vấn đề tâm linh, trải nghiệm đời sống hiện đại. Muốn vậy
cần bám sát thực tiễn, tổng kết thực tiễn trên cơ sở lý luận về quản lý văn
hóa, trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh vai trò chủ thể của cộng đồng trong tổ
chức lễ hội.
- Đào tạo đội ngũ tổ chức, quản lý lễ hội
Khảo sát của Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch tỉnh về tình hình đội ngũ
cán bộ làm công tác quản lý văn hóa nói chung và lễ hội Ok Om Bok nói
riêng cho thấy: có 29,5% cán bộ quản lý lễ hội được đào tạo ngành văn hóa
nghệ thuật, 11,5% đào tạo ngành xã hội nhân văn, 8,2% đào tạo chuyên ngành
kinh tế và 50,8% đào tạo các ngành khác.
Thống kê về tình hình đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ văn hóa cho
thấy: đối tượng cán bộ cấp huyện, có 82,3% đã tham gia các lớp về chuyên
môn, nghiệp vụ lĩnh vực văn hóa; 36,9% đã tham gia các lớp về chuyên môn,
nghiệp vụ lĩnh vực TDTT; 35,4% được tham gia các lớp về chuyên môn,
nghiệp vụ lĩnh vực du lịch; 38,0% được tham gia các lớp về chuyên môn,
nghiệp vụ lĩnh vực gia đình; 21,5% chưa tham gia lớp bồi dưỡng nào. Việc
tập huấn, bồi dưỡng chưa thực sự hiệu quả do nhiều nguyên nhân, trong đó
chủ yếu do đội ngũ cán bộ, công chức này quá bận, phần lớn không bố trí, sắp
xếp thời gian tham gia. Nội dung chương trình tập huấn, bồi dưỡng còn nặng
tính lý thuyết, thiếu thực tiễn, chủ yếu là phổ biến văn bản mới mà thiếu
những lớp kỹ năng tác nghiệp, đặc biệt là các kiến thức, kỹ năng dành riêng
cho công tác quản lý lễ hội hầu như không có.
78
Nghiên cứu trên còn chỉ ra năng lực giải quyết công việc của đội ngũ cán
bộ. Lực lượng ở các địa phương rất mỏng, thiếu kiến thức, kỹ năng tác nghiệp,
nhưng phải đảm đương khối lượng công việc tương đối lớn. Trong đó, một số
lượng không nhỏ cán bộ không được đào tạo đúng chuyên ngành nên khả năng
dự báo, phán đoán, xử lý tình huống không tốt. Bên cạnh đó, việc thực thi chức
năng, nhiệm vụ, tập hợp, phát huy sức mạnh tập thể, đơn vị và quần chúng
trong hoạt động quản lý lễ hội cũng như giải quyết công việc liên quan còn
nhiều hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng các hoạt động.
Chủ thể quản lý là yếu tố quyết định chất lượng của công tác quản lý lễ
hội. Những thực trạng nêu trên cho thấy hiện nay ở nước ta rất thiếu đội ngũ
cán bộ có khả năng về quản lý, chỉ đạo và trực tiếp tổ chức các sự kiện, lễ hội.
Chương trình tổ chức lễ hội cũng chưa được giảng dạy thành một ngành học
trong hệ thống các trường văn hóa, tuy nhiên số cán bộ am hiểu để có thể trở
thành chuyên gia về lễ hội hầu như rất ít. Vì vậy, Sở VH TT và Du lịch cần
tăng cường đào tạo nguồn nhân lực ở nhiều cấp độ khác nhau, có khả năng
độc lập nghiên cứu, chỉ đạo thực tiễn, biết cách tham khảo kinh nghiệm ở các
địa phương khác, có khả năng tham mưu xây dựng các văn bản mang tính
chất quản lý đặc thù. Bên cạnh đó, cần đội ngũ có khả năng viết kịch bản lễ
hội, xây dựng chương trình, đề án lễ hội, hoặc đào tạo các tổng đạo diễn sự
kiện, nhạc sĩ, biên đạo, họa sĩ có khả năng sáng tác nhạc, sáng tác múa, sáng
tác các logo trang trí lễ hội…
Đối với cấp xã, phường, cần tập huấn về các nguyên tắc, quy chế, kiến
thức chuyên môn về quản lý lễ hội cho cán bộ chuyên trách ban văn hóa xã
phường, cán bộ đoàn thể; phát hiện, bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ có khả năng
làm MC, tổ chức các sự kiện, trang trí, sử dụng âm thanh, ánh sáng phù hợp.
Tập hợp và phát huy một cách hiệu quả đội ngũ già làng, nghệ nhân dân gian,
thày cúng am hiểu về lễ hội cổ truyền trong tham gia tổ chức, quản lý lễ hội
cũng như truyền dạy tri thức lễ hội cho lớp trẻ trong cộng đồng.
79
- Truyền thông về lễ hội
Có thể nói, trong xã hội hiện nay, vai trò của thông tin quảng bá ngày
càng đóng vai trò quyết định đến sự thành công của lễ hội. Cần bổ sung thêm
các nội dung như chiến dịch truyền thông về giá trị các lễ hội, kế hoạch tổ
chức và yêu cầu đối với người tham gia nhằm hướng dẫn, tạo nhận thức, hiểu
biết cần thiết cho cộng đồng. Hiện nay, quảng bá về lễ hội đã được đa dạng
hóa qua nhiều kênh: thông tin trực tiếp như phổ biến trong các buổi họp thôn
bản, họp đoàn thể, hệ thống chợ phiên…; thông tin qua hệ thống thông tin đại
chúng như phát thanh, truyền hình, báo in, mạng internet, mạng xã hội…
Trong điều tra cho thấy, việc biết tới các lễ hội của khách du lịch có tới 68-
85% thông qua hệ thống internet, nhất là các mạng xã hội Facebook, Zalo...
Vì vậy, ngành văn hóa và các địa phương cần kết hợp, đa dạng hóa các loại
hình thông tin trong việc quảng bá, tuyên truyền về lễ hội.
- ông tác tổ chức để đạt hiệu quả quản lý lễ hội
Trong xã hội cổ truyền, việc tổ chức lễ hội cộng đồng dựa trên các ban
quản lý gọn nhẹ mang tính chất gia đình, dòng họ, phum sóc tương ứng với
phạm vi hẹp của lễ hội. Hiện nay do lễ hội có tính mở rộng, giao lưu nên cần
xây dựng chương trình, kịch bản phù hợp nhằm tạo hiệu quả về tổ chức, quản
lý ngay trong chính nội dung lễ hội. Để làm được điều này, ban tổ chức lễ hội,
chính quyền địa phương, các lực lượng liên ngành cần có kiến thức và khả
năng xử lý tình huống nhanh nhạy. Chính quyền địa phương tránh quản lý quá
sâu, thậm chí lấn sân cộng đồng trong việc tổ chức chương trình lễ hội.
Việc tổ chức lễ hội cần đảm bảo không gian thiêng, không coi nhẹ, hạn
chế phần nghi lễ. Các khâu của lễ hội cần được tính toán tới việc tạo điều kiện
động viên, thu hút để người đến lễ hội có điều kiện trải nghiệm, sáng tạo chứ
không đơn thuần chỉ thụ động tham gia quan sát, chụp ảnh, không hòa đồng
với cộng đồng, không cảm nhận được không khí thiêng của hội. Ngoài những
80
chương trình mang đặc trưng riêng của địa phương, cũng có chương trình thu
hút đông đảo sự tham gia của du khách, tạo tính hoạt náo trong lễ hội. Đó là
các màn biểu diễn đường phố, chương trình múa tập thể, chương trình sinh
hoạt cộng đồng đan xen giữa cư dân địa phương và du khách như khám phá
nghề thủ công, tham gia nghề nông, đánh bắt cá, tham gia các trò chơi mang
tính cộng đồng… Các chương trình lễ hội du lịch cần chú ý tới việc xây dựng
các chương trình sau lễ khai mạc, như thăm làng nghề, khám phá mô hình
cộng đồng sở tại, đua thể thao mang tính quần chúng, hội chợ… Tóm lại, sau
chương trình chính, căn cứ vào nhu cầu của du khách để tổ chức các chuỗi sự
kiện tiếp theo. Trong chuỗi sự kiện đó cần phải xây dựng, bố trí sự kiên định,
mang tính cao trào của lễ hội.
Cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về việc thực hiện nếp
sống văn minh tại các lễ hội với nhiều hình thức hiệu quả hơn. Cán bộ quản lý
các cấp cần nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí, giá trị văn hóa, ý nghĩa của lễ
hội để có cách nhìn nhận, tính toán trong tổ chức, quản lý một cách hiệu quả
nhất, tránh kinh doanh vụ lợi trong tổ chức lễ hội, gắn lợi ích nhóm và cá
nhân khi được giao nhiệm vụ.
81
* Tiểu kết Chƣơng 2
Trong nội dung chương 2, luận văn đã phân tích tổng quan về thực
trạng quản lý lễ hội Ok Om Bok ở Thành phố Bạc Liêu hiện nay. Chương này
đã phân tích và trình bày về những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và các vấn
đề đặt ra trong công tác quản lý lễ hội.
Qua việc nghiên cứu, chúng ta nhận thấy rằng công tác quản lý lễ hội
Ok Om Bok ở Bạc Liêu đã đạt được một số ưu điểm đáng kể. Sự chú trọng
đến việc quản lý, tổ chức và thực hiện lễ hội đã mang lại những kết quả tích
cực. Các cơ quan chức năng, tổ chức xã hội và cộng đồng địa phương đã có
sự tham gia tích cực trong quá trình quản lý và tổ chức lễ hội, góp phần tạo
nên thành công của lễ hội Ok Om Bok.
Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phớt lờ những hạn chế và vấn đề
đặt ra trong công tác quản lý lễ hội. Sự thiếu kế hoạch chi tiết và chiến lược
dài hạn, thiếu nguồn lực đầu tư và tài trợ, thiếu quy định và quy trình rõ ràng
cùng với sự thiếu sự tham gia và đồng lòng của cộng đồng là những hạn chế
quan trọng cần được khắc phục.
Nguyên nhân của những hạn chế trên phần lớn xuất phát từ sự thiếu
thông tin, sự không nhất quán trong quy định và quy trình quản lý, cũng như
sự thiếu nguồn lực và sự tham gia tích cực của cộng đồng. Điều này yêu cầu
sự tập trung và đồng thuận từ các cơ quan chức năng, tổ chức xã hội và cộng
đồng địa phương để đảm bảo một công tác quản lý lễ hội Ok Om Bok hiệu
quả và bền vững.
Để giải quyết các vấn đề này, cần có những biện pháp cụ thể. Đầu tiên,
cần xây dựng kế hoạch chi tiết và chiến lược quản lý lễ hội Ok Om Bok dựa
trên các nghiên cứu và đánh giá chi tiết về quy mô, tài nguyên, hoạt động và
tác động của lễ hội. Kế hoạch này phải bao gồm các mục tiêu, định hướng và
biện pháp cụ thể để đảm bảo quản lý hiệu quả và bền vững của lễ hội. Nội
dung này sẽ được trình bày trong chương 3.
82
Chƣơng 3
PHƢƠNG HƢỚNG, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC QUẢN LÝ LỄ HỘI OK OM BOK Ở THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
3.1. Phƣơng hƣớng và nhiệm vụ
3.1.1. Phương hướng
Trong thời gian tới, UBND tỉnh Bạc Liêu coi các hoạt động lễ hội văn
hoá như là một công cụ để quản lý xã hội, quản lý văn hoá và phát triển kinh
tế. Vì vậy UBND tỉnh đã đưa ra một số định hướng trong việc quản lý lễ hội
Ok Om Bok ở Thành phố Bạc Liêu như sau:
Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa: Đảm bảo lễ hội Ok Om Bok được
tổ chức theo truyền thống và bản sắc văn hóa địa phương. Tập trung bảo tồn
và phát triển các hoạt động truyền thống, nghi lễ, văn hóa, văn nghệ đặc sắc
của lễ hội.
Quản lý và phát triển hạ tầng: Xây dựng, nâng cấp hạ tầng cơ sở để
đảm bảo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội. Bao gồm cải thiện hệ
thống giao thông, cơ sở vật chất, khu vực trưng bày và biểu diễn.
Tăng cường an ninh và trật tự: Đảm bảo an ninh, trật tự và an toàn cho
người tham gia và khách du lịch trong suốt quá trình diễn ra lễ hội. Tăng
cường hệ thống giám sát, kiểm soát, quản lý nguồn nhân lực và tài chính để
đảm bảo sự ổn định và an toàn.
Quảng bá và thu hút du lịch: Phát triển chiến lược quảng bá lễ hội Ok
Om Bok nhằm thu hút du khách và tăng cường nguồn lợi kinh tế cho địa
phương. Tạo ra các chương trình và hoạt động liên quan đến lễ hội để thu hút
sự quan tâm và tham gia của khách du lịch.
Tăng cường quản lý và hợp tác đa bên: Xây dựng cơ chế quản lý lễ hội
tập trung vào sự hợp tác giữa các cơ quan chức năng, tổ chức địa phương,
cộng đồng dân cư và các đối tác liên quan. Tạo ra một môi trường hợp tác và
83
chia sẻ trách nhiệm để đảm bảo công tác quản lý lễ hội được thực hiện một
cách hiệu quả và bền vững.
Đào tạo và nâng cao nhận thức: Đào tạo và nâng cao năng lực cho nhân
viên quản lý lễ hội, cán bộ địa phương và cộng đồng địa phương về công tác
quản lý lễ hội. Tạo ra các chương trình đào tạo chuyên sâu về quản lý lễ hội,
văn hóa, du lịch và an ninh để nâng cao nhận thức và kỹ năng cho các bên
liên quan.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục: Thực hiện các hoạt động
tuyên truyền, giáo dục và phổ biến về lễ hội Ok Om Bok nhằm nâng cao nhận
thức của cộng đồng địa phương và du khách về ý nghĩa, giá trị văn hóa và
truyền thống của lễ hội. Tạo ra các chương trình giáo dục về lễ hội trong các
trường học và cộng đồng để truyền bá và truyền thụ kiến thức về lễ hội cho
thế hệ trẻ.
Xây dựng cơ chế giám sát và đánh giá: Thành lập cơ quan hoặc đội ngũ
chuyên trách giám sát và đánh giá công tác quản lý lễ hội. Thực hiện việc đo
lường, đánh giá và cải thiện hiệu quả quản lý lễ hội thông qua việc thu thập
dữ liệu, phân tích và đưa ra các biện pháp cải tiến.
Phát triển nguồn lực tài chính: Tìm kiếm nguồn tài trợ và đầu tư để phát
triển lễ hội Ok Om Bok. Xây dựng các chương trình tài trợ và hỗ trợ từ các tổ
chức, doanh nghiệp, và các nguồn tài chính khác để đảm bảo nguồn lực tài
chính ổn định cho công tác quản lý lễ hội.
Đối tác quốc tế và khu vực: Mở rộng quan hệ hợp tác và đối tác với các
tổ chức quốc tế và khu vực liên quan đến lễ hội, nhằm học hỏi kinh nghiệm
quản lý, chia sẻ kiến thức và tạo ra những cơ hội hợp tác, trao đổi văn hóa và
du lịch.
3.1.2. Nhiệm vụ
Công tác quản lý lễ hội đóng vai trò quan trọng để đảm bảo sự thành
công, an toàn và trải nghiệm tích cực cho tất cả các người tham gia. Dưới đây
là một số nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý lễ hội:
84
Xác định mục tiêu, phạm vi và quy mô của lễ hội. Lập kế hoạch các hoạt
động, chương trình, thời gian và địa điểm tổ chức một cách chi tiết, cụ thể.
Dự tính và quản lý nguồn tài chính cho lễ hội, bao gồm việc xác định
nguồn thu, chi phí hoạt động và lập ngân sách.
Đảm bảo rằng các biện pháp an toàn và an ninh được thực hiện, bao
gồm kiểm tra an toàn cơ sở hạ tầng, phương tiện giao thông và các hoạt động
trong lễ hội.
Theo dõi và kiểm tra quá trình thực hiện các hoạt động trong lễ hội để
đảm bảo tuân thủ kế hoạch và quy định.
Đảm bảo có kế hoạch quản lý giao thông, vị trí đỗ xe an toàn và thuận
tiện cho người tham gia.
Đảm bảo rằng lễ hội mang lại trải nghiệm tích cực cho người tham gia
bằng cách cung cấp các hoạt động, chương trình giải trí, thực phẩm và dịch vụ
hấp dẫn.
