
TIẾP XÚC NGƯỜI BỆNH
Tiếp xúc người bệnh có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác khám chữa bệnh.
Qua tiếp xúc, thầy thuốc khai thác được tiền sử và các triệu chứng cơ năng của bệnh nhân,
đồng thời, động viên an ủi người bệnh. Chỉ khi nào người bệnh hoàn toàn tin tưởng thầy
thuốc thì việc điều trị mới đạt kết quả. Nếu người bệnh không tin tưởng ở thầy thuốc thì kết
quả điều trị rất hạn chế.
Trong quá trình khám bệnh, việc đầu tiên là phải hỏi bệnh nhân về những bệnh
đang mắc và các bệnh đã mắc, bệnh của bệnh nhân có liên quan gì với những người bệnh
nhân tiếp xúc và của gia đình bệnh nhân, nhất là các bệnh truyền nhiễm và di truyền. Sau
khi hỏi bệnh là quá trình thăm khám. Chỉ có khám thật tỉ mỉ, kỹ càng, chính xác mới có thể
thu thập được những triệu chứng cần thiết cho chẩn đoán. Triệu chứng ngày càng đầy đủ
thì chẩn đoán càng chính xác.
Một số người bệnh vì lý do tôn giáo, giới tính nên rất ngại người khác khám cơ thể
mình. Vì vậy, phải có sự hiểu biết nhất định về tâm lý và cách tiếp xúc với người bệnh thì
thầy thuốc mới có sự hợp tác của người bệnh trong quá trình khám bệnh.
1. Đại cương về tâm lý người bệnh
1.1. Đặc điểm tâm lý người bệnh
Bệnh nhân trong những buổi đầu gặp gỡ thầy thuốc thường rất chú ý theo dõi từng
cử chỉ, thái độ, nét mặt, lời nói của thầy thuốc. Bệnh nhân luôn mong muốn tìm thấy những
hành động, lời nói, động viên, an ủi của thầy thuốc. Người thầy thuốc giúp bệnh nhân yên
lòng, vui vẻ, cởi mở, cảm thấy mình được tôn trọng, chăm sóc ân cần thì từ đó hình thành
niềm tin vào thầy thuốc.
Khi tiến hành khám bệnh, thầy thuốc phải toàn tâm, toàn ý, dốc sức vào công việc
chăm sóc bệnh nhân. Bản thân thầy thuốc cũng có lúc mệt mỏi, buồn phiền, có thể đau đớn
về bệnh tật như mọi người, nhưng khi đã chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân thì phải tạm
gác những riêng tư đó lại để lo cho người bệnh. Nếu thầy thuốc tỏ ra vội vã, sốt ruột, hời
hợt tỏng khám bệnh, tinh thần không ổn định, tư tưởng không tập trung vào việc khám chữa
bệnh thì người bệnh dễ thấy ngay và có thể từ đó cho là thầy thuốc không quan tâm đến
bệnh nhân nên dẫn đến thái độ hoài nghi, kém tin tưởng, thậm chí không hợp tác với thầy
thuốc.
Người bệnh nói chung đều mong muốn nhận được sự quan tâm của thầy thuốc. Sự
hỏi han ân cần của thầy thuốc sẽ giúp bệnh nhân trình bày cặn kẽ tình trạng bệnh tật. Ngay
từ buổi đầu tiếp xúc với bệnh nhân, nếu thầy thuốc không chú trọng khám lâm sàng mà chỉ

quan tâm đến các kết quả xét nghiệm (xét nghiệm máu, phim X.quang) thì người bệnh sẽ
cảm thấy bị xúc phạm, không được coi trọng nhân phẩm, họ cảm thấy bị đối xử như những
sinh vật khác.
Lòng tin của bệnh nhân đối với thầy thuốc phụ thuộc nhiều vào thái độ của thầy
thuốc đối xử với đồng nghiệp. Một số thầy thuốc có thể vô tình hay cố ý hạ thấp uy tín của
đồng nghiệp trước mặt bệnh nhân thì điều này rất tai hạn vì làm cho người bệnh suy giảm
lòng tin vào chuyên môn nghề y. Trước mặt thầy thuốc, bệnh nhân không thể nói ra cảm
nghĩ của họ, nhưng lòng tin vào thầy thuốc đã bị suy giảm.
