Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Năng lực là một thành phần cơ bản trong cấu trúc nhân cách nói chung và là
yếu tố nền tảng tạo nên nhân cách của con người. Dạy học phát triển năng lực là sự
tích lũy dần dần các biểu hiện, yếu tố của năng lực người học để chuyển hóa và góp
phần hình thành, phát triển nhân cách. Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện
bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của
người học, từ chỗ quan tâm đến việc học sinh (HS) học cái gì đến chỗ quan tâm HS
vận dụng được cái qua việc học. Để đáp ứng những yêu cầu của đổi mới giáo dục,
mỗi giáo viên (GV) phải luôn phải tự trau dồi, rèn luyện, bồi dưỡng đổi mới
phương pháp dạy học (PPDH). Chính vậy, đổi mới PPDH theo hướng phát triển
năng lực (PTNL) học sinh là một nhu cầu tất yếu của giáo viên.
Dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm, không chỉ đảm bảo nội
dung môn học về cả kiến thức năng còn hướng tới phát triển những năng
lực cần thiết cho người học. Tuy nhiên dạy học theo hướng phát triển năng lực HS
không phải GV nào cũng có thể thích nghi và đáp ứng kịp thời được.
Trong thực tế môn Công nghệ chưa nhận được sự quan tâm tốt của các cấp
lãnh đạo ngành. Nhận thức của phụ huynh học sinh về môn học môn phụ. Đa
số giáo viên dạy chuyên môn Vật Lý. Nên chất lượng dạy học môn Công nghệ
còn hạn chế. Chính vậy việc xác định dạy học những , như thế nào để phát
triển năng lực cho học sinh vấn đề then chốt. Muốn làm tốt, đạt hiệu quả cao thì
người GV phải hiểu và vận dụng các phương pháp dạy học một cách linh hoạt qua
từng bài học, từng chủ để, từng hoàn cảnh địa phương nhất định. Trước thực trạng
trên qua thực tế 18 năm giảng dạy tôi quyết định chọn đề tài Hướng dẫn học
sinh vẽ hình chiếu trục đo của những vật thể đơn giản theo định hướng phát triển
năng lực”. Thông qua đề tài này, tôi muốn cùng trao đổi với đồng nghiệp về phương
pháp dạy học sinh vẽ hình chiếu trục đo, cũng như trao đổi kinh nghiệm trong dạy
môn Công nghệ để việc dạy học đạt hiệu quả cao hơn.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Vẽ hình chiếu trục đo của những vật thể đơn giản (Bài
5: Hình chiếu trục đo – Công nghệ 11)
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Cách vẽ nh chiếu trục đo của nhng vật thể đơn giản theo
địnhớng phát triển năng lực.
3. Mục đích nghiên cứu
Tác giả muốn làm rõ về phương pháp vẽ hình chiếu trục đo của những vật thể
đơn giản theo định hướng phát triển năng lực của học sinh, đặc biệt hình thành cho
HS các năng lực như: Năng lực giao tiếp Công nghệ, năng lực thiết kế kỹ thuật, giải
quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực hợp tác.
Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Công nghệ.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng hệ thống phương pháp để dạy học sinh vẽ hình chiếu trục đo của
những vật thể đơn giản theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
- Thiết kế, tổ chức dạy học sinh vẽ hình chiếu trục đo của những vật thể đơn
giản theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu thuyết: phân tích, tổng hợp luận nhằm tìm hiểu
cơ sở lí luận của đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, khảo sát, thống kê, thực nghiệm
sư phạm...
6. Đóng góp mới củа đề tài
Đề tài sử dụng một số phương pháp, định hướng thiết kế giáo án tổ chức
dạy học sinh vẽ hình chiếu trục đo của những vật thể đơn giản theo định hướng phát
triển năng lực học sinh.
thlàm nguồn tài liệu tham khảo tốt cho GV trong việc đổi mới phương
pháp dạy học.
Định hướng lựa chọn ngành nghề và phân luồng cho học sinh sau này.
Phần II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. Cơ sở lí luận và thực tiễn
1. Cơ sở lí luận
1.1. Năng lực
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân, thể
hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn
một hay một số dạng hoạt động nào đó”.
Theo Từ điển Tiếng Việt: Năng lực phẩm chất tâm và sinh tạo cho
con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao.
Theo quan điểm của những nhà tâm học: Năng lực tổ hợp các thuộc
tính độc đáo của nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định,
đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt. Năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết quả của
hoạt động. Năng lực vừa điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời
năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy
Tóm lại năng lực là những kiến thức‚ những kỹ năng cũng như khả ng
và hành vi của bản thân một người nào đó để đáp ứng‚ thực hiện một công việc‚
nhiệm vụ nào đó khi được giao phó phải bảo đảm cho công việc‚ nhiệm vụ trên
được hoàn thành hiệu quả ở mức độ cao nhất‚ trong thời gian nhanh nhất.
Như vậy, có thể thấy năng lực về cơ bản không phải là thứ sẵn có mà nó được
hình thành‚ có được qua quá trình học tập‚ rèn luyện tại trường học‚ cơ sở giáo dục
hoặc qua chính những trải nghiệm thực tế trong cuộc sống thường ngày của mỗi
người. Năng lực của mỗi người trong xã hội là hoàn toàn khác nhau‚ tùy thuộc vào
vốn sống‚ sự tiếp thu kiến thức và sự hiểu biết về từng lĩnh vực với từng hoạt động
cụ thể và được biểu hiện qua cách giải quyết công việc‚ thực hiện nhiệm vụ của mỗi
người. Năng lực cũng chịu sự chi phối‚ sự ảnh hưởng từ rất nhiều yếu tố như là con
người‚ môi trường làm việc‚ môi trường giáo dục‚ v.v …
1.2. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Bước sang thế kỷ 21, do tốc độ phát triển của hội với nhng biến đi liên tục
và sự tăng khối lượng tri thức mộtch nhanh cng, đặc biệt trong các lĩnh vực tng
tin và vin thông, công nghvật liệu, ng nghsinh học, đin điện t tự động hóa, trí
tu nhân tạo, dạy học địnhớng ni dung dn trởn lạc hu. Để chun bị cho thế h
tr đối mt và đứng vững trước những thách thức của đời sống, tự nhn, xã hi thì xu
thế chung của chương trình giáo dục phthông nhiều ớc trên thế gii từ đu thế kỉ
XXI đến nay chuyển từ dạy học định hướng nội dung sang dạy học theo định hướng
phát trin ng lực ni học. Cơng trình giáo dc định ng phát trin ng lực
nhằm mục tu sau khi học xong ni học không nhng biết mà còn phải làm đưc gì.
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng
phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, “là cách tiếp cận nêu
rõ kết quả, những khả năng hoặc kĩ năng HS mong muốn đạt được vào cuối mỗi
giai đoạn học tập trong nhà trường một môn học cụ thể” (Viện nghiên cứu quốc
gia - Nhật Bản NIER ). Nói cách khác, chương trình này nhằm trả lời câu hỏi:
Chúng ta muốn HS biết và có thể làm được những gì? Có thể coi là “sản phẩm cuối
cùng” của quá trình dạy học. Việc quản chất lượng dạy học chuyển từ việc điều
khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS.
Đầu ra của dạy học theo định hướng phát triển năng lực tập trung vào hệ
thống năng lực cần có ở mỗi HS, giúp HS không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn
phải biết làm, phải thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được
để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra. Nói cách khác phải gắn với thực
tiễn đời sống. Kết quả của dạy học phát triển năng lực là HS vừa biết, vừa làm được,
vận dụng được. Để đạt được mục tiêu trên, dạy học Công nghệ theo hướng PTNL
đòi hỏi người GV phải biết tổ chức hoạt động trong giờ học để HS làm việc, trao
đổi, tranh luận để tự rút ra kết luận về các kiến thức và nội dung vấn đề.
1.3. Các năng lực cần phát triển qua môn Công nghệ
Dạy học Công nghệ góp phần phát triển năng lực chung: Tự chủ tự học,
Giao tiếp và hợp tác, Giải quyết vấn đề và sáng tạo. Đồng thời phát triển ở học sinh
năng lực đặc thù như: Nhận thức công nghệ, Giao tiếp công nghệ, Sử dụng công
nghệ, Đánh giá công nghệ, Thiết kế kỹ thuật.
