
Vềkhái niệm Văn học
Đem liên kết quá khứvới hiện tại, lí luận văn học sẽcó thêm sựphức tạp. Có thểnói, lí
luận văn học (cũng nhưnghệthuật học và các khoa học nghiên cứu lịch sửvăn hoá) phải
vận dụng loại thướcđo thường xuyên vậnđộng để đođạc nội dung đang vậnđộng. Tình
huống có vẻkhác thường ấy chính là môi trường sinh tồn của khoa học vềvăn học. Sự
chính xác mang đặc trưng riêng của nghiên cứu văn học cũng nhưcác khoa học lịch sử
nằmởchỗ: cái riêng lẻphải thường xuyên được minh định cùng với cái toàn vẹn lịch sử-
với quá trình phát triển tổng thểcủa văn học dân tộc, đến lượt mình, quá trình ấy lại nằm
trong một quá trình nhận thứcvàđánh giá chẳng bao giờdừng lại (tức là không bao giờ
dậm chân tại chỗ, không bao giờcó kết quảbày sẵn, hoặc một cái gì đó đã hoàn tất xong
xuôi). Những công trình nghiên cứu văn học xuất sắc bao giờcũng có ưuđiểm là chúng
nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện quá trình phát triển của văn học dân tộc trong
tổng thể, nghiên cứu các giai đoạn phát triển riêng lẻcủa quá trình trong quan hệqua lại
giữa chúng với nhau, nghiên cứu các tầng vỉa riêng lẻcủa lịch sửvăn học trong sự định
giới, xác định lẫn nhau của chúng. Những công trình nhưthếchẳng bao giờ đưa ra lời
phán quyết cuối cùng buộc người khác phải chấp nhận và học thuộc. Chúng chỉ đưa ra một
kết quảcó tính chất nguyên tắc của tưtưởng nghiên cứu, một kết quảmà ởmột chừng
mực nào đó không mang tính chủquan và tuỳtiện, do có căn cứxác đáng, kết quả ấy có
thể đã được suy ngẫm và nhận thức thấuđáo nhằm tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu các
quá trình văn họcởnhững bước tiếp theo, mới hơn. Nếu những công trình xuất sắcđạt
được sựchính xác đặc thù nhờ đưa ra một kết quảmang tính nguyên tắc nhưthế, thì sai
lầm, sựthiếu chính xác sẽxuất hiện trong nghiên cứu văn học khi mà nhà khoa học có ý

đồ buộc quá trình phải dừng lại giống nhưmột sựvật, không đo sánh cái bộphận với ý
nghĩa chung của quá trình, buộc cái riêng lẻphải lệthuộc vào các công thức trừu tượng.
Nói gọn hơn, nếu nhà nghiên cứu bịnhấn chìm trong cái đơn lẻ, cá biệt giống nhưtrong
một khách thểthuần tuý, thì đó chính là lí do dẫn tới sựkhông chính xác.
Nguyên tắc nghiên cứu văn học,- như đã nói, dùng thướcđođang vậnđộng để đo
đạc nội dung đang vậnđộng,- dẫn tới một tình huống ai cũng biết, nhưng rất mực lí thú:
ngay trong bản thân nghiên cứu văn học, các tầng vỉa của lịch sửvăn học cũng thường
xuyên co duỗi, vậnđộng, không bao giờdậm chân tại chỗ. Trong tình huống nhưthế, thử
hỏi làm sao có thể đưa ra những định nghĩa theo lô gíc hình thức cho các trào lưu, khuynh
hướng, các thờiđại văn học? Chúng chỉcó thểgiới hạn lẫn nhau, xác định lẫn nhau như
những tầng vỉađang vậnđộng (và thường xuyên được nhận thức lại) của một chỉnh thể
đang vậnđộng. Lịch sửkhoa học cung cấp cho ta nhiều ví dụ đáng phải suy ngẫm vềsự
chuyển dịch hợp quy luật của những “ranh giới” ởkhu vực tiếp giáp của các tầng vỉa lịch
sử- văn học khác nhau, cũng nhưsựcan thiệp thô bạo nhằm tác động vội vã tới sựchuyển
dịch ấy. Lịch sửkhoa học thường lần lượtđặc biệt coi trọng và hướng trọng tâm chú ý của
mình vào việc nghiên cứu khi thì là giai đoạn lịch sửnày, lúc lại là thờiđại kia. Chẳng hạn,
trong đời sống khoa học của nướcĐức, vào những nămđầu thếkỉXX, nổi lên phong trào
say mê nghiên cứu chủnghĩa lãng mạn từlâu bịquên lãng, đến những năm 20 lại nổi lên
phong trào nghiên cứu barocco. Làn sóng quan tâm mới tới văn học barocco ởCộng hoà
liên bang Đức, Áo, Thuỵ Điển, Mĩvà nhiều nước khác bắtđầu vào những năm 60, cũng
đúng vào thời gian đó, văn học thếkỉXVII đã lôi cuốn một lực lượng nghiên cứu vô cùng
