
317
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT TRONG KIỂM TRA
ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC
VỚI MÔN TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC
Đặng Thị Hòa 1
1. Khoa Sư phạm, Trường Đại học Thủ Dầu Một
TÓM TẮT
Ở bc Tiểu học, đánh giá năng lực của học sinh trong môn Tiếng Việt là một yêu cầu rất
quan trọng và nhiều thách thức. Qúa trnh đánh giá nhằm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời
và có giá trị về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt về năng lực ngôn ngữ thông qua việc hnh thành
và phát triển các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe. Từ đó góp phần điều chỉnh các hoạt động dạy
học, quản lí và phát triển chương trnh, đảm bảo sự tiến bộ của học sinh và nâng cao chất lượng
giáo dục. Để đánh giá được năng lực của học sinh tiểu học nói chung và năng lực trong môn
Tiếng Việt nói riêng cần sử dụng phối hợp linh hoạt nhiều phương pháp và kĩ thut đánh giá.
Trong khuôn khổ của bài tham lun này, người viết chỉ tp trung tm hiểu sâu vào việc sửa dụng
phương pháp quan sát trong kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực với môn Tiếng Việt.
Từ khóa: đánh giá, môn Tiếng Việt, năng lực, phương pháp quan sát.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Kiểm tra, đánh giá là một phần không thể thiếu trong giáo dục và đào tạo, luôn được xã
hội quan tâm và là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục trong nhiều năm nay.
Trong Chương trnh Giáo dục phổ thông 2018, quy định về kiểm tra đánh giá có sự chuyển đổi,
từ đánh giá kiến thức, kĩ năng sang đánh giá năng lực người học. Tức là chuyển trọng tâm đánh
giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức sang đánh giá năng lực vn dụng, giải quyết những vấn
đề thực tiễn cuộc sống, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bc cao. Trong giáo
dục, nhiệm vụ cơ bản của việc kiểm tra, đánh giá là làm rõ được tình hình lĩnh hội kiến thức,
sự thành thạo về kĩ năng và trình độ phát triển tư duy (quá trình hình thành khái niệm, khả năng
phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức, …) trong quá trình dạy và học của
học sinh. Thông qua kiểm tra – đánh giá, giáo viên có thể tự đánh giá quá trình dạy và học sinh
nhận biết, tự đánh giá quá trình học, từ đó điều chỉnh quá trình dạy và học để đạt được mục tiêu
môn học. Như vậy, kiểm tra đánh giá trong dạy và học được nhìn nhận như là nhân tố có ý
nghĩa động lực trong quá trình giáo dục.
Năng lực là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối
cảnh cụ thể. Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018 nhận định: “Năng lực là thuộc tính cá
nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho php
con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng
thú, niềm tin, ý chí, … thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong

318
muốn trong những điều kiện cụ thể” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018). Theo quan điểm phát
triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức
đ học làm trung tâm của việc đánh giá. Đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển
năng lực cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng
khác nhau. Đánh giá kết quả học tập đối với các môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và
sau mỗi cấp học là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học, có
vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của học sinh. Hay nói cách khác, đánh
giá theo định hướng phát triển năng lực không chỉ là đánh giá kiến thức kỹ năng, mà đánh giá
năng lực được coi là bước phát triển cao hơn so với đánh giá kiến thức, kĩ năng. Để chứng minh
học sinh có năng lực ở một mức độ nào đó, phải tạo cơ hội cho học sinh được giải quyết vấn đề
trong tình huống mang tính thực tiễn. Khi đó học sinh vừa phải vận dụng những kiến thức, kĩ
năng đ được học ở nhà trường, vừa phải dùng những kinh nghiệm của bản thân thu được từ
những trải nghiệm bên ngoài nhà trường (gia đình, cộng đồng và x hội). Như vậy, thông qua
việc hoàn thành một nhiệm vụ trong bối cảnh thực, người ta có thể đồng thời đánh giá được cả
kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực hiện và những giá trị, tình cảm của người học.
Ở bậc Tiểu học, đánh giá năng lực của học sinh trong môn Tiếng Việt là một yêu cầu rất
quan trọng và nhiều thách thức. Qúa trình đánh giá nhằm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời
và có giá trị về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt về năng lực ngôn ngữ thông qua việc hình thành
và phát triển các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe. Từ đó góp phần điều chỉnh các hoạt động dạy
học, quản lí và phát triển chương trình, đảm bảo sự tiến bộ của học sinh và nâng cao chất lượng
giáo dục. Để đánh giá được năng lực của học sinh tiểu học nói chung và năng lực trong môn
Tiếng Việt nói riêng cần sử dụng phối hợp linh hoạt nhiều phương pháp và kĩ thuật đánh giá.
Trong khuôn khổ của bài tham luận này, người viết chỉ tập trung tìm hiểu sâu vào việc sửa dụng
phương pháp quan sát trong kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực với môn Tiếng Việt.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính. Phương pháp này giúp thăm dò, tìm
hiểu những khái niệm về phương pháp quan sát trong dạy học và đánh giá qua quan sát trong
dạy học nhằm đưa ra các gợi ý cụ thể để đánh giá năng lực học sinh thông qua quan sát trong
quá trình dạy học một môn học cụ thể ở trường tiểu học – môn Tiếng Việt. Bài viết thực hiện
các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: Phương pháp hệ thống hoá lý thuyết: Sắp xếp tài liệu
khoa học, hệ thống các lý thuyết để tăng sự hiểu biết về vấn đề nghiên cứu. Phương pháp phân
tích – tổng hợp: Từ các dữ liệu, thực trạng, tiến hành phân tích các nguồn thông tin để đưa ra
kết luận phù hợp, phục vụ nghiên cứu.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Phương pháp quan sát trong dạy học
Phương pháp quan sát là phương pháp mà trong đó giáo viên theo dõi, lắng nghe học sinh
trong quá trình giảng dạy trên lớp, sử dụng phiếu quan sát, bảng kiểm tra, nhật ký ghi chp lại

319
các biểu hiện của học sinh để sử dụng làm minh chứng đánh giá quá trình học tập, rèn luyện
của học sinh. Phương pháp quan sát bao gồm: Quan sát quá trình đòi hỏi trong thời gian quan
sát, giáo viên phải chú ý đến những hành vi của học sinh như: Thực hiện sai kỹ thuật động tác,
sự tương tác (tranh luận, chia sẻ các suy nghĩ, biểu lộ cảm xúc, …) giữa các em với nhau trong
nhóm, nói chuyện riêng trong lớp, bắt nạt các học sinh khác khác, mất tập trung, có vẻ mặt căng
thẳng, lo lắng, lúng túng hay hào hứng, giơ tay phát biểu trong giờ học, ngồi im thụ động hoặc
không ngồi yên được quá ba phút…; Quan sát sản phẩm: học sinh phải tạo ra sản phẩm cụ thể,
là bằng chứng của sự vận dụng các kiến thức đ học. Những sản phẩm rất đa dạng: các bài tập
thi đấu, bài tập nhóm, sưu tầm tranh ảnh về các kỹ thuật của môn thể thao, tạo ra được một
dụng cụ bổ trợ các kỹ thuật trong thực hành các kỹ thuật thể thao, … Học sinh phải tự trình bày
sản phẩm của mình, còn giáo viên đánh giá sự tiến bộ hoặc xem xt quá trình làm ra sản phẩm
đó. Giáo viên sẽ quan sát và cho ý kiến đánh giá về sản phẩm, giúp các em hoàn thiện sản phẩm.
Các dạng quan sát thường thấy trong quá trình dạy học gồm có:
Quan sát được tiến hành chính thức và định trước: Đây là loại quan sát mà giáo viên đ có
thời gian để chuẩn bị cho học sinh và xác định trước từng hành vi cụ thể đ được quan sát, ví dụ
như trong trường hợp giáo viên đánh giá học sinh khi các em đọc bài trong nhóm tập đọc hoặc
trình bày bài báo cáo trước lớp. Trong những tình huống như thế, giáo viên có thể quan sát một
tập hợp các hành vi ứng xử của học sinh. Ví dụ, khi học sinh trình bày về một đối tượng trong bài
văn miêu tả đồ vật, giáo viên có thể theo dõi và lắng nghe xem học sinh nói có đúng về đặc điểm,
công dụng của đồ vật đó hay không, có thể hiện sự tự tin, lưu loát khi trình bày hay không.
Quan sát không được định sẵn và không chính thức: Đây là những quan sát mang tính tự
phát, phản ánh những tình huống, khoảnh khắc, sự việc xảy ra thoáng qua không định sẵn mà
giáo viên ghi nhận được và phải suy nghĩ diễn giải, ví dụ như khi giáo viêm thấy hai học sinh nói
chuyện thay vì tập luyện theo cặp trong giờ luyện đọc, nhận thấy một em học sinh có biểu hiện
bị tổn thương khi bị bạn cùng lớp trêu chọc khi thực hiện đọc phân vai theo lời thoại của nhân
vật, hoặc nhìn thấy một học sinh bồn chồn không chú ý đến phần báo cáo kết quả hoạt động nhóm
của các bạn khác trong lớp.