3.2. Giải pháp
3.2.1. Hoàn thiện cơ cấu bộ máy tổ chức và cơ chế quản lý lễ hội
Để hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý lễ hội Ok Om Bok tại
Bạc Liêu, các giải pháp và biện pháp cụ thể sau đây có thể được áp dụng:
Hoàn thiện cơ cấu tổ chức Ban quản lý lễ hội: Tạo ra một Ban quản lý
lễ hội Ok Om Bok chuyên trách, có đủ quyền hạn và trách nhiệm để điều
hành và quản lý các hoạt động liên quan đến lễ hội. Ban quản lý cần có cơ cấu
tổ chức rõ ràng, bao gồm các tiểu ban chuyên môn như nội dung kịch bản,
trang trí khánh tiết, an ninh, trật tự, quản lý tài chính và các tiểu ban khác tùy
theo yêu cầu của lễ hội.
Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho lễ hội: Xác định các công việc
chuyên môn trong lễ hội và đào tạo nguồn nhân lực phù hợp để đảm bảo tính
chuyên nghiệp và chất lượng của lễ hội. Điều này có thể bao gồm việc xây
85
dựng chương trình đào tạo, hợp tác với các trường đào tạo chuyên ngành
tương đương hoặc tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ và
nhân viên phục vụ lễ hội.
Định rõ vai trò và trách nhiệm của các bên liên quan: Xác định rõ vai
trò, trách nhiệm và quyền hạn của các bên liên quan trong công tác quản lý lễ
hội Ok Om Bok, bao gồm các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương,
cộng đồng và các doanh nghiệp. Quy định rõ vai trò và trách nhiệm sẽ giúp
tăng cường sự phối hợp, hợp tác và chịu trách nhiệm của mỗi bên trong việc
quản lý và tổ chức lễ hội.
Xây dựng cơ chế giao tiếp và thông tin: Xây dựng cơ chế giao tiếp và
chia sẻ thông tin hiệu quả giữa Ban quản lý lễ hội, các đơn vị liên quan và
cộng đồng. Điều này có thể bao gồm việc tổ chức cuộc họp giữa các bộ phận
có liên quan hoặc tạo kênh trao đổi trực tiếp về mặt thông tin giữa các bộ
phận có liên quan của lễ hội
Đánh giá và đổi mới: Thực hiện việc đánh giá định kỳ về quản lý lễ hội
Ok Om Bok tại Bạc Liêu để xác định hiệu quả và những khía cạnh cần được
cải thiện. Đánh giá có thể được thực hiện bởi các chuyên gia độc lập hoặc
thông qua khảo sát ý kiến từ cộng đồng, du khách, và các bên liên quan khác.
Dựa trên kết quả đánh giá, áp dụng các biện pháp cải thiện phù hợp để nâng
cao quản lý lễ hội.
Thúc đẩy sự hợp tác và liên kết giữa các cấp quản lý, các cơ quan chức
năng, địa phương và các tổ chức xã hội để tăng cường hiệu quả quản lý lễ hội
Ok Om Bok. Tạo ra một môi trường làm việc cộng tác và hỗ trợ giữa các bên
liên quan, đồng thời tạo ra các cơ chế giao tiếp và trao đổi thông tin định kỳ.
Xây dựng và áp dụng các quy định và quy trình rõ ràng về quản lý lễ
hội, bao gồm quy định về tổ chức, trách nhiệm, quyền hạn và cơ chế trừng
phạt đối với các vi phạm. Đảm bảo tính minh bạch, công bằng và nhất quán
trong quá trình quản lý lễ hội.
86
3.2.2. Hoàn thiện nội dung chương trình tổ chức lễ hội
Nghiên cứu và tìm hiểu sâu về truyền thống và giá trị văn hóa của lễ
hội Ok Om Bok: Để tạo ra chương trình lễ hội mang tính đặc sắc và phù hợp
với bản sắc văn hóa địa phương, cần nghiên cứu và tìm hiểu kỹ về truyền
thống, quan niệm, và tâm linh liên quan đến lễ hội Ok Om Bok. Điều này đảm
bảo rằng nội dung chương trình phản ánh đúng những giá trị cốt lõi của lễ hội
và mang đến trải nghiệm tốt cho người tham gia.
Đa dạng hóa các hoạt động lễ hội: Để thu hút sự quan tâm và tham gia
của đa dạng đối tượng khách hàng, nên xây dựng chương trình lễ hội với một
loạt các hoạt động đa dạng và phong phú. Bao gồm các hoạt động văn hóa
truyền thống như diễn hát, múa rối, triển lãm nghệ thuật, nhạc cụ dân tộc,
cũng như các hoạt động giải trí hiện đại như nhạc sống, hội chợ, trò chơi dân
gian, và cuộc thi văn nghệ. Sự đa dạng này sẽ đáp ứng nhu cầu và sở thích của
đông đảo khách hàng, mang lại sự phong phú và hấp dẫn cho lễ hội.
Xây dựng chương trình lễ hội có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện
đại: Để lễ hội Ok Om Bok trở nên hấp dẫn và mang tính sáng tạo, cần tạo ra
sự kết hợp giữa những yếu tố truyền thống và hiện đại trong chương trình.
Điều này có thể bao gồm sự sáng tạo trong cách trình diễn những hoạt động
truyền thống, sử dụng hiệu ứng ánh sáng, âm thanh và công nghệ để tạo ra
một không gian lễ hội độc đáo và ấn tượng.
Tạo ra những trải nghiệm thú vị và tương tác cho người dân và người
đến tham gia du lịch và tìm hiểu về lễ hội: Để làm cho lễ hội Ok Om Bok trở
thành một trải nghiệm đáng nhớ, cần tạo ra những hoạt động tương tác và thú
vị cho khách hàng tham gia. Có thể tổ chức các cuộc thi, trò chơi dân gian,
workshop truyền thống, hoặc các hoạt động thể thao như cuộc đua thuyền trên
sông, đua ghe nước, hay các hoạt động nhảy trampoline, trò chơi vận động
cho trẻ em. Điều này sẽ tạo ra một không gian vui vẻ và năng động, kích thích
sự tương tác và tham gia tích cực của khách hàng.
87
Đảm bảo an toàn và trật tự: Trong quá trình tổ chức lễ hội Ok Om Bok,
việc đảm bảo an toàn và trật tự là rất quan trọng. Cần có một hệ thống quản lý
và kiểm soát an ninh hiệu quả, bao gồm sự hiện diện của lực lượng cảnh sát,
tổ chức giao thông, và đội ngũ y tế để đảm bảo an toàn cho người tham gia.
Đồng thời, cần xây dựng các biện pháp phòng chống cháy nổ và sự cung cấp
dịch vụ y tế nhanh chóng trong trường hợp khẩn cấp. Điều này đảm bảo môi
trường an toàn và tin cậy cho khách hàng tham gia lễ hội.
Tăng cường hợp tác địa phương và doanh nghiệp: Để nâng cao chất
lượng và quy mô của lễ hội Ok Om Bok, cần tăng cường hợp tác với các đơn vị
địa phương và doanh nghiệp. Có thể thiết lập các liên kết đối tác với các công
ty tổ chức sự kiện, doanh nghiệp văn hóa, nhà tài trợ và nhà đầu tư. Điều này
giúp đảm bảo nguồn lực tài chính và hỗ trợ chuyên môn để nâng cao chất
lượng sản phẩm lễ hội, cũng như mở rộng quy mô và tầm ảnh hưởng của lễ hội.
3.2.3. Bảo vệ và phát huy giá trị truyền thống của lễ hội
Tổ chức các hoạt động gìn giữ và bảo tồn truyền thống: Để đảm bảo giá
trị truyền thống của lễ hội Ok Om Bok không bị mai một, cần thiết lập các
chương trình và hoạt động nhằm gìn giữ và bảo tồn các yếu tố truyền thống
quan trọng. Có thể tổ chức các buổi hội thảo, xây dựng khu trưng bày về lễ
hội, công chiếu phim tài liệu về lễ hội, hoặc tổ chức các lớp học về nghi lễ,
âm nhạc và múa của lễ hội. Điều này giúp truyền tải và truyền dạy giá trị
truyền thống cho thế hệ trẻ và tạo niềm tự hào trong cộng đồng.
Tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động văn hóa truyền thống: Để
bảo vệ giá trị truyền thống của lễ hội Ok Om Bok, cần tạo điều kiện thuận lợi
cho các hoạt động văn hóa truyền thống diễn ra trong lễ hội. Điều này bao
gồm việc cung cấp không gian và cơ sở hạ tầng phù hợp cho các sự kiện
truyền thống, như sân khấu, hệ thống âm thanh và ánh sáng, vùng trưng bày
nghệ thuật, và các trang thiết bị cần thiết khác. Ngoài ra, cần có các chính
88
sách hỗ trợ và quy định rõ ràng để bảo vệ và khuyến khích các nghệ nhân,
nhóm nghệ thuật và các nhà tổ chức văn hóa truyền thống tham gia và phát
triển trong lễ hội.