đông đảo, trong lĩnh vực nghiên cứu này người ta đã tạo một bước tiến rất lớn, thực sựmới
mẻvềchất, và sức hấp dẫn của barocco đã đạt quy mô quốc tế. Sựthừa nhận khái niệm
“barocco” trong nghiên cứu văn học và nghệthuật học xô viết cầnđược xem là một hiện
tượng tích cực, cũng nhưtrong nhiều lĩnh vực khác, vấnđề không phải chỉlà ở“câu chữ”,
mà là cái hạt nhân ý nghĩa quan trọng nhất của lịch sửvăn học thếkỉXVII đã có được tên
gọi, đồng thời thấy hé lộkhảnăng minh định đặcđiểm và nghiên cứu một cách sâu sắc các
loại hình quan hệvớiđời sống, loại hình chiếm lĩnh và sửdụng ngôn - lời thi ca rất khác
nhau được hình thành xung quanh, hoặcđược sinh ra bởi hạt nhân ấy, cũng nhưkhảnăng
phân biệt “barocco” với “chủnghĩa cổ điển” (hoặc, có lẽlà, các dạng khác nhau của chủ
nghĩa cổ điển). Sẽgặp muôn vàn khó khăn khi làm những việcấy, nếu những hiện tượng
nhưthếchưa tìm thấy tên gọi, hoặc bịdấu kín trong một khái niệm bất tiện và vô hình thù:
“văn học thếkỉXVII”. Thếnhưng nếu nói về điểm khởiđầu và điểm kết thúc theo trình tự

biên niên(11), thì văn học barocco vẫn là cái gì đó vô hình thù theo kiểu riêng của nó - các
động lực lịch sửkhông xuất hiện cùng một lúc mà được chuẩn bịtừtừ để trởthành trung
tâm ý nghĩa lôi kéo các động lực sáng tạo của thờiđại. Bởi thếsựthừa nhận và vận dụng
khái niệm “barocco” là động thái vô cùng hữu ích trong quá trình nhận thức lịch sửvăn
học (đúng vào lúc lịch sửvăn học gắn bó chặt nhất với những nền tảng cơbản của lịch sử
văn hoá nói chung), các ranh giới phân chia linh hoạt cũng đã được vận dụng vào tổng thể
tiến trình văn học giúp hình dung rõ hơnđặcđiểm phát triển của nó.
Tuy nhiên, vẫn thường xẩy ra trường hợp thếnày: sức hấp dẫn của một thờiđại văn
học nào đó thường làm nẩy sinh ý đồ mởrộng giới hạn chính đáng của nó một cách vô
căn cứ. Thí dụcó một thời người ta đã đem các phép tắc của thơbarocco để áp vào một
phần lớn thơNga thếkỉXVIII, trừSumarokov và những thi sĩmô phỏng ông. Sựbành
trướng muộn mằn nhưthếcủa chủnghĩa barocco vịtất có cơsở; phải nhớrằng sựthay đổi
các tầng vỉa lịch sửlà một tiến trình biện chứng, trong tiến trình ấy sựchuyển biến, thay
đổi có lúc diễn ra quyết liệt, nhưng cũng có lúc diễn ra từtừ, nhẹnhàng. Nó diễn ra như
thếcả ở chiềuđồng đại và chiều lịch đại. Chủnghĩa cổ điển Pháp dựa vào sựphát triển tự
phát của văn học barocco nhưdựa vào cơsở, vào mảnh đất màu mỡmà nó dày công dọn
dẹp, chinh phục, cải tạo vô cùng thận trọng, và xem ra, cũng chủnghĩa cổ điển Pháp ấy từ
thếkỉXVIII cho đếnđầu thếkỉXIX đã thiệt hại không ít do cái cơsởtruyền cho mình sức
sống kia bị đè nén, lấn át, đẩy lùi vềmặt sau một cách thái quá. Ở Đức, ngay từthếkỉ
XVII đã thấy xuất hiện lực lượng đối lập với chủnghĩa barocco đang phát triển mãnh liệt
lúc bấy giờ(12), nhưng ngay Gottsched, một nhà duy lí theo phái Wolff ởLeipzig, người
chống đối quyết liệt những tàn dưcủa phong cách barocco, cũng không sao bịtđược tiếng
vang của nó ngay trong những bài thơcủa mình. Barocco vẫn tiếp tục sống ngay cảtrong
cuộc sống thường nhật; sau này Jean - Paul gạn chắt chủnghĩa barocco còn tiềmẩn trong
văn hoá Đức, khai thác những yếu tốcủa phong cách biểu hiện cầu kì trong văn xuôi thuộc
các tiểu văn hoá không được thừa nhận; hệthống biểu trưng bịloại ra khỏi trung tâm sáng
tạo văn nghệ(trong sáng tác của Lohenstein có cảmột galerie biểu trưng rải ra trong các
đoạn miêu tả, giải thích kín đặc nhiều trang giấy) dù đã tìm được cuộc sống khác không
chiêng trống long trọng; barocco ởcác trang bìa sách, ởnhững bức chạm trên tiền sảnh
dinh thựvẫn sống bình thản cho đến tận cuối thếkỉXVIII, song nhìn vào đó, tuyệt không
nên kết luận về“chất barocco” của các văn bản sách vở.
