UBND QUẬN HOÀNG MAI
TRƯỜNG THCS YÊN SỞ
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GII CÁC BÀI TOÁN
ĐẠI LƯỢNG T LỆ THUẬN, TỈ LỆ NGHCH
I.ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Lí do khách quan
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của giáo dục, hoạt động
đổi mới phương pháp dạy học đã được Đảng và Nhà nước quan tâm.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo nêu rõ: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theoớng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo vận dụng kiến
thức, năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, to sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực…”
Toán học đóng vai trò quan trọng trong đời sống, trong khoa học, trong công
nghệ hiện đại. kiến thức vững chắc các phương pháp học Toán công cụ
thiết yếu không những giúp học sinh học tốt c n học khác còn giúp các
em hoạt động có hiệu quả trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.
Với vai trò quan trọng của Toán học yêu cầu cơ bản đặt ra trong qtrình
dạy và học toán người giáo viên phải tổ chức, hướng dn để học sinh tiếp thu
kiến thức một ch chính xác, vững chắc, biết vận dụng linh hoạt kiến thức toán
học o các tình huống cụ thể trong thực tiễn.
Muốn làm được điều đó, mỗi giáo viên cần hình thành cho học sinh phương
pháp giải bài tập cụ thtừng dạng toán, từ đó phát huy được tính tích cực của
học sinh đó nhân tquan trọng góp phần o việc đổi mới phương pp dạy
học hiện nay.
Luật giáo dục, điều 24.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của hc sinh, phù hợp với đặc điểm
của từng lớp, n học, bi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú
cho học sinh”.
1.2. Lí do chủ quan
Khi dạy các kiến thức mới, khái niệm mới người thầy hoạt động dẫn dắt
để hc sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo viên giao, thảo luận, trao đổi,
phát hiện ra kiến thức mới dưới dạng cụ thể để từ đó khái quát hóa kiến thức.
Việc đổi mới phương pháp dạy học đã giúp học sinh tiếp nhận kiến thức
phát triển các kỹ năng, trở thành chủ thể của mọi hoạt động và là mục đích hướng
tới của việc học tập.
Việc tăng ờng tính thực tiễn trong dạy học Toán đã được nhiều nước phát
triển thực hiện. Theo xu thế hội nhập, tăng cường tính thực tiễn trong dạy Toán là
tất yếu.
Thực tế hiện nay còn một số giáo viên chưa quan tâm đến đổi mới phương
pháp dạy học phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh mà vẫn dy theo lối
truyền thống “thầy đc trò chép”. Vì vậy giờ học trở nên rất khô khan, ép, áp
đặt, nhàm chán thiếu đi sự sáng tạo, sinh động trong tiết học. Nếu bằng ni
dung phương pháp chưa phợp sẽ khó đạt được mục tiêu và d dẫn đến tình
trạng hiệu quhọc tập chưa cao, học sinh không biết cách giải bài tập. Một câu
hỏi luôn đặt ra đối với tôi là “Làm thnào để học sinh háo hức chờ đợi tiết học?”
“Phải làm gì để thực hiện yêu cầu đổi mới nhằm nâng cao chất lượng bộ
môn?”. Đặc biệt học sinh khối lớp 7 bắt đầu được làm quen dạng toán về đại
lượng tỉ lệ thuận, đại lượng tỉ lệ nghịch trong phân môn Đi số. Đây dạng toán
khó, học sinh rất hay nhầm giữa hai bài toán về hai đại lượng tỉ lệ thuận tỉ l
nghịch. Xuất phát từ do trên, tôi xin phép được trao đổi: “Một số kinh nghiệm
giải các bài toán về đại lượng tỉ lệ thuận, tỉ lệ nghịch”.
2. Cơ slý luận của vấn đề
Qua nhiều năm giảng dạy bộ môn Toán 7, tôi nhận thấy để học tốt môn Toán
học sinh cần nắm vững kiến thức thuyết, vận dụng các ng thức, quy tắc một
cách thích hợp, linh hoạt vào việc giải bài tập. Song bài tập Toán ở từng nội dung
thì rất đa dạng phong phú, nhiều học sinh chưa nhận ra được dạng bài tập cụ
thể ở từng nội dung dẫn đến những nhầm lẫn, sai sót khi giải bài tập.
