intTypePromotion=1

Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Kiểm toán: Số 145/2019

Chia sẻ: ViShani2711 ViShani2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:60

0
29
lượt xem
1
download

Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Kiểm toán: Số 145/2019

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Kiểm toán: Số 145/2019 trình bày các nội dung chính sau: Hoàn thiện biên bản và việc lập biên bản kiểm toán ngân sách cấp huyện trong cuộc kiểm toán ngân sách địa phương, nâng cao chất lượng kiểm toán các cơ sở y tế công lập thông qua việc xây dựng và ban hành hướng dẫn kiểm toán chi tiết, nâng cao chất lượng kiểm toán Ngân hàng Chính sách xã hội của Kiểm toán nhà nước Việt Nam,... Để nắm chi tiết nội dung mời các bạn cùng tham khảo tạp chí.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Kiểm toán: Số 145/2019

  1. SOÁ 145 - 11/2019 i ISSN 1859 - 1671 HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP TS. Hồ Đức Phớc, Tổng KTNN, Chủ tịch GS.TS Đoàn Xuân Tiên, Phó Tổng KTNN, Phó Chủ tịch TS. Lê Quang Bính GS.TS Ngô Thế Chi PGS.TS Phạm Văn Đăng PGS.TS Đinh Trọng Hanh PGS.TS Nguyễn Đình Hòa GS.TS Vương Đình Huệ GS.TS Đặng Thị Loan GS.TS Dương Thị Bình Minh PGS.TS Phan Duy Minh TS. Lê Đình Thăng Nhà báo Nguyễn Thái Thiên PGS.TS Lê Huy Trọng GS.TS Phạm Quang Trung PGS.TS Ngô Trí Tuệ TS. Nguyễn Hữu Vạn TS. Mai Vinh THƯ KÝ TÒA SOẠN ths. Ngô Khánh Hòa Thiết kế Kỷ Quang Giá: 9.500 Đồng TÒA SOẠN Số 111 Trần Duy Hưng - Cầu Giấy - Hà Nội Tel: 024 6287 3463 / Website: khoahockiemtoan.vn Email: tcnckhkt@yahoo.com.vn / khoahockiemtoansav@gmail.com Giấy phép hoạt động báo chí số: 514/GP-BTTTT cấp ngày 05/10/2015 In tại: Công ty Cổ phần In La Bàn
  2. content NO 145 - 11/2019 i ISSN 1859 - 1671 06 RESEARCH AND DISCUSSION the mineral exploiting enterprises in Binh Dinh province Dang Thi To Tam Current situation of science and technology activities of Vietnam Nguyen Duc Thanh, Vu Le Xuan Anh, Tran FORUM AND DIALOGUE Hoai Phuong Adjust GDP to make 49 Dinh Vinh Completing the audit minutes appropriate policy and preparation of audit minutes of district budget audits in the local budget audit 19 FROM THEORY TO PRACTICE Nguyen Thi Kieu Thu Improving quality of audit of public health establishments through designing and promulgation of detailed audit guidance Truong Duc Thanh Improving the quality of the audit of Social Policy Bank of State Minh Anh Enhance solutions to anti origin Audit of Vietnam fraud 33 ECONOMICS – FINANCE EXPERIENCES FROM ABROAD Pham Van Dang Training human resources 53 Vu Ngoc Tuan Impact of ownership structure on accounting and auditing in Vietnam on the performance of state-invested towards the international financial reporting standards in the process of global economic enterprises listed on Vietnam’s stock market integration Nguyen Thi Kim Tuyen Building environmental performance indicators at NEW DOCUMENTS 61
  3. số 145 - 11/2019 i ISSN 1859 - 1671 noäi dung 06 NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Bình Định Đặng Thị Tố Tâm Thực trạng hoạt động khoa học và công nghệ ở nước ta hiện nay Nguyễn Đức Thanh, Vũ Lê Xuân Anh, DIỄN ĐÀN - ĐỐI THOẠI 49 Trần Đình Vĩnh Hoàn thiện biên bản và việc lập biên bản kiểm toán ngân sách cấp huyện trong cuộc kiểm toán ngân sách địa phương 19 TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN Nguyễn Thị Kiều Thu Nâng cao chất lượng kiểm toán các cơ sở y tế công lập thông qua việc xây dựng và ban hành hướng dẫn kiểm toán chi tiết Hoài Phương Điều chỉnh GDP để hoạch Trương Đức Thành Nâng cao chất lượng định chính sách phù hợp kiểm toán Ngân hàng Chính sách xã hội Minh Anh Nâng cao giải pháp chống gian của Kiểm toán nhà nước Việt Nam lận xuất xứ 33 KINH TẾ - TÀI CHÍNH KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI Phạm Văn Đăng Đào tạo nguồn nhân lực 53 Vũ Ngọc Tuấn Tác động của cấu trúc sở kế toán - kiểm toán ở Việt Nam hướng tới hữu tới hiệu quả hoạt động của doanh phù hợp với chuẩn mực báo cáo tài chính nghiệp có vốn nhà nước đầu tư niêm yết quốc tế trong quá trình hội nhập kinh tế trên thị trường chứng khoán Việt Nam toàn cầu Nguyễn Thị Kim Tuyến Xây dựng chỉ số hiệu quả môi trường tại các doanh nghiệp VĂN BẢN MỚI 61
  4. NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI THÖÏC TRAÏNG HOAÏT ÑOÄNG KHOA HOÏC VAØ COÂNG NGHEÄ ÔÛ NÖÔÙC TA HIEÄN NAY Đặng Thị Tố Tâm* K hoa học và công nghệ đóng vai trò là nền tảng, động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vai trò của khoa học và công nghệ luôn được Đảng và Nhà nước xem là nhân tố động lực trong phát triển kinh tế xã hội, nền tảng và nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Điều này đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 20-NQ/TW Khóa XI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 và Chiến lược Phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020. Trong những năm qua, việc triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, ứng dụng kết quả nghiên cứu đã góp phần tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá. Tuy nhiên, một vấn đề lớn đang được đặt ra hiện nay là làm thế nào để nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ. Để góp phần giải quyết vấn đề này, bài viết đánh giá thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ ở Việt Nam qua một số nội dung: Thực trạng đầu tư cho hoạt động khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước; Thực trạng đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học; Thực trạng công trình khoa học được công bố Từ khóa: Khoa học và công nghệ. Current situation of science and technology activities of Vietnam Science and technology serve as the foundation and driving force for the country’s industrialization and modernization process. The role of science and technology is always considered by the Party and the State to be the driving force in socio-economic development, the foundation and the decisive factor for the success of industrialization, modernization and international integration of the country. This is clearly shown in Resolution No.20-NQ/TW of the XI Congress of the Central Committee of the Communist Party of Vietnam, Law on Science and Technology 2013 and Strategy for Science and Technology Development of Vietnam period 2011-2020. Over the past years, the implementation of scientific and technological tasks and the application of research results have contributed to a marked change in productivity, quality and efficiency in production, and competitive capacity improvement. However, a big problem now being raised is how to improve the quality of scientific and technological research activities. This is a big deal and in order to contribute to solving this problem, the article evaluates the current situation of scientific and technological research activities in Vietnam through a number of contents: Current situation of investment in science and technology activities from the state budget; actual status of scientific researchers; actual status of published scientific works. Keywords: Science and technology. Thực trạng đầu tư cho hoạt động khoa học bằng 1,52% tổng chi ngân sách nhà nước, tăng công nghệ từ ngân sách nhà nước mạnh so với mức 1,36% trong năm 2014, song Năm 2015, đầu tư cho khoa học công nghệ từ giảm mạnh so với mức 1,85% năm 2006. Tính theo ngân sách nhà nước đạt khoảng 17.390 tỷ đồng, tỷ trọng đầu tư cho khoa học công nghệ/GDP từ *Học viện Chính trị Khu vực I 6 Số 145 - tháng 11/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