Tạo cơ hội giao lưu văn hóa và hợp tác quốc tế: Để phát huy giá trị
truyền thống của lễ hội Ok Om Bok, cần tạo cơ hội giao lưu văn hóa và hợp
tác quốc tế. Có thể tổ chức các buổi biểu diễn, trưng bày văn hóa truyền
thống, hoặc các sự kiện nghệ thuật quốc tế liên quan đến lễ hội Ok Om Bok.
Xây dựng chương trình lễ hội đa dạng và phong phú: Để thu hút sự
quan tâm và tham gia của đông đảo người dân, cần xây dựng chương trình lễ
hội Ok Om Bok đa dạng và phong phú. Chương trình nên bao gồm các hoạt
động văn hóa, nghệ thuật, trò chơi dân gian, trình diễn âm nhạc và múa dân
gian, cuộc thi truyền thống và các sự kiện liên quan. Việc đa dạng hóa chương
trình giúp tạo nhiều lựa chọn và hứng thú cho khán giả tham gia, đồng thời
giúp phát triển và bảo tồn các yếu tố văn hóa độc đáo của lễ hội.
Tăng cường công tác quảng bá và truyền thông: Để bảo vệ và phát huy
giá trị truyền thống của lễ hội Ok Om Bok, cần tăng cường công tác quảng bá
và truyền thông. Sử dụng các phương tiện truyền thông như truyền hình,
radio, báo chí, mạng xã hội và website để quảng bá thông tin về lễ hội, đưa ra
lịch trình và thông tin chi tiết về các hoạt động trong lễ hội. Đồng thời, tạo sự
chú ý từ công chúng bằng việc tổ chức các buổi họp báo, triển lãm, chương
trình truyền hình trực tiếp và tạo sự tương tác với cộng đồng qua các cuộc thi,
thăm quan và giao lưu với khách du lịch.
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và ghi chép: Để bảo vệ và phát huy giá
trị truyền thống của lễ hội Ok Om Bok, cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu và
ghi chép về lễ hội. Xây dựng cơ sở dữ liệu về lễ hội, bao gồm các tài liệu,
hình ảnh và video ghi lại các hoạt động và nghi lễ trong lễ hội. Đồng thời,
khuyến khích các nhà nghiên cứu, nhà bảo tồn văn hóa, và các nhà khoa học
xã hội tham gia vào công tác nghiên cứu và ghi chép về lễ hội Ok Om Bok
89
3.2.4. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa
Đẩy mạnh công tác xã hội hóa để làm khơi dậy tiềm năng vật chất và
tinh thần của cộng đồng gắn với phong tục tập quán, lễ hội có sự hỗ trợ một
phần của Nhà nước về điều kiện cơ sở vật chất, như các thiết chế văn hóa mới
được xây dựng, những di tích mới được tu sửa... Đặc biệt, cần tránh khuynh
hướng thương mại hóa cũng như tình trạng mê tín dị đoan để xây dựng một đời
sống tinh thần lành mạnh, hình thành nên một nếp sống văn minh và hiện đại
Đối với các cơ quan ban ngành liên quan cần kết hợp với các doanh
nghiệp hỗ trợ kinh phí để tu các ngôi chùa, hỗ trợ kinh phí tổ chức Lễ hội. Đối
với cộng đồng người Khmer địa phương, cần đánh thức vai trò, trách nhiệm
của từng cá nhân có vị trí rất quan trọng trong các giải pháp bảo tồn và phát
huy các giá trị của lễ hội Ok Om Bok cũng như văn hóa truyền thống nói
chung. Đây là một công tác quan trọng vì cá nhân là chủ thể sáng tạo của văn
hóa và cũng là chủ thể có quyền chọn lựa, loại bỏ hoặc bổ sung cái mới trong
hoạt động lễ hội để giữ gìn và phát huy giá trị tốt đẹp của hoạt động văn hóa
này. Nếu không nhìn nhận đúng vai trò sáng tạo của cộng đồng, sẽ dẫn đến
việc hiểu không đúng về công tác xã hội hóa trong việc gìn giữ phát huy giá
trị lễ hội của từng người trong cộng đồng đó.
Đẩy mạnh công tác xã hội hóa Ok Om Bok là một giải pháp quan trọng
để bảo vệ và phát triển lễ hội, đồng thời đáp ứng nhu cầu và tham gia của
cộng đồng. Dưới đây là một số giải pháp để đẩy mạnh công tác xã hội hóa Ok
Om Bok:
Xây dựng mô hình quản lý: Tạo ra cơ chế quản lý đa cấp trong việc tổ
chức lễ hội, tại cấp địa phương, thành lập Ban tổ chức lễ hội Ok Om Bok với
sự tham gia của các đơn vị, tổ chức và cộng đồng địa phương. Cơ chế này
giúp tăng cường sự liên kết và tương tác giữa các cấp quản lý, đồng thời tạo
điều kiện cho cộng đồng tham gia vào quyết định và tổ chức lễ hội.
90
Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng: Xây dựng mô hình tổ chức lễ hội
Ok Om Bok dựa trên sự tham gia tích cực của cộng đồng. Tạo điều kiện cho
các nhóm dân tộc, các tổ chức xã hội, các hội đoàn nghề nghiệp, các câu lạc
bộ và cá nhân quan tâm đến lễ hội Ok Om Bok tham gia vào việc tổ chức,
quảng bá và thực hiện các hoạt động trong lễ hội. Các hoạt động như triển lãm
nghệ thuật, cuộc thi, trò chơi dân gian, diễn ra trong lễ hội nên mở rộng sự
tham gia của cộng đồng và tạo điều kiện cho mọi người thể hiện và phát huy
tài năng, truyền thống và văn hóa địa phương.
Xây dựng hệ thống tài trợ và hỗ trợ: Để đẩy mạnh công tác xã hội hóa
Ok Om Bok, cần xây dựng hệ thống tài trợ và hỗ trợ cho lễ hội Ok Om Bok.
Điều này có thể được thực hiện thông qua việc tìm kiếm nguồn tài trợ từ các
doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các quỹ hỗ trợ văn hóa. Ngoài ra,
chính phủ cũng có thể định kỳ cấp ngân sách để hỗ trợ tổ chức lễ hội và các
hoạt động liên quan.
Quảng bá và tiếp thị lễ hội: Để thu hút sự quan tâm và tham gia của
công chúng, cần đẩy mạnh công tác quảng bá và tiếp thị lễ hội Ok Om Bok.
Các biện pháp quảng cáo, truyền thông và marketing nên được áp dụng để lan
tỏa thông tin về lễ hội, nhấn mạnh giá trị văn hóa và truyền thống của nó, và
tạo sự hứng thú cho du khách và cộng đồng tham gia. Sử dụng các phương
tiện truyền thông đa dạng như truyền hình, radio, báo chí, mạng xã hội và
website để quảng bá lễ hội và tạo cầu nối với khách du lịch.
Đào tạo và nâng cao nhận thức văn hóa: Để đảm bảo chất lượng tổ
chức lễ hội và truyền dẫn đúng giá trị truyền thống, cần tiến hành đào tạo và
nâng cao nhận thức văn hóa cho các nhân viên, tổ chức và cộng đồng liên
quan. Tổ chức các khóa đào tạo, hội thảo, buổi tọa đàm về lễ hội và văn hóa
địa phương giúp tăng cường kiến thức và nhận thức về giá trị truyền thống
của lễ hội Ok Om Bok. Đồng thời, cần khuyến khích nghiên cứu, xuất bản
91
sách báo, tài liệu về lễ hội và quản lý văn hóa để lan tỏa kiến thức và thúc đẩy
sự hiểu biết về lễ hội.
Thiết lập hệ thống giám sát và đánh giá: Việc thiết lập một hệ thống
giám sát và đánh giá hiệu quả là cần thiết để đảm bảo công tác xã hội hóa Ok
Om Bok diễn ra một cách hiệu quả và bền vững
3.2.5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra
Để tăng cường công tác thanh tra và kiểm tra lễ hội Ok Om Bok, dưới
đây là một số giải pháp cần được áp dụng:
Thiết lập đội ngũ thanh tra chuyên nghiệp: Cần thành lập một đội ngũ
thanh tra chuyên nghiệp, được đào tạo về kiến thức về lễ hội, quy định về an
toàn, văn hóa và quản lý sự kiện. Đội ngũ này sẽ có nhiệm vụ tiến hành thanh
tra và kiểm tra các hoạt động trong lễ hội, từ quá trình chuẩn bị, tổ chức đến
kết thúc lễ hội.