Trên thực tế ở mỗi lớp học trong nhà trường đu có những học sinh yếu kém,
biệt, thái độ học tập chưa nghiêm túc dẫn đến các em bị hổng kiến thức cơ
bản.
Với việc n luyện phương pháp giải bài tập cụ thể từng dạng từng nội
dung trong chương trình, i mong mun xây dựng cho các em một nền tảng
vững chắc trong việc học tập bộ môn đng thời góp phần đem lại niềm vui, hứng
thú trong học tập cũng như lấp đi chỗ hổng kiến thức của các em.
3. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
3.1. Thuận lợi
Nhận thức được tầm quan trọng của môn học cho nên tôi luôn ý thức tìm
tòi nghiên cứu những phương pháp dạy học sao cho phợp. Tích cực dạy học
theo định hướng phát triển ng lực học sinh. Giúp học sinh nhiều hi hình
thành phát triển c năng lực chung như: Năng lực tính toán, năng lực duy,
năng lực giải quyết vấn đề, ng lực tự học, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác.
Ngoài ra n hình thành các năng lực chuyên biệt, năng lực ct lõi đó năng lực
tính toán, hc sinh nắm vng được kiến thức, rèn năng thực hành phát huy
tính chủ động hc tập của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học b
n.
Go viên tinh thần trách nhiệm cao, tích cực đổi mới phương pháp dạy
học. Giáo viên có nhận thức đúng đắn về đổi mới phương pháp dạy học. Xác định
rõ được sự cần thiết đổi mới phương pháp dạy học kiểm tra đánh giá nhằm
phát huy năng lực của học sinh. Ngoài ra việc ứng dụng ng nghệ thông tin
trong dy học ngày nay cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy học bộ môn.
Giáo viên được tham gia các buổi sinh hoạt nhóm chuyên n để trao đổi thống
nhất các vấn đề khó, mới trong giảng dạy bộ môn.
Đa số các em học sinh tích cực học tập. ý thức vươn lên trong học tập.
Gia đình học sinh luôn quan tâm đến việc học tập dành thời gian cho con em
học tập.
Ntrường đầy đủ sở vật chất về phòng hc, đồ dùng học tập để phục
vụ cho việc dạy và học.
3.2. Khó khăn
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm bmôn Toán 7 qua việc khảo sát các
bài kiểm tra, tôi nhận thấy chất lượng của học sinh chưa cao nhất nội dung
phần Đại lượng tỉ lệ thuận, đại lượng tỉ lệ nghịch trong chương II Đại số: Hàm s
đthị. Nguyên nhân do học sinh còn bngỡ, chưa nắm được phương pp
giải các dạng bài tập về đại lượng tỉ lệ thuận, đại ợng tỉ lệ nghịch. Nhiều học
sinh chưa nhận biết được đây là dạng i toán tỉ lệ thuận hay tỉ lệ nghịch dẫn đến
giải không đúng phương pháp. Bên cạnh đó hc sinh chưa tích cực trong việc giải
các i tập về nhà, vận dụng kiến thức thuyết vào việc giải bài tập chưa thành
thạo, nhận biết được c dạng bài tập còn yếu, vậy học sinh chưa được
những kỹ ng cho dạng i tập về đại lượng tỉ lệ thuận, đại lượng tỉ lệ nghịch.
Vấn đ đặt ra phải làm thế nào để học sinh có thể phân biệt vận dụng
phương pháp giải đgiải bài tập về đại lượng tỉ lệ thuận, đi lượng tỉ lệ nghịch.
T đó góp phần nâng cao chất lượng pn n Đại s 7 làm nền tảng bản
cho việc học tập bộ n Toán cũng như các môn học khác.
3.3. Điều tra khảo sát về mức đ giải i tập “Đại lượng tỉ lệ thuận” và “Đại
lượng tỉ lệ nghịch”:
Khi bước vào nghiên cứu áp dụng c kinh nghiệm này i tiến hành khảo
sát ý kiến của học sinh (khi chưa áp dụng các kinh nghiệm của mình) làm cơ sở
đối chứng đ từ đó đánh giá hiệu quả của sáng kiến.