  5. ngân sách nhà nước giai đoạn 2006-2015 thì cũng đầu tư ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học giảm từ mức 0,51% xuống mức 0,41%. Như vậy, và công nghệ với mức kinh phí vào khoảng 1,4 - tổng đầu tư của Việt Nam cho khoa học công nghệ 1,85% tổng chi ngân sách nhà nước, chiếm từ 0,4 hàng năm vẫn dưới 1% GDP. đến 0,6% GDP. Hiện nay, hoạt động khoa học và công nghệ Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và phần lớn được đầu tư từ ngân sách nhà nước. công nghệ từ năm 2006 đến năm 2015 đều có xu Điều này đã được cụ thể hóa rõ nét ở Nghị định số hướng tăng: Năm 2006 là 5.429 tỷ đồng, đến năm 95/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ 2015 đạt 17.390 tỷ đồng, qua đó cho thấy sự quan quy định về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt tâm của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động khoa động khoa học và công nghệ. Bình quân hàng năm, học và công nghệ. (1) Trong đó, tổng đầu tư quốc gia cho nghiên cứu tăng cường xã hội hóa trong nghiên cứu khoa học và phát triển khoa học và công nghệ là 13.390,6 tỷ và công nghệ. đồng thì đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm hơn Riêng về chi sự nghiệp cho khoa học và công một nửa: 7.591,6 tỷ đồng (tương đương 56,7%), nghệ, trong giai đoạn 2016 - 2019, mặc dù điều trong khi nguồn đầu tư từ doanh nghiệp là kiện ngân sách nhà nước còn gặp nhiều khó khăn, 5.597,3 tỷ đồng đạt 41,8%, còn lại chỉ có 201,7 tỷ nhưng bố trí chi ngân sách nhà nước cho phát triển đồng (tương đương 1,5%) là từ nguồn vốn nước hoạt động khoa học và công nghệ luôn ưu tiên năm ngoài. Nhìn chung, đầu tư từ ngân sách nhà nước sau tăng cao hơn so với năm trước. Theo báo cáo cho khoa học và công nghệ đóng vai trò hết sức của Bộ Khoa học và Công nghệ, giai đoạn 2016 - quan trọng. 2018 chi ngân sách nhà nước cho khoa học và công Năm 2016, trong cơ cấu chi cho khoa học và nghệ được đảm bảo ở mức 2% tổng chi ngân sách công nghệ, ngân sách nhà nước chiếm 52%, nguồn nhà nước. Cơ cấu kinh phí đầu tư phát triển/kinh từ doanh nghiệp đã tăng lên 48%. Sự chuyển biến phí sự nghiệp khoa học và công nghệ liên tục được tích cực này có được nhờ doanh nghiệp đã quan đảm bảo theo tỷ lệ 40/60. Tổng dự toán chi ngân tâm nhiều hơn tới khoa học và công nghệ và sự đầu sách nhà nước sự nghiệp khoa học và công nghệ tư trọng điểm của một số doanh nghiệp lớn như: giai đoạn 2016 - 2019 đã được Quốc hội thông qua Tập đoàn Viễn thông Quân đội; Tập đoàn Dầu khí tại các nghị quyết về về phân bổ ngân sách hàng quốc gia. Đây là dấu hiệu cho thấy hiệu quả trong năm là 46.729 tỷ đồng. Nguồn lực tài chính cho NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 145 - tháng 11/2019 7
  6. NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI phát triển khoa học và công nghệ đã được bố trí phủ (Nghị định, Quyết định), 88 văn bản cấp Bộ tăng dần trong những năm gần đây. Theo đó, trong (Thông tư, Thông tư liên tịch). năm 2019, tổng chi sự nghiệp cho khoa học và công Tuy nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho nghệ đạt 12.825 tỷ đồng, tăng khoảng 22% so với phát triển khoa học và công nghệ thời gian qua đã năm 2016. (3) có được những kết quả nhất định, nhưng bên cạnh Hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước cho hoạt đó vẫn còn nhiều bất cập, cụ thể: động khoa học và công nghệ Một là, hàng năm, mặc dù đầu tư ngân sách nhà Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho hoạt động nước cho khoa học và công nghệ đã có tăng nhưng khoa học và công nghệ đã đạt được những kết vẫn chưa đáp ứng đủ với nhu cầu phát triển, đẩy quả sau: mạnh các hoạt động nghiên cứu, đổi mới khoa học Thứ nhất, luôn là nguồn đầu tư chủ yếu, cơ bản công nghệ như hiện nay. So với các nước, nguồn cho hoạt động nghiên cứu khoa học; góp phần lực tài chính từ ngân sách nhà nước để đầu tư cho quan trọng vào quá trình thúc đẩy phát triển đào khoa học và công nghệ ở Việt Nam còn hạn chế. Ở đạo nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ (bình Việt Nam, ngân sách nhà nước đầu tư cho khoa học quân hàng năm chi ngân sách nhà nước cho hoạt và công nghệ chỉ chiếm 0,6% GDP, còn châu Âu động khoa học công nghệ chiếm khoảng 2% tổng năm 2013 là 2,01%, Nhật Bản năm 2013 là 3,47%, chi của ngân sách nhà nước, tương đương 0,6% Mỹ năm 2012 là 2,81%... GDP và tăng bình quân mỗi năm là 19%). Hai là, việc phân bổ ngân sách nhà nước để phát Thứ hai, đã có sự thay đổi về cơ cấu, phân cấp để triển khoa học và công nghệ còn phân tán, dàn trải, phù hợp với nhu cầu nguồn lực đầu tư hiện tại, từ thiếu tập trung, thiếu mục tiêu ưu tiên, chưa đảm đó góp phần thúc đẩy hoạt động khoa học và công bảo theo những tiêu chí rõ ràng, thiếu cơ chế minh nghệ phát triển bền vững. bạch (Chủ yếu tập trung chi cho bộ máy; Chi cho Thứ ba, cơ sở pháp lý về đầu tư ngân sách nhà đào tạo cán bộ khoa học và công nghệ còn ở mức nước cho khoa học và công nghệ ngày càng hoàn thấp; Chi lương cho cán bộ nghiên cứu khoa học thiện hơn, chi tiết và cụ thể hóa rõ nét hơn. Cụ thể, và công nghệ cũng còn thấp)... do đó dẫn đến hiệu gồm 38 văn bản cấp Chính phủ, Thủ tướng Chính quả đầu tư còn thấp. 8 Số 145 - tháng 11/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
  7. Ba là, hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư từ Theo kết quả điều tra, thống kê năm 2015 do Bộ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ Nội vụ tiến hành đối với 25 cơ quan Trung ương và còn thấp. Bởi hiện nay chưa xây dựng được một cơ 48 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả chế thực sự phù hợp, từ đó để gắn kết phân bổ ngân nước thì tổng số viên chức khoa học và công nghệ sách nhà nước cho các tổ chức khoa học và công (theo 08 chức danh nghề nghiệp) là 43.849, trong nghệ với các yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể về các sản đó, khối các cơ quan Trung ương là 32.881 và các phẩm khoa học và công nghệ mà các đơn vị nghiên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là 10.968. cứu cần thực hiện. Số lượng viên chức khoa học và công nghệ là Kinh phí ngân sách nhà nước cấp để thực hiện nam giới chiếm 78.03% tổng số lượng viên chức nhiệm vụ khoa học công nghệ có nhiều bất cập, cơ khoa học và công nghệ đã thống kê được. Tỷ lệ cấu chi chưa thực sự phù hợp (ước tính có khoảng này ở khối các cơ quan trung ương là 80%, và khối 20% tiền dành cho khoa học công nghệ thực chất địa phương là 71.3%. Đây là kết quả cho thấy có đầu tư cho hoạt động sáng tạo của các nhà nghiên sự chênh lệch rất lớn về giới tính, nếu như không cứu, còn 80% nằm ở khâu đầu tư gián tiếp). phải những lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nhất thiết (chỉ có thể do nam giới thực hiện) thì rất cần Thực trạng đội ngũ cán bộ nghiên cứu có sự điều chỉnh về tiêu chí bình đẳng giới khi đề khoa học xuất với các cơ quan có thẩm quyền về những quan Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, điểm, định hướng và giải pháp phát triển đội ngũ đến năm 2016, nước ta đã có hơn 24.300 Tiến sĩ, viên chức khoa học và công nghệ ở cả khối trung 101.000 Thạc sỹ. So với năm 1996 đội ngũ này tăng ương và khối địa phương trong thời gian