Các tầng vỉa của lịch sửvăn học trong khoa học cũng hít thở, lúc co lại, lúc dãn ra -
đó chính là đời sống lịch sử đích thực.

Niềm tin vào ngôn ngữkhoa họcđã được hình thành một cách hữu cơvà mang tính
truyền thống(13), ngôn ngữmang theo sức nặng tựnhận thức, tựgiải thích của lịch sử, cho
phép khám phá lô gíc phát triển hiện thực của văn học. Chao đảo, tròng trành trong cái
chỉnh thểvậnđộng của tiến trình văn học dân tộc, các tầng vỉa văn học thường xuyên giới
hạn lẫn nhau, chế định lẫn nhau, thường xuyên được nhận thức, rồi tiếp tụcđược nhận
thức lại,- chúng đòi hỏi phải có tưtưởng nghiên cứu thật chính xác theo kiểu riêng. Trong
nghiên cứu văn học, sựchính xác lí thuyết nhắm vào cái chỉnh thểvà luôn luôn ngụý cái
chỉnh thể ấy phải giữ được sựcân đối với sựchính xác từbình diện thực tếcủa lịch sửvăn
học. Cái này và cái kia gắn bó chặt chẽvới nhau - ý niệm chỉnh thểchỉcó thểxuất hiện
nhưlà sựkhái quát các tri thức chi tiếtởphương diện thực tếcủa sựvật - tri thứcấy như
được kiểm tra qua những trường hợp cụthểkhông bao giờ đầyđủ. (…)
Quá trình phát triển mang tính chỉnh thểcủa văn học dân tộc gắn chặt với một lịch
sửhiện hữu cụthể,được phản ánh và được hiện thực hoá qua lịch sử ấy. Quá trình chỉnh
thểlà cấpđộ văn học sửmà ở đó ý nghĩa phát triển của văn họcđượcđặt ra, được biện
chính, là phạm vi mà các tầng vỉa của lịch sửvăn học, như đã nói, chế định và giới hạn lẫn
nhau.
Chính quá trình phát triển của văn học dân tộc, văn học của nhân dân tạo nên phạm
vi ấy, cấpđộ ấy và đó là cơsở để giải thích mộtđặcđiểm cuối cùng của các khái niệm
nghiên cứu văn học sẽ được bàn tớiở đây. Lịch sửvăn học thực sựmang tính toàn vẹn và
có những đặcđiểm của một sinh thểsống động khi nó là lịch sửvăn học dân tộc, dù rằng,
vềnguyên tắc, ởnhững thờiđại khác nhau, bản chất của tính nhân dân, của tính dân tộc
được chiếm lĩnh, nhận thức, trải nghiệm theo những cách khác nhau. Quá trình phát triển
mang tính chỉnh thểcủa văn học dân tộc làm nên giới hạn và là thướcđo cho toàn bộnội
dung của nó (giới hạn và thướcđo cũng thường xuyên lớn lên, không dừng lại, thường
xuyên thay đổi). Bên ngoài giới hạn của quá trình ấyđã liền có một bầu trời của những dị
thể, ví nhưlịch sửcác nền văn học châu Âu (trong quá khứvềcơbản có sốphận chung)
và rộng hơn là văn học toàn thếgiới.