Bảng 1: Đầu năm học tôi đã tiến hành điều tra mức độ hứng thú của học
sinh để đđưa ra “Một số kinh nghim giải các bài toán về đại lượng tỉ lệ
thuận, tỉ lệ nghịch
Năm học 2017 - 2018
Lớp Tổng
s
Mức độ
Hứng thú Bình thường Không hứng thú
SL % SL % SL %
7A 30 14 46,7 11 36,6 5 16,7
Qua bảng thống , ta nhận thấy mức độ hứng thú của học sinh khi làm i
tập về đại lượng tỉ lệ thuận”, “đại lượng tỉ lệ nghịch” chưa cao. Vẫn còn mt s
lượng học sinh không có hứng thú trong việc giải các bài tập về “đại lượng tỉ lệ
thuận”, “đại lượng tỉ lệ nghịch”.
Bảng 2: Kết quả bài kiểm tra (kiểm tra thường xuyên) của học sinh năm học
2017 - 2018
Lớp
số
Gii K TB Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
7A 30 4 13,3
5 16,7
12 40 6 20 3 10
Qua bng s liệu ta nhận thấy một số lượng không nhỏ học sinh chưa làm
được bài tập. S lượng hc sinh đạt điểm trung bình chiếm khá lớn (40%). Trong
công tác giảng dạy mặc dù đã được đầu tư cả về công sc lẫn trí tuệ, sphấn đấu
của cả thầy trò tuy nhiên học sinh vẫn chưa thực sự hứng thú với môn học
đặc biệt với chuyên đkiến thức về đại lượng tỉ lthuận, tỉ lệ nghịch chưa cao
còn tồn tại một số vấn đề đòi hỏi chúng ta cần tìm ra phương án giải quyết.
Đối với học sinh: Hc sinh tiếp thu tri thức một cách thđng, không được
học tập hoạt động bằng khả năng của mình, chnghe thầy truyền đạt kiến thức
dẫn đến học sinh lười duy, không khắc sâu dễ quên kiến thức, dẫn đến học
sinh có cảm giác nhàm chán khi học bộ môn.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1. Giải pháp
Từ những thực trạng trên tôi đề ra những giải pháp sau:
- Xây dựng hệ thng thuyết cụ thể với bảng tóm tắt định nghĩa tính chất
về đại lượng tỉ lệ thuận, đại lượng tỉ lệ nghịch.
- y dựng phương pháp giải cụ thể cho từng dạng bài tập vđại lượng tỉ lệ
thuận, đại lượng tỉ lệ nghịch được trình bày ới hình thức so sánh giữa hai đại
lượng tỉ lệ thuận, đại lượng tỉ lệ nghịch .
- Vận dụng phương pháp giải bài tập một cách thành thạo.
2.2. Biện pháp thực hiện
Để có kinh nghiệm giải các bài toán về đại lượng tỉ lệ thuận, đại lượng
tỉ lệ nghịch cần thực hiện 2 nhiệm vụ:
2.2.1. Nhiệm vụ của giáo viên:
- Tổ chức cho học sinh tự hoàn thiện kiến thức bản nhất về đại lượng tỉ lệ
thuận, đại lượng tỉ lệ nghịch: Định nghĩa, c tính chất một số kiến thức bổ
sung.
- Đưa ra nhiều dạng câu hỏi, dạng bài tập đ định ng hoạt động của học
sinh.
- ng dẫn học sinh biết nhận dạng và áp dụng các định nghĩa, các tính chất
một cách chính xác, linh hoạt vào từng dạng bài tập.
- Tổ chức cho học sinh m việc nhân hoặc trao đổi nhóm đ tìm ra cách
giải nhanh nhất.
- Khẳng định kết qu học tập của hc sinh hướng dẫn học sinh khái quát
hóa cách giải từng dạng bài tập với những bài học kinh nghiệm cụ thể.
2.2.2. Nhiệm vụ của học sinh:
- Học sinh nhiệm vụ tự giác, chủ động, tích cực học tập theo yêu cầu của
giáo viên.
- Trả lời câu hỏi và tích cực giải bài tập.
- Học sinh phải c định được chỉ có làm bài tập thì học sinh mới có được
những kỹ năng riêng cho việc giải từng dạng bài tập.
- Sau mỗi dạng bài tập, học sinh nên chủ động tự tng kết lại các cách giải
các bước làm bài trong mỗi cách giải đó. Đặc biệt cách trình bày bài làm cho
khoa học, chính xác nhất.
2.3. Một số dạng toán bản về đại lượng tỉ lệ thuận, đại lượng tỉ lệ nghịch.
2.3.1. Lý thuyết về đại lượng tỉ lệ thuận, đại lượng tỉ lệ nghịch: