
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
KHOA Y - DƯỢC
TÀI LIỆU GIẢNG DẠY
MÔN DỊCH TỄ HỌC CƠ BẢN
(Đối tượng: Y tế công cộng)
GV biên soạn: Nguyễn Thị Nhật Tảo
Trà Vinh, 2017
Lưu hành nội bộ

Tài liệu giảng dạy môn: Dịch tễ học cơ bản
KHOA Y DƯỢC
BỘ MÔN Y TẾ CÔNG CỘNG
TÌNH TRẠNG PHÊ DUYỆT TÀI LIỆU
Tên tài liệu: Dịch tễ học
Ngày hoàn chỉnh: 25/11/2017
Tác giả biên soạn: Nguyễn Thị Nhật Tảo
Đơn vị công tác: Bộ môn Y tế Công cộng – Khoa Y Dược
Trà Vinh, ngày….tháng…..năm……
Tác giả
(Ký & ghi họ tên)
PHÊ DUYỆT CỦA BỘ MÔN
Đồng ý sử dụng tài liệu giảng dạy môn: Dịch tễ học cơ bản do Nguyễn
Thị Nhật Tảo soạn để giảng dạy môn Dịch tễ học cơ bản cho đối tượng Y tế
công cộng.
Trà Vinh, ngày ….. tháng ….. năm…..
TRƯỞNG BỘ MÔN
PHÊ DUYỆT CỦA KHOA
Trà Vinh, ngày ….. tháng ….. năm……
TRƯỞNG KHOA

Tài liệu giảng dạy môn: Dịch tễ học cơ bản
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Bài 1. ĐẠI CƯƠNG VỀ DỊCH TỄ HỌC ….…………………………………………1
Bài 2. SỐ ĐO BỆNH TRẠNG ……………………………...……………………….12
Bài 3. SỐ ĐO KẾT HỢP …………………………………………………………….22
Bải 4: QUAN NIỆM VỀ NGUYÊN NHÂN TRONG DỊCH TỄ HỌC ...................... 29
Bài 5. BỆNH VÀ SỰ XUẤT HIỆN DỊCH ………………………………………….39
Bài 6. CÁC THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU TRONG DỊCH TỄ HỌC …………………53
Bài 7. CÁC SAI SỐ TRONG NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC …………………….67
Bài 8. SÀNG TUYỂN PHÁT HIỆN SỚM BỆNH ………………………………….74
Bài 9. TRÌNH BÀY DỮ KIỆN DỊCH TỄ HỌC …………………………………….80
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu giảng dạy môn: Dịch tễ học 1
BÀI 1
ĐẠI CƯƠNG VỀ DỊCH TỄ HỌC
NỘI DUNG
1. Giới thiệu
1.1. Thuật ngữ Dịch tễ học
Dịch tễ học (DTH) được dịch từ một từ tiếng Anh là epidemiology. Theo từ
nguyên, epidemiology bắt nguồn từ 3 từ Latinh, epi có nghĩa là về, demos có nghĩa là
dân và logos là môn học. Như vậy, Dịch tễ học là một môn học khảo sát về những
hiện tượng xảy ra ở người dân. Vào lúc khởi thủy trong lịch sử phát triển của dịch tễ
học, những hiện đó là những hiện tượng xảy ra hàng loạt và lây lan từ người này sang
người khác trong một tập thể vào một thời điểm nào đó, ví dụ như một trận dịch hạch,
dịch tả,… Nói một cách khác, lúc ban đầu, dịch tễ học chỉ nghiên cứu những bệnh lây
thành dịch. Chính vì thế cho đến nay, còn không ít người vẫn hiểu lầm rằng dịch tễ
học chỉ quan tâm đến bệnh truyền nhiễm. Từ đó, họ đã đánh giá thấp vai trò của dịch
tễ học và xem nó như một môn phụ của bệnh học truyền nhiễm, với lập luận rằng
bệnh lý học và phác đồ điều trị những bệnh nhiễm thuộc về chuyên ngành truyền
nhiễm, trong khi đó, những điều mà dịch tễ học quan tâm chỉ có tính chất bổ sung cho
bức tranh lâm sàng của bệnh nhiễm, ví dụ: những đối tượng nào dễ mắc bệnh, cách
thức nào mà bệnh có thể lây từ người này sang người khác và làm cách nào để không
nhiễm mầm bệnh, v.v.
Tuy nhiên trong quá trình phát triển của y khoa, những nhà khoa học đã nhận ra
rằng có những bệnh vẫn xảy ra hàng loạt ở con người, nhưng không lây từ người này
sang người khác, ví dụ: ung thư phổi, xơ vữa động mạch, tai nạn giao thông, bướu
❖ Mục tiêu học tập: Sau khi học xong bài này, người học có thể:
1. Trình bày được định nghĩa của Dịch tễ học.
2. Phân biệt 2 phương thức tiếp cận Dịch tễ học và tiếp cận lâm sàng.
3. Liệt kê được ba mục đích, ba chiến lược nghiên cứu và ba nội dung hoạt động của
Dịch tễ học.