Các quan sát chính thức và không chính thức của giáo viên đều là những kỹ thuật thu thập
thông tin quan trọng trong lớp học. Nhờ đó, giáo viên có thể tri giác và ghi chp được mọi yếu
tố liên quan tới học sinh trong giờ học.
3.2. Đánh giá qua quan sát trong dạy học
Đánh giá qua quan sát là thông qua quan sát mà đánh giá các thao tác, động cơ, các hành
vi, kĩ năng thực hành và kĩ năng nhận thức. Chẳng hạn như cách giải quyết vấn đề trong một
tình huống cụ thể. Khi thực hành xậy dựng một kế hoạch, chương trình đánh giá qua quan sát
một nội dung nào đó trong hoạt động dạy học, cần tuân thủ theo quy trình ba bước cơ bản khi
thực hiện qua sát là: Chuẩn bị - xác định mục đích, cách thức thu thập thông tin từ phía học
sinh (trọng điểm cần quan sát, thang đánh giá, phương tiện kĩ thuật); Quan sát, ghi biên bản –
đối tượng quan sát, cách thức quan sát, ghi chp những gì, cách ghi như thế nào, …; Đánh giá
– cách thức phân tích thông tin, nhận xt kết quả, ra quyết định, … Nếu mỗi bước này được
phân tách thành các bước nhỏ hơn thì công việc cần thực hiện khi đánh giá qua quan sát là:

320
➢ Xác định mục tiêu, đối tượng, nội dung, phạm vi cần quan sát. Xây dựng một chương
trình làm việc chi tiết, kể cả việc xác lập sơ đồ của lớp học.
➢ Đưa ra các tiêu chí/ chỉ báo khi quan sát cho từng nội dung quan sát có thể.
➢ Thiết lập bảng kiểm, phiếu quan sát.
➢ Ghi chú những thông tin chính vào phiếu quan sát/ bảng kiểm của mình.
➢ Quan sát cách bố trí của lớp học, khung cảnh lớp học, cơ sở vật chất, tiện nghi phục vụ
cho người học, quan sát lớp học hoặc một hoạt động đang diễn ra; quan sát về sự tương tác của
học sinh với nhau; về đặc điểm văn hóa thể hiện trong bối cảnh và trong mối quan hệ của học
sinh với môi trường.
➢ Giữa các cuộc phỏng vấn, bố trí thời gian để ghi lại những quan sát của mình. Phải
nhất quán về cách thức tiến hành quan sát.
➢ Ghi chp đầy đủ những gì nhìn thấy vào phiếu quan sát/ bảng kiểm.
➢ Tóm lược các quan sát thu được đối chiếu với các nguồn dữ liệu khác (tư liệu, phỏng
vấn, …) nhắm nâng cao độ tin cậy của những kết luận đồng thời có thể phát hiện ra một số câu
hỏi mới cần được làm rõ thông qua những quan sát và các cuộc phỏng vấn tiếp theo.
Như vậy, cùng với các thông tin đ có được từ phỏng vấn, các dữ liệu thu thập được
qua quan sát cũng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình đánh giá. Các công cụ này có
sự tương quan, hỗ trợ lẫn nhau và đôi khi diễn ra đồng thời với nhau (phỏng vấn và quan sát).
Việc sử dụng nhiều cách thức để thu thập dữ liệu và đối chiếu so sánh các thông tin thu thập
được từ nhiều nguồn khác nhau sẽ nâng cao độ tin cậy của các kết quả tìm được trong quá
trình đánh giá.
3.3. Đánh giá năng lực học sinh thông qua quan sát trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt
Đánh giá năng lực học sinh thông qua quan sát trong giờ học Tiếng Việt có thể sử dụng
bảng quan sát hoặc không sử dụng bảng quan sát mà chỉ là quá trình quan sát tự do và ghi chép
lại như nhật ký dạy học của giáo viên. Cụ thể như sau:
3.3.1. Bảng quan sát
Bảng quan sát là công cụ thu thập thông tin về đối tượng quan sát bằng cách tri giác trực
tiếp đối tượng về các tiêu chí định sẵn. Các tiêu chí quan sát là các hành vi tham gia vào quá
trình học tập của người học: chuẩn bị bài ở nhà, tham gia phát biểu xây dựng bài, chuẩn bị giáo
án, tham gia tập giảng, … Bảng quan sát được người dạy trực tiếp quan sát, ghi chép hoặc giao
cho người học tự theo dõi và quan sát, ghi chép lại các hành vi, thái độ của các thành viên trong
nhóm. Những thông tin phản hồi này cho thấy mức độ tiến triển hoặc có những biểu hiện sai
lệnh về thái độ của người học. Qua đó người dạy có các biện pháp tác động nhằm điều khiển
việc hình thành thái độ đúng đắn cho họ. Đồng thời, người dạy thường xuyên thông báo kết quả
quan sát cho người học, để họ tự điều chỉnh thái độ học tập của mình.
Thiết kế bảng quan sát gồm các bước sau:
➢ Xác định nội dung quan sát: quan sát tinh thần học tập của HS trên lớp, thái độ trong
giờ thực hành, thái độ trong làm việc nhóm, …
➢ Xây dựng các tiêu chí quan sát: Tập trung chú ý nghe giảng, phát biểu ý kiến, tích
cực thảo luận,

321
➢ Sắp xếp các tiêu chí theo trật tự logic.
Ví dụ 1: Bảng quan sát về tinh thần học tập của HS trên lớp với hoạt động Nói – nghe:
Mùa hè của em, Bài 1 – Ngày gặp lại, Tiếng Việt 3, tập 1, trang 11, bộ sách Kết nối tri thức với
cuộc sống:
STT
Họ tên
HS
Mức độ chăm chú nghe
giảng
Phát biểu xây dựng bài
Tham gia hoạt động
nhóm
Rất
chăm
chú
Bình
thường
Chưa
chăm
chú
Tích
cực
Bình
thường
Chưa
tích
cực
Tích
cực,
hiệu
quả
Tích
cực,
chưa
hiệu
quả
Chưa
tích
cực,
chưa
hiệu
quả
Ví dụ 2: Bảng quan sát về thái độ chuẩn bị sản phẩm, phương tiện học tập và thái độ
trong giờ thực hành khi học bài Sắc màu em yêu, Tiếng Việt 5, tập 1, trang 19 – 21, hoạt động
“Góc sáng tạo” với yêu cầu thiết kế mẫu áo phông cho đội tuyển thể thao của trường em tham
dự Hội khỏe Phù Đổng.
Để đánh giá một cách chính xác thái độ học tập của học sinh, giáo viên cần xây dựng các
tiêu chí đánh giá rõ ràng, cụ thể ngay từ đầu. Và các tiêu chí này cần được giới thiệu với học
sinh ngay từ đầu môn học hoặc tiết học để học sinh sẽ chủ đông, tích cực tham gia vào các hoạt
động học tập, có cơ sở để có thể tự đánh giá thái độ học tập của mình cũng như của các thành
viên khác trong lớp học. Cụ thể:
Vấn đề
Mức độ
Tiêu chí đánh giá
Trọng
số
Tối đa
Phát biểu xây dựng
bài
- Tích cực
- Bình thường
- Chưa tích cực
- Phát biểu nhiều lần, trong đó số lần đúng
chiếm một nửa trở lên.
- Có phát biểu xây dựng bài, trong đó số
lần đúng chiếm dưới một nửa.
- Chưa tham gia phát biểu xây dựng bài
1
0.5
0
1
Tham gia hoạt động
nhóm
- Tích cực, hiệu
quả
-Tích cực, chưa
hiệu quả
- Chưa tích cực
- Hoàn thành tốt công việc được giao, đóng
góp ý kiến đúng.
- Hoàn thành tốt công việc được giao, đống
góp ý kiến chưa đúng.
- Không hoặc rất ít tham gia các hoạt động
của nhóm.
1
0.5
0
1
Mức độ tập trung
chú ý
- Tập trung cao
- Bình thường
-Chưa tập trung
- Ghi bài đầy đủ, chú ý nghe giảng. Tích
cực phát biểu và tham gia các hoạt động
nhóm.
- Ghi bài đầy đủ, chú ý nghe giảng.
- Không tập trung, làm việc riêng trong giờ
học.
1
0.5
0
1
STT
Họ tên
HS
Chuẩn bị đồ dung/ Phương tiện học tập
Thái độ trong hoạt động thực hành
Chuẩn bị tốt
Có chuẩn
bị
Không chuẩn
bị
Tích cực,
hiệu quả
Tích cực,
chưa hiệu
quả
Chưa tích
cực