Định kỳ và không định kỳ kiểm tra: Ngoài việc tiến hành kiểm tra định
kỳ trước, trong và sau lễ hội, cần thiết lập cơ chế kiểm tra không định kỳ để
kiểm soát việc tuân thủ quy định trong suốt quá trình diễn ra lễ hội. Điều này
giúp đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của công tác kiểm tra, đồng thời ngăn
chặn và xử lý kịp thời các vi phạm phát sinh.
Áp dụng công nghệ thông tin trong thanh tra: Sử dụng công nghệ thông
tin như hệ thống camera giám sát, ứng dụng di động, phần mềm quản lý để
ghi nhận và theo dõi các hoạt động trong lễ hội. Điều này giúp tăng cường
khả năng giám sát, cung cấp chứng cứ và bằng chứng về các vi phạm xảy ra,
từ đó tạo ra sự minh bạch và công bằng trong quá trình thanh tra.
Tăng cường hợp tác liên ngành: Cần thiết lập một mạng lưới hợp tác
liên ngành giữa các cơ quan chức năng như cảnh sát, bộ y tế, lực lượng vũ
trang và các đơn vị chuyên trách về văn hóa, du lịch, quản lý sự kiện. Hợp tác
này sẽ giúp chia sẻ thông tin, tài nguyên và kỹ năng để tăng cường khả năng
kiểm tra và giám sát lễ hội.
92
Quy định rõ trách nhiệm và sự phối hợp: Cần xác định rõ trách nhiệm
của các đơn vị và cá nhân tham gia trong công tác thanh tra và kiểm tra lễ hội
Ok Om Bok. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế phối hợp giữa các đơn vị liên
quan để đảm bảo sự liên thông và hiệu quả trong công tác thanh tra.
Tạo điều kiện cho công tác thanh tra: Để tăng cường hiệu quả công tác
thanh tra, cần cung cấp đầy đủ tài liệu, thông tin liên quan đến lễ hội cho các
đơn vị thanh tra. Đồng thời, cần đảm bảo các đơn vị có đủ nguồn lực và trang
thiết bị cần thiết để thực hiện công tác thanh tra một cách chuyên nghiệp.
Quản lý và xử lý vi phạm: Cần thiết lập các quy định rõ ràng về vi
phạm trong lễ hội Ok Om Bok và áp dụng các biện pháp quản lý và xử lý vi
phạm một cách nhanh chóng và công bằng. Điều này góp phần tạo ra một môi
trường lễ hội an toàn, văn minh và đáng tin cậy.
Tạo lòng tin và tạo cảm giác chịu trách nhiệm: Để đảm bảo hiệu quả
công tác thanh tra, cần tạo lòng tin và cảm giác chịu trách nhiệm đối với các tổ
chức, cá nhân tham gia tổ chức lễ hội Ok Om Bok. Điều này có thể được thực
hiện thông qua việc tăng cường thông tin, giáo dục, và xây dựng một môi
trường làm việc và tổ chức lễ hội chuyên nghiệp, minh bạch và có trách nhiệm.
Khuyến khích phản ánh và góp ý: Tạo điều kiện cho công dân, du
khách và những người tham gia lễ hội Ok Om Bok có thể phản ánh, góp ý và
đề xuất về công tác thanh tra và kiểm tra. Các kênh phản ánh và góp ý nên
được cung cấp một cách rõ ràng và tiếp cận dễ dàng để đảm bảo sự tham gia
của mọi người trong quá trình quản lý và cải tiến công tác này.
3.2.6. Phát huy vai trò của cộng đồng
Lễ hội Ok Om Bok là nơi gắn kết các cộng đồng, là nơi lưu giữ, kế
thừa và phát huy các giá trị văn hóa - nghệ thuật… Lễ hội tồn tại và phát triển
khi trở thành nguyện vọng hoạt động của người dân, trở thành nhu cầu và tài
sản của người dân. Cùng với vai trò tổ chức, quản lý nhà nước, kết hợp chặt
chẽ với quản lý của cộng đồng sẽ làm nên thành công của lễ hội.
93
“Nhằm nâng cao vai trò của cộng đồng trong tổ chức và quản lý lễ hội,
cần tăng cường thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn người dân hiểu sâu sắc về
về giá trị, ý nghĩa của lễ hội. Mỗi người dân khi đã hiểu biết sâu sắc ý nghĩa,
vai trò của lễ hội lại trở thành một tuyên truyền viên tự nguyện cho thành viên
trong gia đình, cũng như bạn bè gần xa. Từ đó, mỗi người dân nâng cao ý
thức của cộng đồng đối với di tích, với lễ hội thể hiện niềm tự hào với di tích,
với lễ hội và ý thức tham gia bảo tồn, phát huy giá trị của lễ hội. Trong thực
hành lễ hội, Ban tổ chức cần có những đợt tập huấn hướng dẫn, tư vấn của các
nhà chuyên môn hiểu biết sâu sắc về lễ nghi. Các nghi thức không thể tùy tiện
mượn ở nơi này áp cho nơi khác làm theo, mà phải căn cứ theo bối cảnh lịch
sử, theo phong tục được lưu truyền trong dân gian, nhưng có sự nghiên cứu
tìm tòi, phân tích thấu đáo” [8, tr.66].
“Vai trò của cộng đồng sẽ có tất cả trong các hoạt động từ tổ chức lễ
hội đến các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, vui chơi… Để giảm bớt
lễ hội mang tính sân khấu hóa và để cộng đồng tham gia vào lễ hội như một
chủ thể, trong quá trình tổ chức lễ hội Ban tổ chức lễ hội không nên áp đặt ý
chí chủ quan của mình vào cộng đồng, mà phải tham khảo ý kiến của cộng
đồng. Cộng đồng sẽ tham gia vào việc từ xây dựng chương trình tổng thể đến
chi tiết trong nghi thức, diễn xướng của lễ hội, từ việc phân công thực hành
đến thực hành luyện tập… Ban tổ chức lễ hội lắng nghe ý kiến cộng đồng,
phân tích, tổng hợp và thảo luận cùng cộng đồng để đề ra những phương án
hoạt động và quản lý hoạt động lễ hội có hiệu quả cao nhất” [8, tr.66].
“Vai trò của cộng đồng trong vấn đề tài chính vô cùng quan trọng. Hoạt
động lễ hội lâu dài, bền vững chủ yếu nhờ vào sự đóng góp kinh phí của cộng
đồng. Vì thế, công tác tuyên truyền để cộng đồng thấy rõ lễ hội là của từng
thành viên trong cộng đồng, không phải chỉ của nhà nước là rất cần thiết.
Khi người dân thấy rõ lễ hội là của chính mình sẽ tự nguyện đóng góp kinh
phí để có nghĩa vụ, trách nhiệm với lễ hội, đồng thời thụ hưởng các giá trị
94
của lễ hội. Ban tổ chức không chỉ khuyến khích cộng đồng tham gia đóng
góp, tài trợ về kinh phí, về vật chất, mà cần khuyến khích cộng đồng sáng
tạo những sản phẩm văn hóa vật thể như các đồ lưu niệm, mặt hàng ăn
uống... và sản phẩm phi vật thể như bài thơ, bài ca, điệu múa, trò chơi….
Vào hoạt động lễ hội. Lễ hội được tổ chức, một phần quan trọng là để phục
vụ nhân dân, vì nhân dân” [8, tr.67].
Tổ chức lễ hội Ok Om Bok hiện chủ yếu có sự bao cấp kinh phí cùa
nhà nước. Công tác xã hội hóa lễ hội cần được đẩy mạnh hơn nữa.
3.2.7. Bảo vệ và phát huy lễ hội Ok Om Bok gắn với xây dựng mô
hình sản phẩm du lịch tại địa phương.
Giải pháp Bảo vệ và phát huy lễ hội Ok Om Bok gắn với xây dựng mô
hình sản phẩm du lịch tại địa phương là một phương thức hiệu quả để bảo tồn
và phát triển lễ hội, đồng thời tạo điểm nhấn du lịch và thu hút khách du lịch
đến với địa phương. Dưới đây là một số giải pháp để thực hiện:
Đa dạng hóa trải nghiệm du lịch: Tận dụng lễ hội Ok Om Bok để phát
triển các gói trải nghiệm du lịch đa dạng và hấp dẫn. Điều này có thể bao gồm
chương trình tham quan lễ hội, các hoạt động thể thao dân gian, trò chơi
truyền thống, triển lãm văn hóa, thưởng thức ẩm thực đặc sản và các hoạt
động giải trí liên quan đến lễ hội. Qua đó, khách du lịch có thể trải nghiệm
sâu sắc văn hóa và truyền thống địa phương.