Trong quá trình hành nghề khám chữa bệnh, về nguyên tắc, không được nói dối
bệnh nhân. Nhưng trong một số trường hợp bệnh hiểm nghèo, không có khả năng điều trị,
tiên lượng xấu nếu cho bệnh nhân biết thì sẽ rất tai hại, nên mọi vấn đề chuyên môn không
thể cho bệnh nhân biết hết mà cần linh hoạt trong ứng xử với bệnh nhân giúp bệnh nhân
không quá bi quan, phòng tránh những hậu quả không thể lường được. Tuy nhiên, thầy
thuốc không nên tạo cho bệnh nhân tinh thần quá lạc quan, làm cho bệnh nhân không đề
phòng, dẫn đến có hại. Thái độ cư xử đúng nhất tùy thuộc vào tấm lòng vị tha của thầy
thuốc đối với bệnh nhân, đức tính trung thực và trình độ văn hóa của họ. Có thể thông qua
thái độ của thầy thuốc mà bệnh nhân có thể đoán được những gì thầy thuốc không được
phép nói. Tuy nhiên, ngay cả trong những trườn hợp bất hạnh nhất cũng phải động viên
bệnh nhân giữ vững lòng tin. Biện pháp tốt nhất là lấy những cải thiện về mặt lâm sàng hay
xét nghiệm để động viên, khích lệ bệnh nhân, nhưng không nên quá mức. Điều này có giá
trị lớn về mặt tinh thần, động viên tinh thần về mặt chuyên môn rất có ích đối với bệnh
nhân hơn là động viên chung chung.
1.2. Xu hướng tâm lý của người bệnh
Phần lớn bệnh nhân đều có khuynh hướng muốn cho mọi người chú ý đến mình.
Bệnh nhân thường nghĩ ngợi, lo lắng nhiều về bệnh tật, tương lai, số phận. Tâm lý sợ chết
cũng rất dễ xuất hiện và phát triển. Bệnh nhân dễ rơi vào trạng thái bi quan kéo dài, làm rối
loạn chức năng hệ thống thần kinh, ảnh hưởng đến toàn thân, dẫn đến công tác điều trị trở
nên khó khăn thêm.
Khi mắc bệnh, đa số bệnh nhân đều mong vào sự bình phục. Điều này dẫn tới tâm
lý cả tin, “có bệnh vái tứ phương” ai mách gì cũng nghe, thậm chí mê tín, dị đoan. Lúc này,
thầy thuốc cần có thái độ ân cần, phục vụ chăm sóc chu đáo và có thái độ cứng rắn, đem lại
cho bệnh nhân niềm tin vào chuyên môn, tin vào khoa học để chiến thắng tư tưởng hoài
nghi có hại cho việc điều trị. Trong thực tế, không thể cấm đoán bệnh nhân tìm thầy thuốc

khác, nhưng phải hạn chế thái độ luôn thay đổi thầy thuốc, hạn chế phương pháp chữa bệnh
không có cơ sở khoa học, nhất là chữa bệnh bằng phương pháp mê tín, dị đoan.
Trong quá trình điều trị, việc tiếp xúc giữa thầy thuốc và người nhà bệnh nhân
đóng vai trò quan trọng. Cần vận động người nhà hợp tác với thầy thuốc trong việc chăm
sóc và thực hiện phương pháp điều trị. Thống nhất những điều cần nói và không cần nói
với bệnh nhân, trên quan điểm động viên là chính, tạo sự tin tưởng lạc quan, niềm tin chiến
thắng bệnh tật cho người bệnh.
2. Những yêu cầu cần có với thầy thuốc
Nghề y là một nghề cao quí trong xã hội. Thầy thuốc khi đã hiến cả đời mình cho
nghề y thì trước hết phải có lòng yêu nghề, tận tâm tận lực với người bệnh.
Công việc hàng ngày của thầy thuốc là thường xuyên tiếp xúc với những người
bất thường về thể xác và tinh thần. Môi trường làm việc của thầy thuốc phải đối diện với
bệnh tật, có thể cả những mầm bệnh nguy hiểm đến tính mạng của thầy thuốc. Giờ giấc làm
việc thất thường, nhiều công việc đột xuất, trách nhiệm lớn, liên quan đến tính mạng của
bệnh nhân. Vì vậy, nếu không có năng lực chuyên môn vững vàng, lòng yêu nghề thì thầy
thuốc khó lòng hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Về chuyên môn, đòi hỏi thầy thuốc phải thật giỏi, nắm vững các kỹ năng thực hành
nghề nghiệp, phải biết những việc phải làm và những việc không được làm. Tâm lý của
bệnh nhân bao giờ cũng muốn thầy thuốc giỏi điều trị cho họ. Vì vậy, ngay từ khi còn là
sinh viên trường y, người thầy thuốc phải tự trau dồi, rèn luyện năng lực chuyên môn; trong
quá trình hành nghề phải luôn tự học, học suốt đời, liên tục để nâng cao trình độ chuyên
môn và khoa học kỹ thuật.
Bên cạnh trình độ chuyên môn sắc sảo, nghề y đòi hỏi người thầy thuốc phải có y
đức. Đó là đức tính giản dị, khiêm tốn, trung thực, lòng dũng cảm, tác phong cẩn thận, tinh
thần trách nhiệm với bệnh nhân. Người thầy thuốc chân chính phải đặt lợi ích của người
bệnh lên trên lợi ích của bản thân. Mọi việc làm, thái độ gò bó, xã giao giả tạo của thầy
thuốc đều không qua được mắt bệnh nhân.