1.4. Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong môn Công nghệ
1.4.1. Khái niệm
Dạy học giải quyết vấn đề (GQVĐ) cách thức tổ chức dạy học, trong đó
học sinh được đặt trong một tình huống vấn đề bản thân học sinh chưa biết
cách thức, phương tiện cần phải nỗ lực tư duy để giải quyết vấn đề.
Dạy học GQVĐ có những đặc điểm sau:
- HS được đặt vào tình huống có vấn đề chứ không phải được thông báo dưới
dạng tri thức sẵn. Vấn đề được đưa ra giải quyết cần vừa sức gợi được nhu cầu
nhận thức ở HS.
- HS không những được học nội dung học tập mà còn được học con đường
cách thức tiến hành dẫn đến kết quả đó. Nói cách khác, HS được học cách phát hiện
và GQVĐ.
1.4.2. Cách tiến hành
Bước 1: Nhận biết vấn đề
GV đưa người học vào tình huống có vấn đề hoặc GV có thể gợi ý người học
tự tạo ra tình huống có vấn đề. Phát biểu vấn đề dưới dạng “mâu thuẫn nhận thức”,
đó là mâu thuẫn giữa những cái đã biết với những cái chưa biết và HS muốn tìm tòi
để giải quyết vấn đề mâu thuẫn đó.
Bước 2: Lập kế hoạch giải quyết vấn đề
HS đề xuất giả thuyết của vấn đề, đưa ra các phương án lập kế hoạch để
giải quyết vấn đề theo giả thuyết đã đặt ra.
Bước 3: Thực hiện kế hoạch
Thực hiện kế hoạch GQVĐ. Đánh giá việc thực hiện giả thuyết đặt ra đã đúng
chưa, nếu đúng thì chuyển sang bước tiếp theo, nếu chưa đúng thì quay trở lại bước
2 để chọn giả thuyết khác.
Bước 4: Kiểm tra đánh giá và kết luận
GV tổ chức cho học sinh rút ra kết luận về cách GQVĐ trong tình huống đã
được đặt ra, từ đó HS lĩnh hội được tri thức, kỹ năng của bài học hoặc vận dụng
được những kiến thức, kỹ năng trong môn học để giải quyết vấn đề trong thực tiễn.
1.4.3. Điều kiện sử dụng
Khi áp dụng dạy học giải quyết vấn đề, GV cần lưu ý:
- GV cần tạo ra tình huống vấn đề phù hợp, thu hút HS vào quá trình tìm
tòi để phát hiện GQVĐ. Tuy nhiên, không phải nội dung dạy học nào cũng thể
phù hợp để xây dựng thành tình huống có vấn đề cho HS.
- Nếu giải quyết vấn đề được sử dụng cho các nhóm, vấn đề cần đủ phức tạp
để đảm bảo rằng tất cả các thành viên trong nhóm đều phải làm việc cùng nhau để
giải quyết.
- Tổ chức dạy học GQVĐ đòi hỏi phải có thời gian phù hợp.
- Trong một số trường hợp, cần thiết bị dạy học các điều kiện phù hợp
để thực hiện hiệu quả phương pháp GQVĐ, VD: dụng cụ thí nghiệm, phương tiện
tra cứu, khảo sát và thu thập thông tin…
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Thuận lợi
- Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, Công nghệ môn học bắt
buộc trong giai đoạn giáo dục cơ bản; môn học lựa chọn thuộc nhóm Công nghệ
Nghệ thuật trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (Bộ Giáo dục
đào tạo, 2018b, tr.3).
- Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thđang hiện hữu, Công
nghệ môn học vai trò quan trọng trong giáo dục phổ thông nước nhà để phân
luồng ở phổ thông.
- Giáo dục công nghệ giúp học sinh học tập làm việc hiệu quả trong môi
trường công nghệ tại gia đình, cộng đồng và xã hội.
- Giáo dục công nghệ thúc đẩy giáo dục STEM, có ưu thế hình thành và phát
triển các năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, thiết kế.
- Giáo dục công nghệ một trong những con đường chủ yếu thực hiện giáo
dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, đặc biệt hướng nghiệp trong lĩnh vực
ngành nghề kỹ thuật, công nghệ.
- Giáo dục công nghệ chuẩn bị cho học sinh tri thức nền tảng để lựa chọn nghề
hay tiếp tục theo học các ngành kỹ thuật, công nghệ.