Phát triển cơ sở hạ tầng du lịch: Đầu tư vào cơ sở hạ tầng du lịch như
khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, giao thông vận tải và các dịch vụ hỗ trợ khác.
Điều này giúp tăng cường khả năng tiếp đón khách du lịch và tạo điều kiện
thuận lợi cho họ tham gia vào lễ hội Ok Om Bok.
Xây dựng sản phẩm du lịch ưu điểm cạnh tranh: Tận dụng những giá trị
độc đáo và đặc biệt của lễ hội Ok Om Bok để xây dựng các sản phẩm du lịch
độc đáo và hấp dẫn. Điều này có thể bao gồm việc tổ chức các tour du lịch
đặc biệt trong dịp lễ hội, cung cấp các trải nghiệm độc đáo liên quan đến lễ
hội, và phát triển các sản phẩm lưu niệm đặc trưng.
95
Quảng bá và tiếp thị lễ hội: Tạo ra chiến dịch quảng bá và tiếp thị mạnh
mẽ để giới thiệu lễ hội Ok Om Bok đến công chúng trong và ngoài nước.
Hợp tác với các đối tác liên quan: Xây dựng mối quan hệ hợp tác với
các đối tác liên quan như các doanh nghiệp du lịch, các cơ quan quản lý du
lịch, tổ chức phi chính phủ, cộng đồng địa phương và các nhà tài trợ để đảm
bảo sự hỗ trợ và tài trợ cho việc phát triển lễ hội Ok Om Bok và sản phẩm du
lịch liên quan.
Tăng cường quản lý chất lượng dịch vụ: Đào tạo và nâng cao kỹ năng
chuyên môn cho người làm công tác du lịch và dịch vụ để đảm bảo chất lượng
dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch. Đồng thời, xây dựng hệ
thống đánh giá và kiểm soát chất lượng để đảm bảo sự chuyên nghiệp và hài
lòng của khách du lịch.
Phát triển các hoạt động liên kết du lịch: Tạo ra các liên kết với các
điểm du lịch khác trong khu vực hoặc quốc gia để tăng cường giá trị của sản
phẩm du lịch lễ hội Ok Om Bok. Điều này có thể bao gồm việc xây dựng các
tour du lịch kết hợp giữa lễ hội và các điểm du lịch khác, tạo ra các gói du
lịch liên kết và cung cấp ưu đãi đặc biệt cho du khách.
Bảo vệ và phát triển di sản văn hóa: Đảm bảo bảo vệ và phát triển các
di sản văn hóa liên quan đến lễ hội Ok Om Bok như di tích, trang phục truyền
thống, nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc và những nét đặc trưng văn hóa của địa
phương. Điều này giúp duy trì và tăng cường giá trị truyền thống của lễ hội và
tạo điểm nhấn đặc biệt cho sản phẩm du lịch.
Đẩy mạnh nghiên cứu xu hướng biến đổi của lễ hội: bảo tồn có chọn
lọc các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc trong lễ hội, loại dần các yếu tố
lạc hậu, xây dựng các tiêu chỉ văn hóa mới phù hợp; phục vì những trò chơi
dân gian truyền thống, coi trọng tỉnh đặc thù độc đáo, giữ in nét đẹp riêng có
trong lễ hội Ok Om Bok của người Khmer Bạc Liêu.
96
3.2.8. Một số giải pháp khác
Thứ nhất: Đổi mới công tác quản lý vệ sinh môi trường.
Để đổi mới công tác quản lý vệ sinh môi trường, thứ nhất cần làm tốt
công tác tuyên tuyên truyền bằng lời. Trong những khoảng thời gian nhất định
của một ngày lễ hội, có thể là sáng sớm trước khi mở cửa đền dùng loa phóng
thanh nói về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc giữ gìn vệ sinh với di tích. Nội
dung tuyên truyền cần nêu rõ di tích là tài sản vô giá của cộng đồng, của bản
thân từng người trong cộng đồng. Giữ gìn vệ sinh môi trường không những
làm di tích trong sạch, đẹp đẽ mà còn làm không gian di tích biểu hiện rõ
được nét linh thiêng. Cùng với việc phát thanh tuyên truyền, cần có những
biển chỉ dẫn đẹp đẽ, sáng sủa ở những vị trí cần thiết cho khách thập phương
bỏ những chất thải đúng nơi quy định. Việc làm này rất có hiệu quả, nhưng
hầu như chưa được chú ý.
Thứ hai: Đổi mới quản lý tài chính và việc phối hợp với hoạt động du
lịch để tăng nguồn kinh phí cho lễ hội
UBND thành phố cần ra văn bản hướng dẫn cụ thể việc thu, chi, quản
lý và sử dụng nguồn kinh phí của các tổ chức, cá nhân công đức tại lễ hội.
Ban tổ chức tham mưu, hướng dẫn quy định mức thu một số dịch vụ như
trông xe, bán hàng hóa, dịch vụ các loại… đảm bảo theo đúng quy định đề ra,
phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Công tác quản lý nguồn tài
chính trong lễ hội cần phải đảm bảo công khai, minh bạch, có sự giám sát chặt
chẽ của nhân dân.
Phối hợp hoạt động lễ hội với du lịch là một giải pháp rất có hiệu quả
để tăng nguồn kinh phí cho tái hoạt động lễ hội. Ban tổ chức lễ hội cần liên
kết với các công ty du lịch trong tỉnh và ngoài tỉnh mở tour du lịch tham quan
di tích và tham dự lễ hội. Công tác tổ chức tour du lịch này cần khép kín toàn
bộ quá trình vừa dự lễ hội, vừa tham quan các điểm của di tích, mà không
phải chỉ có dự lễ hội.
97
Thứ ba, một giải pháp đặc thù quan trọng để quản lý lễ hội Ok Om Bok
tại thành phố Bạc Liêu là tạo ra một Kế hoạch Quản lý Thủy triều chính xác.
Bạc Liêu nằm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, và lễ hội Ok Om Bok
thường liên quan đến các nghi lễ trên nước, thể hiện lòng tôn vinh biển và sự
phụ thuộc vào thủy triều. Do đó, việc dự đoán và quản lý thủy triều trở thành
yếu tố then chốt trong việc tổ chức lễ hội này.
Kế hoạch Quản lý Thủy triều cần bao gồm:
Dự đoán Thời gian và Mức thủy triều: Cần sử dụng các dự đoán thời
tiết và thủy triều để xác định thời gian và mức độ thủy triều trong suốt lễ hội.
Điều này sẽ giúp đảm bảo an toàn cho các hoạt động liên quan đến nước và
tránh tình huống không mong muốn.
Quản lý Các Hoạt Động Trên Nước: Đối với các nghi lễ và hoạt
động trên nước như lễ rước nước, cần thiết kế các phương tiện thích hợp và áp
dụng các biện pháp an toàn để đảm bảo sự tham gia an toàn của người dân.
Sự Hợp Tác với Các Chuyên Gia Thủy Triều: Cần hợp tác với các
chuyên gia và đội ngũ quan trắc thủy triều để có sự hỗ trợ chính xác và kịp
thời trong việc quản lý thủy triều.
Thông Tin và Giao tiếp: Cần thông tin rõ ràng và hướng dẫn cho
người dân và du khách về thời gian thủy triều và các biện pháp an toàn cần
thực hiện.
Giải pháp này sẽ đảm bảo sự an toàn và hiệu quả trong việc tổ chức lễ
hội Ok Om Bok, đồng thời giữ cho sự kết nối mạnh mẽ với văn hóa và môi
trường tự nhiên của vùng đồng bằng sông Cửu Long.
98
Tiểu kết Chƣơng 3
Trong nội dung chương 3, luận văn đã dựa trên cơ sở lí luận của
chương 1 và thực trạng quản lý lễ hội Ok Om Bok tại thành phố Bạc Liêu tỉnh
Bạc Liêu để đề xuất ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội Ok Om
Bok trong giai đoạn hiện nay.
Các giải pháp luận văn đưa ra gồm có: Hoàn thiện cơ cấu bộ máy tổ
chức và cơ chế quản lý lễ hội, Hoàn thiện nội dung chương trình tổ chức lễ
hội, Bảo vệ và phát huy giá trị truyền thống của lễ hội, Đẩy mạnh công tác xã
hội hóa, Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, Phát huy vai trò của cộng
đồng, Bảo vệ và phát huy lễ hội Ok Om Bok gắn với xây dựng mô hình sản
phẩm du lịch tại địa phương. Các giải pháp đã bám sát thực trạng quản lý lễ
hội Ok Om Bok hiện nay
99
KẾT LUẬN
Nghiên cứu về quản lý lễ hội Ok Om Bok của người Khmer ở Thành
phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu đã tìm hiểu về hiện trạng quản lý lễ hội, xác định
các thách thức và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
quản lý lễ hội.