Đặcđiểm của tất cảcác khái niệm chỉcác tầng vỉa phát triển của văn học là chúng
chỉtìm thấy ý nghĩa cụthểcủa mình trong phạm vi văn học dân tộc(14). Dĩnhiên mứcđộ lệ
thuộc của các khái niệm vào cái chỉnh thểcụthểmà ở đấy chúng được nhận thức là rất
khác nhau. Nhưng cần phải tính tới mứcđộ cụthể ấy vì rằng trong nhiều trường hợp, sự
mởrộng thái quá sẽdẫn tới biến thái giảtạo, làm cho khái niệm lịch sửvăn học trởnên

giống với khái niệm lô gíc hình thức, và nhưthếnó không thểphát huy được chức năng
của mình.
Một sốkhái niệm, ví như“chủnghĩa hiện thực” đã đượcđúc kết chủyếu dựa vào
các truyền thống châu Âu. Một sốkhái niệm khác tỏra có khảnăng đáng kểtrong việc mở
rộng và khái quát,- tất cảnhững điềuđó, trong các trường hợp cụthể, luôn luôn gắn chặt
với những đặcđiểm ngữnghĩa của các khái niệm mà thường là giới nghiên cứu khó phát
hiện, khó nhận ra. Ngay với tưcách là khái niệm của lịch sửvăn học, “barocco” có xu
hướng khái quát những đặcđiểm nổi bật của thờiđại nghệthuật, mối liên hệgiữa thơvà
hội hoạ, tính đạiđồng quốc tếcủa ngôn ngữhình tượng, ngôn ngữbiểu trưng, ngôn ngữthi
- hoạ; nó giữchặt dấuấn nguồn cội, và vì thế đó là khái niệm có thểtìm thấy ý nghĩa nội
tại trong những nhào nặnđã vượt ra rất xa so với cái gốc của nó. Những khái niệm lịch sử
văn hoá xuất hiện muộn hơn như“chủnghĩaấn tượng”, “chủnghĩa biểu hiện”, mỗi khái
niệm có nguồn cội riêng, dường nhưlà “ngẫu nhiên”, thì lại trởnên rắn chắc, nên không
thểnhận thức các khái niệmấy theo kiểu mởrộng. “Chủnghĩaấn tượng” gắn chặt với hội
hoạPháp và không dễthích ứng ngay với các giai đoạn tương đồng trong sựphát triển của
hội hoạ ở nhiều nước như Đức, Ba Lan, nó chỉcung cấp tên gọi cho một khuynh hướng,
hoặc một khuynh hướng phong cách nào đó, chứkhông thểgọi ra được bản chấtđích thực
của chúng (trong khi đó,được vận dụng vào hội hoạPháp thì khái niệmấyđã được nhận
thức lại một cách rất nguyên tắc và hoàn toàn phù hợp với những cái được biểuđạt)(15).
Việc dịch chuyển và phổquát khái niệm “chủnghĩa biểu hiện” còn khó hơn, hoặc ít ra
cũng khó tương tựnhưthế, mặc dù từnày,- sựsong trùng giữa nó với “chủnghĩaấn
tượng” chỉlà giảtạo, - ngay từ đầuđã khái quát một tình huống chung nào đó trong đời
sống tinh thần kéo dài một phần ba đầu thếkỉ ở Đức và Áo cùng với những khuynh hướng
ngữnghĩa và phong cách của nền nghệthuậtấy (thi ca, hội hoạvà âm nhạc), và vì thế
ngay từ đầu nghĩa của nó đã rộng hơn rất nhiều.
Ngay các khái niệm phổbiến như“chủnghĩa lãng mạn”, “chủnghĩa cổ điển”, ở
những nền văn học khác nhau, vẫn có những cách hiểu rất khác nhau. Trong bài viết về
“các giới hạn sửdụng khái niệm chủnghĩa lãng mạnở Đức”(16), nhà triết học Otto
Pöggeler nhấn mạnh rằng “khái niệm này trong tiếng Đức không giống cách sửdụng thuật
ngữquốc tếthông dụng”. Ông chỉra những kiểu sửdụng khái niệmấy một cách kì cục,
thiếu hợp lí của các nhà nghiên cứu lịch sửvà nghệthuậtĐức. Có thểlà O. Pöggeler đã
nhìn nhận một cách sắc sảo hơn người khác (không nói tới sựchính xác trong cách nhìn
nhận của ông ấy) vềsự độcđáo của chủnghĩa lãng mạnĐức, “tính phi quốc tế” của nó,