tới. trung bình 11,6%/năm, trong đó Tiến sỹ tăng 7%/ Về độ tuổi của viên chức khoa học và công nghệ: năm, Thạc sỹ tăng 14%/năm. Hiện cả nước có hơn Số lượng viên chức khoa học và công nghệ có độ 10.774 Giáo sư, Phó Giáo sư, tuổi trung bình của tuổi từ 31 đến 40 chiếm tỷ lệ lớn nhất (39.9%), cán bộ khoa học có học vị, học hàm khá cao. Bình tiếp đến là độ tuổi từ 41 đến 50 (25.8%) và 30 trở quân chung là 57,2 tuổi. Số cán bộ học vị, học hàm xuống (22.6%). Độ tuổi từ 51 trở lên chiếm tỷ lệ cao ở tuổi 50 chỉ chiếm 12% trong khi đó tuổi từ thấp nhất (11.7%). Nếu tính độ tuổi từ 41 trở lên 56 trở lên là 65,7%, riêng Giáo sư chiếm tới 77,4% là đã có khả năng tư duy độc lập trong nghiên cứu và Phó Giáo sư chiếm 62%. Khi phân chia theo lứa khoa học thì tỷ lệ này ở khối trung ương là 41.4% tuổi các cán bộ khoa học công nghệ có học hàm và địa phương là 37.5%. Đây là tỷ lệ khá hợp lý thì phần đông Giáo sư có tuổi trên 60 và Phó Giáo trong cơ cấu tuổi và khả năng cung ứng sản phẩm sư có tuổi từ 56 đến 60. Trong số các Giáo sư và khoa học công nghệ đối với viên chức khoa học và Phó Giáo sư thì nam là 83,5%, nữ 16,5% (3). Khi công nghệ. Tuy nhiên, tỷ lệ độ tuổi từ 40 trở xuống một bộ phận lớn các cán bộ khoa học chủ chốt chiếm lớn nhất (62.5%), cũng cho thấy điểm chưa đang về già và sẽ không có khả năng làm việc thì hợp lý là lực lượng nghiên cứu chính chưa đủ đáp đội ngũ cán bộ trẻ thay thế lại chưa được chuẩn bị ứng yêu cầu rất cao của sự nghiệp công nghiệp bồi dưỡng đào tạo. Hẫng hụt đội ngũ cán bộ khoa hóa, hiện đại hóa. Tình trạng thiếu hụt nhà khoa học công nghệ đầu ngành sẽ diễn ra trong tương học giỏi, nhà khoa học đầu ngành hơn lúc nào hết lai rất gần. là vấn đề đáng lo ngại do số lượng nhà khoa học Ngoài ra, còn có nhiều cán bộ nghiên cứu triển có trình độ cao và có kinh nghiệm ngày càng giảm khai thuộc các viện nghiên cứu, trung tâm và nhiều do đến tuổi nghỉ hưu, đặc biệt là các nhà khoa học nhà khoa học vừa nghiên cứu, vừa giảng dạy trong đầu ngành, các tổng công trình sư đủ năng lực các trường đại học, cao đẳng, cơ sở đào tạo sau đại chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ quan học. Đây thực sự là nguồn nhân lực nòng cốt cho trọng, quy mô quốc gia và quốc tế. Số lượng viên sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, được đào chức khoa học và công nghệ trẻ là lực lượng kế cận tạo từ nhiều nguồn khác nhau. khá đông nhưng lại có khoảng cách quá xa (về độ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 145 - tháng 11/2019 9
  8. NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI tuổi, kinh nghiệm, năng lực, lòng say mê) với thế Các nước và vùng lãnh thổ ở Đông Á khác hệ đi trước. như Hàn Quốc, Đài Loan cũng có bước tiến rất ấn tượng. Nếu năm 1996 chỉ có Nhật Bản và Trung Về trình độ học vấn, học vị: Tỷ lệ viên chức khoa học và công nghệ có trình độ Thạc sĩ và Tiến Quốc lọt vào top 15 của thế giới về số ấn phẩm sĩ chiếm 27.5% (ở địa phương, tỷ lệ này chỉ đạt 7%), khoa học thì năm 2011 đã có cả Hàn Quốc và Đài trình độ Đại học là 60.7%. Tỷ lệ có trình độ Cao Loan lọt vào danh sách này. đẳng và tỷ lệ có trình độ Trung cấp là 11.2%, tuy Trong thời gian 15 năm qua (2001-2015), các nhiên, con số này ở địa phương là khoảng 28%. Tỷ nhà khoa học Việt Nam đã công bố được 18.076 lệ này nói chung khá phù hợp với thống kê về tỷ bài báo khoa học trên các tập san trong danh mục lệ chức danh nghề nghiệp đã nêu trên. Tuy nhiên, ISI. So sánh với các nước Đông Nam Á trong cùng viên chức khoa học và công nghệ có trình độ cao thời kỳ, số bài báo khoa học của Việt Nam đã vượt (Tiến sỹ), viên chức khoa học và công nghệ giữ qua Indonesia và Philippines, nhưng vẫn còn thấp chức danh khoa học chủ yếu tập trung ở các cơ hơn so với Thái Lan, Malaysia và Singapore. Số bài quan trung ương và các trường đại học. Chính sự báo khoa học của Việt Nam chỉ mới bằng 28% của phân bố không đồng đều đã dẫn tới hệ quả là thiếu Thái Lan, 25% của Malaysia và 15% của Singapore. hụt một lực lượng lớn các nhà nghiên cứu đảm Trong khi đó, dân số Việt Nam gấp 17 lần Singapore, nhiệm các nhiệm vụ khoa học và công nghệ ở các ba lần Malaysia và gần gấp rưỡi Thái Lan. địa phương, đặc biệt là các địa bàn xa xôi, miền núi. Số bài báo liên tục tăng nhanh, từ 362 bài Có thể nói, sự phân bố lực lượng lao động khoa (2001) lên 2.906 bài (2015). Tính trung bình, tỷ lệ học mất cân đối giữa các ngành, các khu vực, giữa tăng trưởng mỗi năm là 17%. Tỷ lệ tăng trưởng của các vùng, giữa các thành phần kinh tế đã gây ra Việt Nam có phần cao hơn so với Thái Lan (13%/ hậu quả xấu cho quá trình phát triển, càng làm năm), nhưng thấp hơn so với Malaysia (22%/năm). sâu sắc thêm sự chênh lệch và phát triển giữa các Malaysia xuất phát thấp hơn Thái Lan, nhưng có tỷ vùng, các ngành. lệ tăng trưởng cao, đến nay đã vượt qua Thái Lan, Thực trạng công trình khoa học được công bố và dự kiến sẽ vượt qua Singapore trong vài năm tới. Mặc dù, có đội ngũ nhân lực khoa học và công Tuy số bài báo khoa học trên các tập san quốc tế nghệ hùng hậu, nhưng trên thực tế Việt Nam chưa của Việt Nam tăng nhanh trong thời gian gần đây có nhiều công trình, sản phẩm nổi bật, mang tính (17%/năm), nhưng vì điểm xuất phát thấp nên vẫn đột phá ở tầm khu vực và thế giới. Số công trình còn một khoảng cách khá xa so với hai nước đang khoa học được công bố quốc tế có tốc độ tăng trung lên là Thái Lan và Malaysia, cũng như Singapore. bình 22%/năm, nhưng giá trị tuyệt đối và chỉ số Cho đến nay, số bài báo khoa học của Việt Nam trích dẫn còn thấp, nhất là khi so sánh với các nước vẫn chỉ bằng 15% của Singapore và thấp hơn 1/3 trong khu vực và thế giới. Tổng số công bố khoa học của Thái Lan và Malaysia. Với tốc độ tăng trưởng và công nghệ của Việt Nam trong cơ sở dữ liệu Web như hiện nay, có thể ước tính rằng đến năm 2030, of Science giai đoạn 2010-2014 là 9.976 bài báo, xếp số bài báo khoa học của Việt Nam cũng chỉ bằng thứ 59 trên thế giới; so với khu vực, Việt Nam đứng Singapore năm 2015, và đến năm 2025 Việt Nam sau Singapore (xếp thứ 32), Malaysia (xếp thứ 38) cũng chỉ bằng Thái Lan của năm 2015. Nói cách và Thái Lan (xếp thứ 43), cao hơn Indonesia (xếp khác, Việt Nam tụt hậu khoảng 10 năm so với Thái thứ 62) và Philipinnes (xếp thứ 66). Lan và 15 năm so với Singapore. Theo phân tích từ số liệu ISI, trong vòng 15 Nhà nước đã và đang tăng cường đầu tư cho năm gần đây số lượng ấn phẩm khoa học mà các hoạt động khoa học và công nghệ, nhưng hiệu quả nhà khoa học Trung Quốc công bố hàng năm tăng của đầu tư chưa được đánh giá một cách đầy đủ gần 14 lần, từ 27.549 (hạng 9/147) năm 1996 đến và hệ thống vì một trong những “sản phẩm” quan 373.756 bài (hạng 2/147) năm 2011. trọng của nghiên cứu khoa học, bất kể là khoa học 10 Số 145 - tháng 11/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
