Suy thận cấp
(Kỳ 3)
Hoại tử ống thận cấp: các ống thận bị tổn thương không hoạt động
bình thường được. Hoại tử ng thận thường là kết quả cuối cùng của các nguyên
nhân gây suy thận cấp khác. Ống thận là nhng cấu trúc tinh vi đảm nhận phần lớn
chức năng lọc của thận. Khi bị hoại tử, c tế bào tạo nên ống thận trở nên
dụng và "chết"
Tình trạng này chiếm khoảng 90% trường hợp suy thận cấp
tiên phát.
Nguyên nhân bao gm shock (giảm lượng máu đến thận),
thuốc (đặc biệt là kháng sinh) và những chất dùng trong hóa tr, chất độc và
thuốc nhuộm dùng trong một số kiểu chụp x-quang.
Một số người tạo thành nước tiểu ít hơn bình thường rất
nhiều. Những triệu chứng khác của hoại tử ống thận cấp bao gồm: mệt mỏi,
phù, hôn mê, buồn n, nôn, đau bụng, chán ăn nổi ban. Đôi khi không
có triệu chứng nào cả.
Cách điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra tổn thương
thbao gồm việc ngưng dùng loại thuốc được cho là thphạm, bổ
sung dịch cho cơ thể, tăng lượng máu đến thận. Có thể cho thuốc lợi tiểu đ
tăng sản xuất nước tiểu nếu như tổng lượng nước trong thể quá nhiều.
Có thcho thuốc để cân bằng lại thành phần hóa học của máu.
Nếu như thận không phục hồi được các phương pháp điều
tr không thay thế được một cách thích hợp chức năng bị mất của thận,
bệnh nhân sẽ cần phải thẩm phân thường xuyên hoặc chuẩn bị ghép thận.
TRIỆU CHỨNG
Dưới đây là một số triệu chứng thể xảy ra những người bị suy thận
cấp. Một số người không triệu chứng, ít ra vào giai đoạn sớm của bệnh. Các
triệu chứng có thể rất mờ nhạt.
Giảm sản xuất nước tiểu
Phù thân
Gặp vấn đề về cô đặc nước tiểu
Lẫn lộn
Mệt mỏi
Lơ
Buồn nôn, nôn
Tiêu chảy
Đau bụng
Có vị kim loại trong miệng
Hôn mê có thể xảy ra ở những trường hợp suy thận cấp rất nặng
KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM
Nhiều người bị suy thận cấp mà không có triu chứng gì cả. Ngay cả khi có
triệu chứng thì cũng không đặc hiệu, nghĩa là c triệu chứng đó thể do
nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Khám bệnh thường chỉ cung cấp rất ít dấu
hiệu bất thường.
Suy thận thường được phát hiện qua xét nghiệm máu hoặc nước tiểu.
Những xét nghiệm này thđược làm khi bệnh nhân đến bệnh viện vì những
nguyên nhân khác, h cảm thấy không khỏe nhưng không hiểu tại sao, hoặc
trong một cuộc kiểm tra sức khỏe định kỳ.
Nồng độ ure (BUN - blood urea nitrogen) creatinine cao
trong suy thận do nguyên nhân trước thận. Người ta gọi tình trạng này
tăng ure huyết.
Nồng độ các chất điện giải trong máu có thể cao hoặc thấp
một cách bất thường do chức năng lọc của thận không được bình thường.
Khi suy thn kéo dài nặng, số lượng hồng cầu có th giảm,
đây là tình trạng thiếu máu.
thđo lượng nước tiểu thải ra trong một khoảng thời gian nhất định để
biết số lượng và chất lượng những chất thải được tiết ra. Khi nhu thận btổn
thương, protein những chất khác có thể sẽ bị thải ra qua nước tiểu một cách bất
thường. một số trường hợp, lượng nước tiểu còn sót lại trong bàng quang sau
khi đi tiu thể được đo bằng cách đặt một catheter (một ống cao su mỏng)
thông vào bàng quang.
Nước tiểu còn sót lại trong bàng quang sau khi đi tiểu thể
gợi ý một tình trạng suy thận sau thận, thường là do phì đại tiền liệt tuyến ở
nam
Nước tiểu thể sẫm màu biểu thị tình trng creatinine và
những chất khác bị cô đặc lại.
Nước tiểu có thể được quan sát dưới kính hiển vi để phát hiện
đấu hiệu đặc hiệu của những bệnh của thận. Một số dấu hiệu bao gồm
máu, mủ và chất rắn bên trong nước tiểu.
Nồng độ các chất điện giải trong nước tiểu thể giúp xác
định nguyên nhân chính xác của suy thận.
Nếu không thể chẩn đoán chắc chắn sau khi xét nghiệm, thể siêu âm
thận và bàng quang để tìm ra những dấu hiệu của những nguyên nhân đặc hiệu gây
suy thận.
một số trường hợp, một mẫu của thận được lấy ra để tìm nguyên
nhân gây suy thận.