Kết quả nghiên cứu cho thấy lễ hội Ok Om Bok của người Khmer tại
Thành phố Bạc Liêu mang trong mình giá trị truyền thống, tôn giáo và văn
hóa đặc biệt. Tuy nhiên, lễ hội đối mặt với nhiều thách thức như mất mát và
suy giảm giá trị truyền thống, hạn chế về nguồn lực và kiến thức chuyên môn,
cũng như quy mô tổ chức chưa đáp ứng đủ yêu cầu.
Để nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội Ok Om Bok, nghiên cứu đề xuất
một số giải pháp chính:
Định hướng và quy hoạch chi tiết: Xác định rõ mục tiêu, phạm vi và kế
hoạch tổ chức lễ hội Ok Om Bok, bao gồm cả cơ chế quản lý. Quy hoạch chi
tiết sẽ giúp định rõ các hoạt động, trách nhiệm và nguồn lực cần thiết để tổ
chức lễ hội một cách hiệu quả.
Tổ chức quản lý chuyên nghiệp: Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý lễ hội,
bao gồm việc thành lập Ban quản lý lễ hội và các tiểu ban chuyên môn. Đồng
thời, cần đào tạo và nâng cao năng lực cho nhân viên tham gia công tác quản lý
lễ hội, từ kiến thức văn hóa, lễ hội đến kỹ năng tổ chức và quản lý sự kiện.
Tăng cường công tác truyền thông và quảng bá: Xây dựng chiến lược
truyền thông và quảng bá rộng rãi về lễ hội Ok Om Bok, nhằm nâng cao nhận
thức và thu hút du khách tham gia. Sử dụng các phương tiện truyền thông,
mạng xã hội, trang web và các hoạt động quảng bá Bảo vệ và phát huy giá trị
truyền thống: Tăng cường công tác bảo vệ và phát huy giá trị truyền thống
của lễ hội Ok Om Bok. Điều này bao gồm việc khôi phục các hoạt động
truyền thống, bảo vệ di sản văn hóa, và tạo điều kiện để người dân và thế hệ
trẻ có thể tiếp cận và tham gia vào các hoạt động lễ hội.
100
Xây dựng mô hình sản phẩm du lịch: Kết hợp lễ hội Ok Om Bok với
việc phát triển mô hình sản phẩm du lịch tại địa phương. Điều này bao gồm
việc xây dựng các tour du lịch liên quan đến lễ hội, tạo điều kiện cho du
khách trải nghiệm văn hóa, tham quan các hoạt động lễ hội và tham gia các
hoạt động truyền thống.
Đẩy mạnh công tác xã hội hóa: Tăng cường công tác xã hội hóa lễ hội
Ok Om Bok bằng cách tạo điều kiện cho các tổ chức, cộng đồng và cá nhân
tham gia vào quá trình tổ chức và quản lý lễ hội. Khuyến khích sự hỗ trợ và
đóng góp của các đối tác xã hội, doanh nghiệp và người dân để đảm bảo sự
phát triển bền vững của lễ hội.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra: Đảm bảo việc thực hiện các
quy định, quy chế và tiêu chuẩn về tổ chức lễ hội Ok Om Bok thông qua công
tác thanh tra và kiểm tra. Quản lý chặt chẽ việc cấp phép, kiểm soát chất
lượng dịch vụ và an ninh trong quá trình diễn ra lễ hội để đảm bảo an toàn và
trải nghiệm tốt cho du khách.
Tổng kết lại, việc quản lý lễ hội Ok Om Bok của người Khmer ở Thành
phố Bạc Liêu đòi hỏi sự đổi mới và nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý.
Các giải pháp đề xuất trong nghiên cứu gồm định hướng và quy hoạch chi tiết,
tổ chức quản lý chuyên nghiệp, tăng cường công tác truyền thông và quảng bá,
hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị truyền
thống, xây dựng mô hình sản phẩm du lịch, đẩy mạnh công tác xã hội hóa và
tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra. Các giải pháp này nhằm đảm bảo sự
tổ chức và quản lý hiệu quả của lễ hội Ok Om Bok, đồng thời bảo vệ và phát
huy giá trị truyền thống của người Khmer.
Từ nghiên cứu, có thể rút ra kết luận rằng việc quản lý lễ hội Ok Om
Bok ở Thành phố Bạc Liêu đang đối mặt với nhiều thách thức và hạn chế.
Tuy nhiên, thông qua việc áp dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
quản lý, có thể đảm bảo sự thành công và phát triển bền vững của lễ hội.
101
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Toan Ánh (1991), Phong tục Việt Nam thờ cúng tổ tiên, NXB Khoa học
Xã hội, Hà Nội.
[2]. Toan Ánh (1992), Tìm hiểu phong tục Việt Nam Nếp cũ - tết lễ - hội hè,
NXB Thanh niên, Hà Nội.
[3]. Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố Bạc Liêu (1998), Lịch sử đảng bộ và
nhân dân Thành phố Bạc Liêu, Sở thông tin truyền thông, Bạc Liêu.
[4]. Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố Bạc Liêu (2013), Lịch sử đảng bộ
Thành phố Bạc Liêu, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[5]. Nguyễn Thị Phương Châm (2017), “Thực hành lễ hội dân gian ở Việt
Nam hiện nay”, Tạp ch Khoa học xã hội Việt Nam, (12).
[6]. Bùi Linh Chi (2016), Quản lý lễ hội chùa Bối Khê xã Tam ưng, huyện
Thanh Oai, thành phố à Nội, Luận văn thạc sĩ Quản lý Văn hóa,
Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.
[7]. Nguyễn Mạnh Cường, 2002, Vài nét về người Khmer Nam bộ, NXB
Khoa học và Xã hội, Hà Nội.
[8]. Trần Thị Hà (2016), Quản lý lễ hội đình chùa Lạc Thanh, thành phố
Uông B , t nh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ Quản lý Văn hóa, Trường
Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.
[9]. Nguyễn Thị Việt Hà (2018), Quản lý lễ hội Nữ tướng Lê hân, quận Lê
hân, thành phố ải Phòng, Luận văn thạc sĩ Quản lý Văn hóa, Trường
Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.
[10]. Cao Đức Hải, Nguyễn Khánh Ngọc (2010), Giáo trình Quản lý lễ hội và
sự kiện, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
[11]. Nguyễn Thu Hằng (2016), Quản lý lễ hội Bình Đà, xã Bình Minh, huyện
Thanh Oai, thành phố à Nội, Luận văn thạc sĩ Quản lý Văn hóa,
Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.
102
[12]. Trần Công Hiến, Trần Huy Phúc (2009), Bạc Liêu phong vật ch , NXB
Lao động, Hà Nội.
[13]. Hội Khoa học lịch sử Việt Nam (2001), Tạp chí “Xưa và nay” số 86.
[14]. Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và UBND xã Thành phố Bạc Liêu
(2001), Đền ao di t ch lịch sử và danh thắng, NXB Giao thông vân tải,
Hà Nội.
[15]. Hội Sử học tỉnh Bạc Liêu (2012), Bạc Liêu di t ch danh thắng, Sở
Thông tin Truyền thông Bạc Liêu.
[16]. Lê Hương (1969), Người Việt gốc Miên, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
[17]. Nông Linh Hương (2016), Quản lý di t ch, lễ hội đền Kỳ Sầm tại xã
Vĩnh Quang, thành phố ao Bằng, t nh ao Bằng, Luận văn thạc sĩ
Quản lý Văn hóa, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.
[18]. Nghiêm Thị Hường (2016), Quản lý lễ hội truyền thống ở huyện Phú
Xuyên, thành phố à Nội, Luận văn thạc sĩ Quản lý Văn hóa, Trường
Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.
[19]. Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng (1993), Lễ hội truyền thống trong đời
sống xã hội hiện đại, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
[20]. Vũ Ngọc Khánh (2004), Lễ hội trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam,
NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
[21]. Vũ Ngọc Khánh (2007), Văn hóa dân gian người Việt (Lễ hội và trò
chơi dân gian), NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.
[22]. Đăng Khoa, Hoài Thu (2011), Lê Đại ành và cuộc kháng chiến chống
Tống, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
[23]. Thanh Lê (2011), Tập Tục Quê Em - ok om bok, NXB Kim Đồng, Hà Nội.