Tài liệu giảng dạy môn: Dịch tễ học 2
cổ,… Bằng cách áp dụng những phương pháp nghiên cứu của dịch tễ học, các chuyên
gia trong ngành y đã xác định được những nguyên nhân hay những yếu tố đã tạo điều
kiện khiến cho con người mắc những bệnh không lây nói trên, từ đó đề ra những biện
pháp phòng chống hiệu quả.
1.2. Lịch sử diễn tiến của Dịch tễ học
Khái niệm DTH được ra đời hơn 2000 năm trước, do Hippocrates và những
người khác đưa ra với ý nghĩa là: “Các yếu tố của môi trường có thể ảnh hưởng đến sự
xuất hiện của bệnh”. Thời kỳ này, bệnh truyền nhiễm là hiện tượng xảy ra đột ngột và
có liên hệ đến nhiều người, gây tử vong cho nhiều người trong cộng đồng nên người
ta gọi DTH là khoa học nghiên cứu các bệnh truyền nhiễm hay các bệnh dịch trong
cộng đồng. Vì vậy, một thời gian dài, DTH phát triển rất chậm.
Để đi tới quan niệm như hiện nay, lịch sử phát triển của DTH trải qua nhiều thời
kì, nổi bật nhất là ba cột mốc đánh dấu những giai đoạn phát triển đặc biệt góp phần
vào hình thành cơ sở phát triển của DTH: John Graunt, William Farr và John Snow.
John Graunt là người đầu tiên đã định lượng các hiện tượng sức khỏe và bắt đầu
chú ý rằng tần số đó khác nhau ở các lứa tuổi khác nhau, giới tính khác nhau. Năm
1662, ông đã phân tích số sinh, tử ở Luân Đôn và thấy rằng cả sinh, tử của nam đều
cao hơn nữ, tỷ lệ chết ở trẻ nhỏ cao hơn các nhóm tuổi khác.
Đến giữa thế kỷ 19, William Farr thiết lập hệ thống đếm số chết, nguyên nhân
chết ở Anh và xứ Wales liên tục trong 40 năm, nhấn mạnh sự khác nhau giữa những
người lập gia đình và những người độc thân, ở những nghề nghiệp khác nhau, ở những
độ cao khác nhau.
John Snow đã định vị nơi cư trú của mỗi trường hợp tử vong vì bệnh tả trong
các năm 1848 – 1849 và 1853 – 1854, ghi nhận thấy một mối liên quan rõ ràng giữa
nguồn nước uống và tình trạng tử vong. Ông đã tiến hành các so sánh về mặt thống kê
những trường hợp tử vong do dịch tả ở các quận có nguồn nước được cung cấp bởi
các công ty khác nhau (Bảng 1.1) và từ đó cho thấy rằng cả số lượng người tử vong và
quan trọng hơn, tỷ lệ tử vong đều cao ở những người sử dụng nguồn nước do công ty
Southwark cung cấp (Bảng 1.2).