Thầy thuốc phải thực sự yêu thương bệnh nhân, chia sẻ được nỗi đau do bệnh tật
của người bệnh. Thầy thuốc nên rèn luyện thái độ bình tĩnh, điềm đạm, cử chỉ đúng mức,
vừa thân mật, vừa nghiêm nghị để duy trì niềm tin đối với bệnh nhân. Thầy thuốc phải thực
sự gương mẫu, lời nói đi đôi với việc làm, nhất là thực hiện những lời khuyên người bệnh
không nên hút thuốc lá, sống lành mạnh, điều độ, giữ vệ sinh thân thể và môi trường.
Tác phong của người thầy thuốc cần được chú ý đúng mức; ăn mặc gọn gàng, sạch
sẽ, nhất là quần áo công tác; bàn tay phải sạch sẽ, móng tay cắt ngắn. Khi hỏi bệnh, người

thầy thuốc cần dùng từ dễ hiểu, tránh lạm dụng từ chuyên môn mà bệnh nhân không biết,
làm cho họ lúng túng, thiếu tự tin, do đó trả lời thiếu chính xác. Không nên tạo không khí
quá thân mật đến mức sỗ sàng, mất tính nghiêm túc của nghề nghiệp, làm giảm lòng tin của
bệnh nhân đối với thầy thuốc. Khi khám bệnh phải nhẹ nhàng, không thô bạo, tránh làm
đau hoặc làm mệt nhọc thêm bệnh nhân. Thầy thuốc khi khám bệnh cho người khác giới
cần có người thứ 3 cùng dự (y tá, hộ lý, người thân của bệnh nhân...). Đối với người cao
tuổi cần có thái độ nhã nhặn, kính trọng, nhưng vẫn phải hỏi bệnh tỉ mỉ, khám bệnh kỹ
càng. Vì người cao tuổi thường mắc cùng lúc nhiều bệnh và các triệu chứng không điển
hình như lúc trẻ tuổi.
Tóm lại, nghề y đòi hỏi người thầy thuốc phải hiểu biết tâm lý người bệnh, có năng
lực chuyên môn vững vàng, tận tâm, tận lực, hết lòng cảm thông, yêu thương, phục vụ
không điều kiện vì phục hồi sức khỏe cho bệnh nhân.

Phần I.
CHƯƠNG CẤP CỨU
DỊ ỨNG PENICILLIN
MỤC TIÊU
1. Mô tả được các triệu chứng dị ứng Penicillin.
2. Trình bày được nguyên tắc xử trí và xử trí ban đầu khi dị ứng penicillin.
3. Giáo dục mọi người không dùng thuốc bừa bãi và thử phản ứng trước khi dùng thuốc.
NỘI DUNG
Ngày nay trong y học sử dụng nhiều kháng sinh để điều trị, trong đó có Penicillin là loại
kháng sinh thông dụng, ít độc, dễ sử dụng, nhưng dễ gây dị ứng, nhiều trường hợp gây tử
vong.
1. ĐIỀU KIỆN GÂY TAI BIẾN
- Loại thuốc: tất cả các loại Penicillin có thể gây dị ứng, thường gặp nhất là Penicillin
G
- Đường dùng: Tất cả mọi đường dùng đều có thể gây dị ứng, nhưng tiêm hay gặp và
nguy hiểm nhất
- Liều lượng: Không phụ thuộc vào liều lượng, tuy nhiên liều cao thì càng nặng
- Tiền sử
+ Có thể xảy ra khi tiêm lần đầu, những người tiêm nhiều lần dễ tăng dần cường độ phản
ứng.
+ Dễ gặp người có cơ địa dị ứng: hen, dị ứng thời tiết, thức ăn…
2. TRIỆU CHỨNG
- Phản ứng nhanh: xảy ra ngay lập tức hoặc sau 5-10 phút sau khi tiêm, nếu không
xử trí kịp thời có thể tử vong.
- Phản ứng chậm: Xuất hiện sau vài ngày hoặc sau 1-2 tuần.
2.1. Trường hợp nhẹ
- Nổi mẩn ngứa, đỏ da, mày đay.
- Đau mỏi cột sống lưng.
- Thể này không điều trị có thể tự khỏi, nhưng nếu dùng lại lần sau có thể gây phản
ứng nặng hơn.
2.2. Thể trung bình
- Ngoài các dấu hiệu của thể nhẹ, biểu hiện.
- Choáng váng nhẹ, đau đầu.
- Phù mặt kiểu phù quinke.
- Nói khàn, ho.
- Khó thở kiểu hen.
- Rối loạn tiêu hoá
- Thể này có thể chuyển sang thể nhẹ hoặc thể nặng nên cần phải theo dõi 24-48h.
2.3. Thể nặng (sốc phản vệ)
- Xảy ra ngay lập tức sau khi rút mũi tiêm.
+ Sau khi tiêm bệnh nhân cảm giác sợ hãi, choáng váng, khó thở, tím tái, sùi bọt mép ngã
vật ra và hôn mê.