[24]. Nguyễn Thị Thùy Liên (2013), Tìm hiểu về lễ hội truyền thống Đền
Khmer, Luận văn thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
[25]. 27.Đặng Văn Lung (2005), Lễ hội và nhân sinh, NXB Văn hóa Thể
thao, Hà Nội.
103
[26]. Hoàng Lương (2012), Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam các
t nh ph a Bắc, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.
[27]. Lê Hồng Lý (2008), Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín
ngưỡng, NXB Văn hóa Thể thao, Hà Nội.
[28]. Hoàng Nam (2005), Một số giải pháp quản lý lễ hội dân gian, NXB Văn
hóa Dân tộc, Hà Nội.
[29]. Thạch Phương, Lê Trung Vũ (1995), ông trình 60 Lễ hội truyền thống,
NXB Văn học Nghệ thuật, Hà Nội
[30]. Phạm Thị Thanh Quy (2009), Quản lý lễ hội cổ truyền, NXB Lao động,
Hà Nội.
[31]. Sang Sết (2012), Phong tục, nghi lễ và tranh ký tự dân tộc Khmer Nam
Bộ, NXB Trẻ, Hà Nội.
[32]. Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Bạc Liêu (1999), Bạc Liêu di t ch
và danh thắng, Xí nghiệp in Bạc Liêu.
[33]. Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Bạc Liêu (2010), Lễ hội dân gian t nh
Bạc Liêu, Xí nghiệp in Bạc Liêu.
[34]. Bùi Hoài Sơn (2009), Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt, NXB
Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
[35]. Nguyễn Thị Mỹ Thanh, Sử Ngọc Diệp (2015), Giáo trình Quản trị tổ
chức sự kiện và lễ hội, NXB Lao động Xã hội, Hà Nội.
[36]. Ngô Đức Thịnh (1993), Những giá trị văn hóa của lễ hội cổ truyền và
nhu cầu của xã hội hiện đại, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
[37]. Ngô Đức Thịnh (2001), “Những giá trị của lễ hội cổ truyền trong đời
sống xã hội hiện nay”, Tạp ch Văn hóa nghệ thuật, (3).
[38]. Ngô Đức Thịnh (2012), T n ngưỡng và văn hóa t n ngưỡng ở Việt Nam,
NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
[39]. Lê Biên Thùy (2016), Lễ hội Tiên ông: truyền thống, biến đổi và
những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý, Luận văn thạc sĩ Quản lý Văn
hóa, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.
104
[40]. Nguyễn Thị Thanh Thủy (2016), Lễ hội cầu mùa của dân tộc Sán h ,
xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, t nh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ Quản lý
Văn hóa, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.
[41]. Bùi Thị Tình (2011), ông tác quản lý lễ hội ôn Sơn, Khmer, Khóa
luận tốt nghiệp Quản lý Văn hóa Nghệ thuật, Trường Đại học Văn hóa
Hà Nội.
[42]. Đào Tiến Trọng (2015), Quản lý lễ hội truyền thống phủ Quảng ung,
xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, t nh Nam Định, Luận văn thạc sĩ Quản lý
Văn hóa, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.
[43]. Viện ngôn ngữ học (1997), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng.
[44]. Viện Văn hóa dân gian (1992), Lễ hội cổ truyền, NXB Khoa học Xã hội,
Hà Nội.
[45]. Lâm Quang Vinh và Tiền Văn Triệu (2015), Lễ hội dân gian của người
Khmer Nam Bộ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
[46]. Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý (2010), Lễ hội Việt Nam, NXB Văn hóa
Thông tin, Hà Nội.
UBND TỈNH THANH HÓA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
THANH HÓA
Thạch Minh Hoàng
QUẢN LÝ LỄ HỘI OK-OM BOK CỦA NGƢỜI KHMER
Ở THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
PHỤ LỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Thanh Hóa, 2023
105
MỤC LỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1. Bản đồ hành chính Thành phố Bạc Liêu .................................. 106
Phụ lục 2. Phiếu khảo sát ........................................................................... 107
Phụ lục 3. Một số văn bản liên quan đến quản lý lễ hội ............................ 109
106
Phụ lục 1
Bản đồ hành chính Thành phố Bạc Liêu
Nguồn: Website: https://www.baclieu.gov.vn
107
Phụ lục 2
Phiếu khảo sát
PHIẾU KHẢO SÁT
K nh thưa Ông/Bà,
Phiếu khảo sát nhằm thu thập các số liệu liên quan đến đề tài “Quản lý
lễ hội Ok Om Bok của người Khmer ở Thành phố Bạc Liêu - Tỉnh Bạc Liêu”
Kết quả khảo sát chỉ phục vụ mục đích khoa học của đề tài nghiên cứu.
Chúng tôi cam kết không công khai các thông tin cá nhân mà Ông/Bà cung
cấp khi trả lời bảng câu hỏi này. Rất mong nhận được sự hợp tác tích cực của
Ông/Bà.
A.THÔNG TIN CÁ NHÂN (không bắt buộc)
Họ và tên:………………………… Giới tính:………………………..
Tôn Giáo:.........................................................
Năm Sinh:……………………………………
Địa chỉ:………………………….…................
B. NỘI DUNG KHẢO SÁT
Ông/Bà vui lòng cho biết mức độ đồng ý của mình với các phát biểu
sau đây (Đánh dấu x theo phương án mình chọn)
1: Hoàn toàn không đồng ý
2: Không đồng ý
3: Không ý kiến/ Bình thường
4: Đồng ý
5: Rất đồng ý
108
Mức độ đánh giá Câu hỏi (1) (2) (3) (4) (5)
Ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, kế hoạch tổ chức lễ hội được thực hiện tốt, đúng chủ trương, kip thời
Công tác tuyên truyền, quảng bá sâu rộng, đúng đối tượng, nội dung tuyên truyền có giá trị
Tổ chức các hoạt động văn hóa trong lễ hội theo đúng quy định, có sự phân công rõ ràng, các bộ phận thực hiện đúng theo chức năng, nhiệm vụ
Quản lý các nguồn lực, cơ sở vật chất phục vụ cho tổ chức lễ hội
Quản lý hoạt động dịch vụ, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự
Hoạt động kiểm tra, giám sát việc tổ chức lễ hội
Sự tham gia của cộng đồng trong việc tổ chức, quản lý lễ hội
Xin cảm ơn ý kiến của ông bà
Danh sách những người tham gia trả lời phỏng vấn
STT Họ và Tên Tuổi Dân tộc Chức vụ
Vũ Thế Cẩn Kinh 1 55 Phó chủ tịch UBND Thành phố phụ trách lĩnh vực văn hoá
2 Trương Vững Khmer Người dân 45
2 Danh Quân Khmer Ban tổ chức lễ hội 57
3 Kha Thúy Sang Khmer Người dân tham dự 33
7 Trần Thị Vân Kinh Du khách 66
8 Lê Thị Xuân Kinh Người dân tham dự 42
9 Châu Hùng Vang Khmer Người dân tham dự 38
10 Sơn Minh Toản Khmer Người dân tham dự 41
109
Phụ lục 3
Một số văn bản liên quan đến quản lý lễ hội
110
111
112
113
114
115
116
117
118
119
120
121
122
123
124
125
126
127
128
129
130
131
132
133
134
135
136
137
138
139
140
141
142
Phụ lục 4
Một số hình ảnh trong lễ hội
Hình 1. Cúng trăng
[Nguồn: tác giả chụp, tháng 08/11/2022]
Hình 2. Mâm lễ cúng trăng
[Nguồn: tác giả chụp, tháng 08/11/2022]
143
Hình 3. Mâm lễ cúng trăng 2
[Nguồn: tác giả chụp, tháng 08/11/2022]
Hình 4. Ngƣời dân tham dự lễ cúng trăng
[Nguồn: tác giả chụp, tháng 08/11/2022]
144
Hình 5. Một thuyền đua Nge ngo
[Nguồn: tác giả chụp, tháng 08/11/2022]
Hình 6. Các đội đua chuẩn bị cho cuộc đua
[Nguồn: tác giả chụp, tháng 08/11/2022]
145
Hình 7. Chỉ đạo đua của một thuyền đua
[Nguồn: tác giả chụp, tháng 08/11/2022]
Hình 8. Các đội đua cạnh tranh nhau tiến về đích
[Nguồn: tác giả chụp, tháng 08/11/2022]
146
Hình 9. Tập trung đua
[Nguồn: tác giả chụp, tháng 08/11/2022]
Hình 10. Đội thắng cuộc
[Nguồn: tác giả chụp, tháng 08/11/2022]