  9. cơ bản hay khoa học ứng dụng, là bài báo khoa tiếp, kể cả đối với người tốt nghiệp bằng giỏi hay học trên các tập san quốc tế. Những phân tích trên Thạc sỹ, Tiến sĩ. cho thấy trong thời gian 2001-2015, “bức tranh” - Đối với đào tạo, bồi dưỡng: Ưu tiên đào tạo, chung về sự tăng trưởng của hoạt động khoa học bồi dưỡng viên chức khoa học và công nghệ theo về lượng, nhưng chưa có một sự biến chuyển đáng các lĩnh vực nghiên cứu ưu tiên mà Đảng và Nhà kể về chất. nước đã xác định, phù hợp với kế hoạch phát triển Một điều mà nhiều người nhìn thấy rất rõ là của đơn vị, gắn liền với việc phân cấp các nhóm trong nhiều năm, đặc biệt sau khi chuyển sang kinh đối tượng viên chức khoa học và công nghệ và có tế thị trường thì các ngành khoa học cơ bản bị xem chế độ đãi ngộ với các viên chức khoa học và công nhẹ và dường như đang bị bỏ rơi. Đó là một cách nghệ hoàn thành xuất sắc chương trình đào tạo, nhìn rất thiển cận và hậu quả của nó sau một số bồi dưỡng. năm thấm dần sẽ gây tác hại nghiêm trọng. Khoa - Đối với công tác sử dụng, bố trí cán bộ: Cần học công nghệ là một hệ thống, cũng như một nền sớm xem xét, điều chỉnh việc bố trí, sử dụng, điều kinh tế nếu không có hạ tầng cơ sở tốt thì không động, luân chuyển, biệt phái viên chức khoa học và thể phát triển được. Trong khoa học, nếu chỉ coi công nghệ phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn, phù hợp trọng những ngành ứng dụng có lãi nhanh mà coi với năng lực, sở trường. Bố trí, đề bạt viên chức nhẹ khoa học cơ bản rút cục sẽ đưa khoa học đến khoa học và công nghệ đúng lúc, đúng người, đúng chỗ bế tắc và không có đủ năng lực tiếp thu làm việc; có cơ chế phân bổ, điều động, luân chuyển đội chủ các lĩnh vực khoa học công nghệ mới. ngũ cán bộ khoa học công nghệ phù hợp ở cả trung Một số giải pháp đề xuất ương và địa phương. Về đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học Về hoàn thiện chính sách đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ - Đối với công tác tuyển dụng: Để rút ngắn thời gian có được đội ngũ viên chức khoa học và công - Tiếp tục hoàn thiện chính sách đầu tư ngân nghệ đạt chuẩn đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong tuyển dụng nghệ, nhằm phân bổ nguồn lực ngân sách nhà viên chức khoa học và công nghệ, nên áp dụng nước tương xứng với nhu cầu phát triển khoa học hình thức thi tuyển kết hợp với phỏng vấn trực và công nghệ hiện nay, từ đó đảm bảo sử dụng hiệu NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 145 - tháng 11/2019 11
  10. NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI quả nguồn lực ngân sách nhà nước cho khoa học một chiều đã trở nên xưa cũ. Sinh viên từ năm và công nghệ. thứ ba trở đi cần được khuyến khích làm các đề tài - Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các tổ khoa học trong khuôn khổ đào tạo theo phương chức trong quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách pháp “project-based learning”, vừa học vừa thực nhà nước cho khoa học và công nghệ, từ đó tránh hành nghiên cứu và làm báo cáo khoa học dưới sử dụng không đúng mục đích, lãng phí, làm thất sự hướng dẫn của các Giáo sư. Thông qua các đề thoát ngân sách nhà nước. tài nghiên cứu như vậy mà sinh viên học được phương pháp, tiếp cận thông tin mới, học cách - Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với tranh luận khoa học và đủ tự tin sau khi ra trường kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ; sớm tham gia vào các đề tài khoa học. Bên cạnh đào xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá mức độ hoàn tạo chính quy, các trường, viện nghiên cứu và tạp thành và chất lượng về thực hiện nhiệm vụ được chí khoa học nên mở các lớp tập huấn định kỳ giao của các đơn vị khoa học và công nghệ; cần có hoặc thường xuyên về phương pháp nghiên cứu quy định chặt chẽ, cụ thể, nâng cao trách nhiệm và kỹ năng viết bài theo chuẩn mực quốc tế cho của các tổ chức kiểm định, đánh giá độc lập; tiếp cán bộ nghiên cứu. Các chuyên gia quốc tế có uy tục hoàn thiện chế độ thông tin báo cáo, công tác tín có thể được mời để chia sẻ thông tin và hướng tài chính kế toán và trách nhiệm giải trình kết quả dẫn các kỹ năng cần thiết. nghiên cứu của các đơn vị cung cấp các dịch vụ về khoa học và công nghệ. - Các tạp chí khoa học trong nước cần chuyển mạnh sang hướng quốc tế hóa cả về nội dung bài - Tiếp tục rà soát, sắp xếp, chuyển đổi các tổ vở, bình duyệt chuyên môn, kỹ năng biên tập và chức nghiên cứu khoa học sang đơn vị sự nghiệp tự tăng cường trao đổi với quốc tế qua những kênh trang trải kinh phí. Ngân sách nhà nước không cấp trao đổi học thuật khác nhau. Cách làm này sẽ giúp kinh phí hoạt động quản lý bộ máy thường xuyên khắc phục tình trạng dễ dãi như vẫn thấy trong việc mà thông qua nhiệm vụ các tổ chức khoa học và đăng bài khoa học, và tập cho các nhà nghiên cứu công nghệ được thực hiện. viết bài có chuẩn mực, để họ không quá xa lạ với Để phát triển thị trường khoa học và công nghệ các thông lệ quốc tế. cần có một hệ thống giải pháp đồng bộ, trong đó có TÀI LIỆU THAM KHẢO liên quan đến nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước. Ngoài ra, cũng cần đa dạng các kênh đầu tư, 1. Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (2015), Báo cáo Kết quả điều tra tiềm đặc biệt là huy động từ khu vực doanh nghiệp, thì lực khoa học và công nghệ 2014; các mục tiêu chiến lược mới có thể đạt được. 2. Dữ liệu trình bày trong bài này được trích Về hỗ trợ, khuyến khích xã hội hóa các sản phẩm từ cơ sở dữ liệu Web of Science (WoS) của nghiên cứu khoa học và công nghệ ISI Thomson. WoS bao gồm 11.762 tập san khoa học có bình duyệt. Tất cả các bài báo - Thực hiện chính sách khen thưởng bằng tiền nguyên thủy (original papers) công bố trong mặt nhằm hỗ trợ thúc đẩy công bố quốc tế đã đưa thời gian 2001-2015 được tải về máy tính, lại hiệu quả tích cực. Đối với các dự án nhận nguồn và phân tích bằng chương trình máy tính R; hỗ trợ tài chính từ công quỹ, cần có chính sách cụ 3. Đề án “Phát triển khoa học và công nghệ thể, yêu cầu nhà nghiên cứu khi nhận tài trợ phải phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện cam kết công bố kết quả ở các tạp chí khoa học đại hóa và hội nhập quốc tế”; quốc tế thay vì tổ chức nghiệm thu rồi cất vào tủ 4. Nguồn: World Bank, www.data.worldbank. như đã và đang làm. org và OECD, Science, Technology and Industry Outlook 2010, Tr. 116 và Tr.198 - Về lâu dài, cần thay đổi căn bản đào tạo ở (trích từ Đề án “Phát triển khoa học và đại học theo hướng nghiên cứu thay vì vẫn duy công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp trì hình thức giảng dạy kiểu truyền đạt tri thức hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”). 12 Số 145 - tháng 11/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
  11. Hoaøn thieän bieân baûn vaø vieäc laäp bieân baûn kieåm toaùn ngaân saùch caáp huyeän trong cuoäc kieåm toaùn ngaân saùch ñòa phöông ThS. Nguyễn Đức Thanh* KS. Vũ Lê Xuân Anh* CN. Trần Đình Vĩnh* T rong những năm qua, việc kiểm toán ngân sách địa phương nói chung và ngân sách huyện nói riêng là nội dung kiểm toán chủ yếu hàng năm của Kiểm toán nhà nước nói chung và Kiểm toán nhà nước Khu vực VII nói riêng: Qua công tác kiểm toán cho thấy cơ bản kết quả kiểm toán ngân sách huyện đã đóng góp, tư vấn cho địa phương cả về điều hành ngân sách, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường kỷ luật tài chính. Tuy nhiên, việc lập Biên bản kiểm toán của tổ kiểm toán tại cấp huyện còn nhiều tồn tại, thiếu sót. Bài viết đưa ra giải pháp, đề xuất nhằm hoàn thiện công tác lập biên bản kiểm toán của tổ kiểm toán khi kiểm toán ngân sách địa phương tại cấp huyện, phục vụ cho quá trình thực hiện nhiệm vụ của đơn vị và phù hợp với thực tiễn diễn ra tại địa phương. Từ khóa: Biên bản kiểm toán, lập biên bản kiểm toán, ngân sách cấp huyện. Completing the audit minutes and preparation of audit minutes of district budget audits in the local budget audit Over the past years, the local budget audits in general and the district budgets audit in particular are the main annual audit contents of the State Audit Office of Vietnam in general and the Regional Audit Office No.VII in particular. Through the audits of district budget, the audit results have contributed and consulted to the local authorities on budget management, socio-economic development, and financial discipline enhancement. However, the preparation of the audit minutes of the audit team at the district level still has many shortcomings and limitations. The paper aims to provide solutions and proposals to complete the preparation of audit minutes of the audit team when auditing local budgets at the district level, helping audited entities in fulfilling their missions and in accordance with local practice. Keywords: Audit minutes, preparation of audit minutes, district budgets. Đối với mỗi cuộc kiểm toán, báo cáo kiểm toán Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán nhà nước là căn có thể xem như là sản phẩm cuối cùng, là kết quả cứ để: của cả quá trình làm việc của cả tập thể. Báo cáo + Quốc hội sử dụng trong quá trình xem xét, kiểm toán là văn bản có tính chất pháp lý bắt buộc quyết định và giám sát việc thực hiện: Mục tiêu, chỉ không chỉ với Kiểm toán nhà nước mà còn với các tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh đơn vị được kiểm toán và các bên liên quan. Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 quy định: “Báo cáo tế - xã hội dài hạn và hằng năm của đất nước; chủ kiểm toán của Kiểm toán nhà nước sau khi phát trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia, dự hành và công khai có giá trị bắt buộc phải thực hiện án quan trọng quốc gia; chính sách cơ bản về tài đối với đơn vị được kiểm toán về sai phạm trong chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công. bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản *Kiểm toán nhà nước Khu vực VII NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 145 - tháng 11/2019 13
  12. NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và và hoạt động của Kiểm toán nhà nước cũng yêu ngân sách địa phương; mức giới hạn an toàn nợ cầu phải không ngừng hoàn thiện, cải tiến nâng quốc gia, nợ công, nợ Chính phủ; dự toán ngân cao chất lượng biên bản kiểm toán các tổ kiểm toán sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; ngân sách huyện (các nguồn dữ liệu đầu vào). phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước. Tổng quan về biên bản kiểm toán và việc lập + Chính phủ, cơ quan quản lý nhà nước và tổ biên bản kiểm toán ngân sách huyện trong cuộc chức, cơ quan khác của Nhà nước sử dụng trong kiểm toán ngân sách địa phương công tác quản lý, điều hành và thực thi nhiệm vụ, Trong các quy định của Luật, Hệ thống Chuẩn quyền hạn của mình. mực Kiểm toán nhà nước cũng như quy định hiện + Hội đồng nhân dân sử dụng trong quá trình có của ngành đều có những quy định rất đầy đủ xem xét, quyết định dự toán và phân bổ ngân sách về biên bản kiểm toán. Theo đó, sau khi tổng hợp địa phương; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa kết quả kiểm toán, trao đổi và tiếp thu ý kiến giải phương; giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính trình của đơn vị được kiểm toán; củng cố các bằng công, tài sản công và thực thi nhiệm vụ, quyền hạn chứng, đưa ra nhận xét, đánh giá, xác nhận kiểm của mình. toán, đề xuất kết luận, kiến nghị kiểm toán; thống nhất và ký biên bản xác nhận số liệu và tình hình + Đơn vị được kiểm toán thực hiện quyền khiếu kiểm toán với người có trách nhiệm liên quan đến nại” (Điều 7, Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015). phần việc kiểm toán của đơn vị được kiểm toán tổ/ Để báo cáo kiểm toán có thể thực hiện được sứ đoàn kiểm toán thực hiện tổng hợp dự thảo biên mệnh của mình đòi hỏi từng thành tố làm nên nó bản kiểm toán và dự thảo thông báo kết quả kiểm phải đảm bảo chất lượng. Đối với các cuộc kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán. Cùng với đó, trong toán nói chung và kiểm toán ngân sách huyện quá trình hình thành và phát triển, Kiểm toán trong cuộc kiểm toán ngân sách địa phương nói nhà nước luôn chú trọng công tác xây dựng văn riêng, biên bản kiểm toán cần đảm bảo chất lượng, bản quản lý và các văn bản hướng dẫn hoạt động nội dung, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu góp phần nâng kiểm toán. Trong đó, mẫu biểu hồ sơ kiểm toán nói cao chất lượng sản phẩm đầu ra của đoàn. Như vậy, chung và biên bản kiểm toán ngân sách địa phương pháp luật và những quy định liên quan đến tổ chức khi kiểm toán cấp huyện với vai trò để tài liệu hóa 14 Số 145 - tháng 11/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
  13. hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước cũng toán chi tiết” để phù hợp với Luật Kiểm toán nhà không ngừng được hoàn thiện để phù hợp với yêu nước. Thông báo kết quả kiểm toán tại các đơn vị cầu phát triển của Ngành. Ngay từ những năm được kiểm toán chi tiết sẽ được hoàn thiện và phát trước khi có Luật Kiểm toán nhà nước, để không hành cùng báo cáo kiểm toán của Đoàn kiểm toán ngừng nâng cao chất lượng kiểm toán, chính quy nhằm mục đích điều chỉnh (nếu có) biên bản kiểm hóa hoạt động kiểm toán và tăng cường quản lý, toán của Tổ kiểm toán đã phát hành nhưng khi báo kiểm soát hoạt động kiểm toán và đạo đức nghề cáo kiểm toán của Đoàn kiểm toán được xét duyệt nghiệp kiểm toán viên, xuất phát từ thực tiễn kiểm có sự thay đổi phải đính chính, đồng thời bảo đảm toán, năm 2003, lần đầu tiên Kiểm toán nhà nước logic theo trình tự thực hiện kiểm toán. Đối với đã chính thức ban hành quy định về hệ thống hồ mẫu biên bản 01/BBKT-NSĐP đã được hướng dẫn sơ mẫu biểu kiểm toán. Từ đó đến nay, hệ thống sửa đổi, bổ sung tại Công điện 1254/KTNN-CĐ hồ sơ mẫu biểu kiểm toán tiếp tục được chỉnh sửa, ngày 05/9/2018 của Tổng Kiểm toán nhà nước bổ sung, hoàn thiện vào các năm 2004, 2005, 2007. về việc hướng dẫn thực hiện và sửa đổi tạm thời Đến ngày 28/3/2012, Tổng Kiểm toán nhà nước một số mẫu biểu hồ sơ kiểm toán có một số thay ban hành Quyết định 01/2012/QĐ-KTNN về hệ đổi trong nội dung biên bản kiểm toán và các phụ thống mẫu biểu hồ sơ kiểm toán thay thế Quyết lục. Ngoài ra, để phù hợp với Luật Kiểm toán nhà định 02/2007/QĐ-KTNN ngày 26/6/2007 và Quyết nước năm 2015, ngoài biên bản kiểm toán ký với định 01/2011/QĐ-KTNN ngày 21/6/2011 gồm 39 đơn vị được kiểm toán, Tổ kiểm toán còn phải lập mẫu biểu hồ sơ kiểm toán mới được ban hành. “Thông báo kết quả kiểm toán tại các đơn vị được kiểm toán chi tiết” theo mẫu biểu thông báo (Mẫu Hiện nay, Kiểm toán nhà nước đang áp dụng số 19/HSKT- KTNN). Tuy nhiên, trên thực tế việc Hệ thống mẫu biểu hồ sơ kiểm toán ban hành gửi các biên bản kiểm toán cấp huyện cho lãnh đạo kèm theo Quyết định số 06/2016/QĐ-KTNN ngày Kiểm toán nhà nước chưa phù hợp và không cần 02/11/2016 của Tổng Kiểm toán nhà nước. Hệ thiết do số lượng Thông báo kết quả kiểm toán thống mẫu biểu hồ sơ kiểm toán hiện nay về cơ rất lớn của nhiều đoàn trong năm: Hơn nữa, việc bản đã tương đối đầy đủ và toàn diện liên quan đến kiểm tra, soát xét các Thông báo kết quả kiểm toán hoạt động kiểm toán từ hồ sơ kiểm toán chung đến không cần phải cấp lãnh đạo Kiểm toán nhà nước hồ sơ kiểm toán cho các lĩnh vực kiểm toán cụ thể. mà chỉ là các báo cáo kiểm toán các đoàn; còn lại Đối với kiểm toán ngân sách cấp huyện, tổ kiểm do các bộ phận kiểm soát trong nội bộ đoàn kiểm toán phải lập biên bản kiểm toán ngân sách, tiền toán; lãnh đạo các đơn vị chủ trì kiểm toán. và tài sản Nhà nước theo mẫu số 01/BBKT-NSĐP. Việc lập biên bản kiểm toán là cần thiết để đảm Qua các cuộc kiểm toán ngân sách cấp huyện bảo tính thận trọng, khách quan cho các kết luận do Kiểm toán nhà nước Khu vực VII thực hiện, kiểm toán, các bên đều được đưa ra ý kiến và được bên cạnh những mặt làm được, vẫn còn nhiều tồn ghi trong biên bản kiểm toán; giai đoạn này chưa tại, hạn chế trong khâu lập biên bản kiểm toán như có ý kiến kết luận và kiến nghị trong biên bản các bất cập về mẫu biểu, quy định; bất cập logic kiểm toán bởi đây mới là ý kiến của tổ kiểm toán, trong hệ thống biểu đối với Biên bản kiểm toán chưa phải là ý kiến của cơ quan (do chưa đóng dấu của tổ kiểm toán theo quy định của ngành; bất cập cơ quan Kiểm toán nhà nước), nhiều ý kiến còn trong việc quy định song trùng mẫu biểu; thời gian chưa được thống nhất đơn vị đang giải trình, các lập (biên bản kiểm toán; thông báo kết quả kiểm ý kiến này chưa được hội đồng thẩm định, Lãnh toán) tại cùng 1 đơn vị được kiểm toán hay vướng đạo Kiểm toán nhà nước xét duyệt. Vì vậy, cùng mắc về tính pháp lý của các biên bản kiểm toán đơn vị được kiểm toán (Kiểm toán ngân sách địa (thành phần; ký; dấu...). Đồng thời, thông qua công phương cấp huyện), ngoài biên bản kiểm toán ký tác kiểm soát chất lượng kiểm toán của các Tổ kiểm với địa phương, Tổ kiểm toán còn phải lập “Thông soát của đơn vị cũng như kết quả kiểm soát của Vụ báo kết quả kiểm toán tại các đơn vị được kiểm Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán (đối với NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 145 - tháng 11/2019 15
  14. NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI các cuộc kiểm soát trực tiếp theo kế hoạch Tổng các ban quản lý dự án dẫn đến bố trí thời gian kiểm Kiểm toán nhà nước phê duyệt); các ý kiến khiếu toán tại huyện cũng bị rút ngắn. Sau khi kết thúc nại của địa phương liên quan đến kết quả kiểm kiểm toán tại huyện thường thông qua luôn dự toán cho thấy các biên bản kiểm toán còn nhiều tồn thảo biên bản kiểm toán và dự thảo thông báo kết tại. Một số biên bản kiểm toán chưa có những nhận quả kiểm toán, hạn chế đi lại để giảm thời gian và định, đánh giá mang tính khái quát cao; mang tính đã chuyển sang thực hiện nhiệm vụ khác dẫn đến thống kê, rời rạc từng lĩnh vực (thu, chi, đầu tư) việc tổng hợp số liệu, xem xét giải quyết các vấn đề và đôi khi còn mâu thuẫn giữa các đánh giá, nhận liên quan chưa đầy đủ, kịp thời. Kết cấu, nội dung xét. Một số vấn đề kiến nghị trong biên bản kiểm của biên bản kiểm toán của Kiểm toán nhà nước toán còn chưa đảm bảo quy định, không cụ thể mà xây dựng theo hướng mở nhằm vận dụng linh hoạt mang tính chung chung, sức thuyết phục chưa cao trong các tình huống thực tế kiểm toán. Tuy nhiên, về tính khả thi; nhiều kiến nghị còn chưa chặt chẽ, cũng vì lý do này mà dẫn đến việc áp dụng thiếu phù hợp các cơ sở dẫn chiếu, bằng chứng đi kèm nhất quán giữa các kiểm toán viên, Tổ kiểm toán, dẫn đến khi báo cáo kiểm toán phát hành đơn vị có Đoàn kiểm toán (do cách hiểu khác nhau). các văn bản đề nghị xem xét, điều chỉnh giảm các Giải pháp hoàn thiện biên bản và việc lập biên kiến nghị kiểm toán. Kết quả kiểm toán giữa phần bản kiểm toán ngân sách cấp chuyện trong cuộc lời trong biên bản kiểm toán và phần phụ lục kèm kiểm toán ngân sách địa phương theo không khớp; giữa đánh giá kiểm toán và kiến nghị kiểm toán không khớp. Các hệ thống chỉ tiêu, Trong bối cảnh hiện nay, việc hoàn thiện biên chỉ số, số liệu trong các biên bản kiểm toán chưa bản kiểm toán của Kiểm toán nhà nước cần phù thống nhất, chưa được rà soát kỹ lưỡng. Số liệu hợp với định hướng chung của toàn Ngành, trong chưa chặt chẽ, thống nhất, đôi khi còn sai về bản đó cần đảm bảo vừa phù hợp khuôn khổ các quy chất. Về hình thức, thể thức của một số biên bản định pháp lý liên quan đến hoạt động của Kiểm kiểm toán còn sai sót nhiều. Biên bản kiểm toán toán nhà nước, phù hợp với chuẩn mực và thông của một số Tổ kiểm toán được lập chưa tuân thủ lệ quốc tế về kiểm toán, phù hợp với thực tiễn tác theo quy trình, chuẩn mực được quy định, còn có nghiệp hoạt động kiểm toán, đồng thời đẩy mạnh phần thừa, phần thiếu... việc đổi mới, cải cách và ứng dụng công nghệ thông tin. Theo đó, mẫu biểu, kết cấu biên bản kiểm toán Các hạn chế này xuất phát từ những nguyên phải phù hợp với hệ thống các quy định pháp luật; nhân chủ quan và khách quan. Về chủ quan, các tổ biên bản kiểm toán phải phù hợp với thực tiễn hoạt trưởng tổ kiểm toán chưa thực hiện hết nhiệm vụ, động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước; biên bản trách nhiệm được quy định trong Quy trình kiểm kiểm toán phải chi tiết khung, kết cấu phải thực toán ngân sách địa phương; tổ trưởng các tổ kiểm hiện; biên bản kiểm toán lồng ghép cả 3 nội dung/ toán còn chưa bao quát tổng thể các lĩnh vực; các loại hình kiểm toán; biên bản kiểm toán cần đảm phát hiện tồn tại qua công tác kiểm toán để có bức bảo yêu cầu về cải cách hành chính. tranh tổng thể trong quản lý điều hành ngân sách và sử dụng ngân sách từ đó giao cho các trưởng Việc hoàn thiện biên bản và lập biên bản kiểm nhóm lập tóm tắt theo lĩnh vực và lắp ghép cho đầy toán ngân sách cấp huyện cần đảm bảo một số đủ nội dung trong biên bản kiểm toán; ý thức, trách nguyên tắc sau. Một là, tập trung dân chủ: Việc nhiệm của một số Tổ trưởng chưa cao trong việc hoàn thiện biên bản và lập biên bản kiểm toán tổng hợp đầy đủ, chính xác kết quả kiểm toán của ngân sách cấp huyện cần được thực hiện trên cơ các thành viên trong dự thảo biên bản kiểm toán sở kết quả khảo sát, lấy ý kiến một cách công khai, và dự thảo thông báo kết quả kiểm toán. Về khách rộng rãi và dân chủ trong toàn ngành. Hai là, toàn quan, vệc tổ chức kiểm toán ngân sách địa phương diện: Việc hoàn thiện biên bản và lập biên bản kiểm bố trí thời gian kiểm toán còn ngắn trong khi phải toán ngân sách cấp huyện cần được xây dựng một kiểm toán chi tiết tại cấp huyện, cấp đơn vị dự toán, cách toàn diện, chi tiết, đồng bộ, đảm bảo không 16 Số 145 - tháng 11/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
  15. bị trùng chéo, không vướng giữa các quy định của phát hành theo quy định. Đối với cấp tỉnh: Ban ngành; kịp thời khắc phục những hạn chế, tồn tại hành quyết định kiểm toán ngân sách địa phương về mẫu biểu, kết cấu và nội dung hiện hành. Ba là, cấp tỉnh gồm các đơn vị dự toán tỉnh; các ban quản nhất quán: Việc hoàn thiện này cần được xây dựng lý tỉnh; cơ quan tài chính tổng hợp và tổng hợp trên nguyên tắc nhất quán với Chiến lược phát chung lập báo cáo kiểm toán cấp tỉnh. Tổ chức lập triển Kiểm toán nhà nước, các định hướng chung báo cáo kiểm toán ngân sách địa phương chung cũng như các quy định, quy trình nghiệp vụ cụ thể của một tỉnh gồm báo cáo kiểm toán ngân sách của ngành. Việc đảm bảo nguyên tắc nhất quán sẽ địa phương các huyện và báo cáo kiểm toán ngân góp phần tạo sự đồng thuận cao trong toàn ngành, sách địa phương cấp tỉnh. Đồng thời, cần xem xét đảm bảo sau khi hoàn thiện được đi vào cuộc sống, bổ sung, hoàn thiện các quy định của ngành còn phục vụ tốt hoạt động kiểm toán. Bốn là, đầy đủ: thiếu, chưa đảm bảo tính đồng bộ liên quan đến Cần được hoàn thiện trên nguyên tắc đáp ứng biên bản kiểm toán của các huyện. đầy đủ mục tiêu của cuộc kiểm toán; các quy định Đối với biên bản kiểm toán ngân sách cấp trong quy trình kiểm toán và đảm bảo phục vụ huyện, kết cấu cần được sửa theo hướng: công tác kiểm toán yêu cầu cần lồng ghép trong cả 3 nội dung/loại hình kiểm toán. Một là, Thiết lập riêng một mục trong biên bản kiểm toán để đánh giá công tác quản lý, điều hành Để nâng cao chất lượng trước hết cần hoàn ngân sách của địa phương (không lồng ghép trong thiện các căn cứ pháp lý của biên bản kiểm toán. mục chi thường xuyên) để đảm bảo bao trùm cho Để tăng cường tính pháp lý của biên bản kiểm các lĩnh vực cũng như công tác chỉ đạo, điều hành toán có thể chia thành hai giai đoạn khi kiểm toán ngân sách trong suốt chu trình ngân sách và chỉ ngân sách địa phương một tỉnh trong đó làm cấp đạo riêng cho từng lĩnh vực và phù hợp với nội huyện trước, cấp tỉnh sau nhưng chung một quyết dung đã quy định trong Quy trình kiểm toán ngân định kiểm toán. Đối với cấp huyện: Ban hành sách địa phương. quyết định kiểm toán ngân sách địa phương cấp huyện tại tỉnh A, trong đó sẽ có nhiều tổ làm tại Hai là, Thiết kế mục riêng về xác nhận số liệu các huyện khác nhau; các tổ lập báo cáo kiểm toán quyết toán ngân sách vì thực chất kiểm toán ngân tại từng huyện khi kết thúc; tổ chức thông qua và sách địa phương là xác nhận số liệu quyết toán tổng NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 145 - tháng 11/2019 17
  16. NGHIEÂN CÖÙU TRAO ÑOÅI thể thu, chi trong một niên độ ngân sách. Số liệu xác sách địa phương phù hợp, đủ dài để các kiểm toán nhận quyết toán cần phù hợp với tiêu chí trong các viên có thời gian trong việc thu thập, đánh giá, lập mẫu biểu đi kèm và phù hợp với chế độ mẫu biểu các biên bản kiểm toán và trao đổi với đơn vị được báo cáo hiện hành của Luật Ngân sách Nhà nước, kiểm toán trước khi lập dự thảo biên bản kiểm trong đó có loại trừ các khoản thu, chi trùng để toán và dự thảo thông báo kết quả kiểm toán chi phản ánh chính xác số liệu quyết toán trong năm. tiết tại đơn vị trước khi thông qua. Bên cạnh đó, Đối với các mẫu biểu biên bản kiểm toán cần sửa kiểm toán quyết toán ngân sách địa phương là xác đổi cho phù hợp với hệ thống mẫu biểu của thông nhận số liệu quyết toán tổng thể thu, chi; quyết báo kết quả kiểm toán và mẫu biểu quyết toán hiện toán thu theo nội dung và các khoản chi theo sự hành của Luật Ngân sách Nhà nước. Cụ thể, nên nghiệp, tuy nhiên trong các biên bản kiểm toán quy định số lượng, kết cấu, nội dung các biểu đồng chưa đánh giá được kỹ nội dung này làm cơ sở xác nhất giữa biên bản kiểm toán của tổ kiểm toán với nhận số liệu quyết toán một phần vì các đề cương biểu mẫu của Thông báo kết quả kiểm toán của tổ hướng dẫn kiểm toán ngân sách hiện có thiên về kiểm toán tại đơn vị kiểm toán chi tiết. Cần hướng kiểm toán tuân thủ, chấp hành trong quản lý, sử dẫn nhập các tiêu chí, chỉ tiêu trong biểu của biên dụng ngân sách và các quy định hiện hành của bản kiểm toán cho phù hợp với mẫu biểu quyết toán Nhà nước; chưa có hướng dẫn cụ thể kiểm toán hiện hành vì mẫu hiện hành chia các cột là các cấp chi tiết chi các sự nghiệp (giáo dục, kinh tế; đảm ngân sách trong khi mẫu biểu của Kiểm toán nhà bảo xã hội...); kiểm toán tổng hợp việc tổng hợp nước chỉ là cột số báo cáo, số kiểm toán. Tiêu chí quyết toán ngân sách mới chỉ đối chiếu số quyết trên các biểu mẫu biên bản kiểm toán cần sửa đồng toán tổng thể của cơ quan tài chính với Kho bạc nhất với các tiêu chí đánh giá về số liệu quyết toán Nhà nước. Vì thế, cần phải hoàn thiện thêm về trong phần lời của biên bản kiểm toán và điều chỉnh các Đề cương kiểm toán ngân sách địa phương đã đánh dấu số thứ tự cho phù hợp vì hiện tại các chỉ ban hành. tiêu nào không phát sinh tại cấp huyện đã sửa đổi, Trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống từ văn bản lược bỏ nhưng không đánh lại số thứ tự tuần tự. pháp lý; các quy định của ngành đến đánh giá thực Ngoài ra, mẫu kết luận và kiến nghị kiểm toán tiễn, chỉ ra các tồn tại, vướng mắc trong quá trình tại đơn vị được kiểm toán chi tiết cũng cần được thực hiện, Tác giả đã cố gắng đề xuất một số giải xem xét lại và mẫu biểu, kết cấu, biểu mẫu kèm pháp để góp phần hoàn thiện hơn biên bản và theo trên cơ sở phân tích, lựa chọn các ưu điểm của việc lập biên bản kiểm toán ngân sách cấp huyện các cơ quan thanh tra, kiểm tra khác; tiệm cận phù trong cuộc kiểm toán ngân sách địa phương, đảm hợp thông lệ, quy định biên bản của kiểm toán độc bảo tính pháp lý, tính chính xác trong các kết luận, lập và chuẩn mực kiểm toán. kiến nghị kiểm toán cũng như cơ sở để các đơn vị được kiểm toán thực hiện kiến nghị kiểm toán, góp Một giải pháp quan trọng cần được thực hiện phần nâng cao hơn nữa hiệu quả trong quản lý, sử kịp thời chính là hoàn thiện kỹ năng lập Biên bản dụng và điều hành ngân sách của địa phương. kiểm toán bao gồm: Kỹ năng tổng hợp; kỹ năng phân tích; kỹ năng soạn thảo, lập biên bản kiểm TÀI LIỆU THAM KHẢO toán; kỹ năng vận dụng các quy định, chuẩn mực 1. Luật Ngân sách nhà nước 2015; kiểm toán. Để hoàn thiện các kỹ năng này đòi hỏi 2. Luật Kiểm toán nhà nước 2015; kiểm toán viên phải học tập nâng cao trình độ, 3. Hệ thống Chuẩn mực Kiểm toán nhà nước; khả năng chuyên môn để đáp ứng yêu cầu ngày 4. Hệ thống mẫu biểu kiểm toán đã được ban càng cao của công việc, cùng với đó chính là nâng hành; cao trách nhiệm đối với công việc. Ngoài ra, cần 5. Các biên bản kiểm toán, báo cáo kiểm xem xét bố trí thời gian kiểm toán ngân sách địa toán đã được phát hành của Kiểm toán phương cấp huyện trong cuộc kiểm toán ngân nhà nước. 18 Số 145 - tháng 11/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
  17. TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN NAÂNG CAO CHAÁT LÖÔÏNG KIEÅM TOAÙN CAÙC CÔ SÔÛ Y TEÁ COÂNG LAÄP THOÂNG QUA VIEÄC XAÂY DÖÏNG VAØ BAN HAØNH HÖÔÙNG DAÃN KIEÅM TOAÙN CHI TIEÁT Nguyễn Thị Kiều Thu* K iểm toán nhà nước đã ban hành đầy đủ các quy trình, chuẩn mực để hướng dẫn cho hoạt động kiểm toán trong các lĩnh vực, song ngoại trừ một số cuộc kiểm toán chuyên đề toàn ngành đều có đề cương hướng dẫn chi tiết cụ thể để đáp ứng đúng mục tiêu, nội dung kiểm toán đã đề ra, hầu hết các cuộc kiểm toán được thực hiện thường xuyên trong nhiều năm qua như kiểm toán ngân sách bộ ngành, kiểm toán ngân sách địa phương, kiểm toán báo cáo tài chính các doanh nghiệp nhà nước… chủ yếu thực hiện theo quy trình chung, chưa có các hướng dẫn chi tiết nên tại nhiều cuộc kiểm toán, các tổ kiểm toán được giao nhiệm vụ kiểm toán chi tiết các đơn vị trực thuộc gặp không ít các khó khăn, vướng mắc như trường hợp kiểm toán các đơn vị sự nghiệp y tế công lập trong cuộc kiểm toán ngân sách bộ ngành. Từ khóa: Cơ sở y tế công lập. Improving quality of audit of public health establishments through designing and promulgation of detailed audit guidance The State Audit Office of Vietnam has issued all processes and standards to guide auditing activities in all fields. But except for a number of special audits with national-wide scope which have had detailed platform in order tomeet the objectives and content of the audits, most audits have been conducted regularly over the years such ascentral budget audits, local budget audits, financial audits of State-owned enterprises... mainly follow the general process, there are no detailed instructions.Therefore, in many audits, the audit teams who has been assigned the task of audits of the subsidiaries met many difficulties and obstacles such as the case of auditing public health establishments. Key word: Public health establishments. Đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và đơn như các bệnh viện, cơ sở y tế kết quả kiểm toán vị sự nghiệp y tế công lập nói riêng là các đơn vị cũng còn những hạn chế khi có những hoạt động thường xuyên được lựa chọn kiểm toán khi Kiểm chưa được kiểm toán một cách đầy đủ, chưa đưa toán nhà nước tổ chức kiểm toán việc quản lý, ra được những nhận định, đánh giá một cách rõ sử dụng tài chính công, tài sản công của các bộ, ràng, xác đáng như công tác đấu thầu vật tư tiêu ngành hay kiểm toán ngân sách địa phương. Quá hao, hóa chất; việc thực hiện định mức tiêu hao vật trình kiểm toán các đơn vị sự nghiệp y tế công lập tư hóa chất trong các phác đồ điều trị, chi phí tiêu trong những năm qua, các Đoàn kiểm toán của hao trong hoạt động khám chữa bệnh... Kiểm toán nhà nước cũng đã phát hiện nhiều sai Cùng với việc năm 2015 Chính phủ ban hành sót trong thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của các Nghị định 16/2015/NĐ-CP về cơ chế tự chủ tài đơn vị này và bên cạnh đó là những bất cập của chính mới mà trong đó nội dung chính là lộ trình cơ chế, chính sách cần phải sửa đổi, bổ sung. Tuy tính đúng, tính đủ giá dịch vụ công để đảm bảo bù nhiên, với loại hình hoạt động có nhiều đặc thù đắp dần chi phí bỏ ra, tiến tới giá thu dịch vụ đảm *Kiểm toán nhà nước Chuyên ngành III NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 145 - tháng 11/2019 19
  18. TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN bảo toàn bộ chi phí hoạt động nhằm nâng cao chất toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực lượng, hiệu quả hoạt động các đơn vị sự nghiệp hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ công lập, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước chi quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn y tiêu cho các đơn vị này thì công tác kiểm toán đối tế như: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; điều với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập nói chung, dưỡng và phục hồi chức năng; giám định y khoa, các cơ sở y tế công lập nói riêng cần phải được hoàn pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; kiểm thiện khâu tổ chức thực hiện kiểm toán để nâng nghiệm dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; an toàn cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kiểm toán của vệ sinh thực phẩm; dân số - kế hoạch hóa gia đình; Kiểm toán nhà nước trong lĩnh vực này. sức khỏe sinh sản; truyền thông giáo dục sức khỏe. Từ đó, có thể hiểu cơ sở y tế công lập là bộ phận Có rất nhiều vấn đề cần bàn luận đến khi muốn thuộc khái niệm nêu trên và chỉ liên quan đến công nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm toán tác khám chữa bệnh. Do vậy, một số vấn đề chung đối với các lĩnh vực kiểm toán của Kiểm toán nhà của các cơ sở y tế công lập ở bài viết này sẽ được nước. Ở góc độ bài viết này, Tác giả xin được trao đề cập đến dưới hình thức là đơn vị sự nghiệp y tế đổi xoay quanh việc cần thiết phải có hướng dẫn công lập. chi tiết, cụ thể cho các kiểm toán viên nhà nước khi tiến hành kiểm toán tại các cơ sở y tế công lập Trong quá trình hoạt động, các đơn vị sự nghiệp trong cuộc kiểm toán ngân sách bộ ngành hoặc y tế công lập được phân loại theo các nhóm sau đây: kiểm toán ngân sách địa phương, từ đó có thể xây - Nhóm 1: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự dựng thành một cẩm nang định hướng cho hoạt bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường động kiểm toán này, tạo điều kiện thuận lợi cho xuyên và kinh phí đầu tư phát triển; kiểm toán viên trong việc đưa ra các nhận xét, đánh giá, kết luận một cách đầy đủ toàn diện về công tác - Nhóm 2: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công của bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường các cơ sở y tế công lập. xuyên; - Nhóm 3: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo Đơn vị sự nghiệp y tế công lập nói chung là tổ đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên; chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách - Nhóm 4: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế hoặc không có nguồn thu, kinh phí hoạt động 20 Số 145 - tháng 11/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
  19. thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được giao Qua nghiên cứu hoạt động kiểm toán đối với do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ.” các cơ sở y tế công lập giai đoạn 2015-2017 cho thấy kết quả kiểm toán đã có những kiến nghị xử lý tài Hiện tại, các đơn vị sự nghiệp y tế công lập chính góp phần tăng thu, giảm chi cho ngân sách đều triển khai thực hiện cơ chế tự chủ quy định nhà nước, bên cạnh đó cũng có các kiến nghị chấn tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 chỉnh công tác quản lý của các đơn vị được kiểm của Chính phủ. Việc tự chủ đối với các đơn vị sự toán trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quản lý, nghiệp y tế công lập bao gồm các nội dung: Tự chủ sử dụng tài chính, tài sản công: Các kiến nghị này về tổ chức bộ máy; tự chủ về tài chính và tự chủ về chủ yếu là các giải pháp mà Kiểm toán nhà nước thực hiện nhiệm vụ. đưa ra để khuyến cáo đơn vị thực hiện nhằm khắc Trong những năm qua, việc tổ chức kiểm toán phục các sai sót được phát hiện qua kiểm toán trong tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập thuộc các bộ, công tác quản lý nói chung và công tác quản lý, sử ngành thông thường được thực hiện theo các cách dụng tài chính, tài sản công nói riêng. Với mục đích thức sau: như vậy các loại kiến nghị này đa phần đều được (i) Tổ chức Đoàn kiểm toán để tiến hành kiểm các đơn vị chấp nhận và hầu hết đơn vị được kiểm toán một cách riêng rẽ đối với đơn vị sự nghiệp y tế toán đều đã thực hiện. Điều đó cũng cho thấy cơ công lập có quy mô lớn, có nhiều đơn vị trực thuộc. bản kiến nghị chấn chỉnh công tác quản lý được Với cách tổ chức này, tùy thuộc vào quy mô và sự Kiểm toán nhà nước đưa ra là phù hợp với thực phức tạp của đơn vị mà đoàn kiểm toán có thể chỉ tiễn hoạt động của các đơn vị và đều hướng các có một hoặc nhiều tổ kiểm toán với số lượng kiểm đơn vị tổ chức, quản lý theo quy định của pháp luật toán viên của mỗi tổ phù hợp để kiểm toán tại đơn nên luôn được chấp nhận và thực hiện nghiêm túc. vị và kiểm tra, đối chiếu các đơn vị trực thuộc. Ngoài ra, các đoàn kiểm toán còn đưa ra những (ii) Tổ chức các tổ kiểm toán trong Đoàn kiểm kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm của tập thể, cá toán ngân sách bộ ngành hoặc ngân sách địa nhân có liên quan đến sai phạm phát hiện qua kiểm phương để kiểm toán tại các đơn vị sự nghiệp y tế toán; loại kiến nghị này Kiểm toán nhà nước đã có công lập thuộc bộ, ngành, địa phương đó. Trong các hướng dẫn cụ thể các hoạt động, phạm vi quản trường hợp này, việc tổ chức kiểm toán các đơn lý của các tổ chức, cơ quan, đơn vị phải kiến nghị vị sự nghiệp y tế công lập thông thường chủ yếu kiểm điểm trách nhiệm khi phát hiện ra các sai xoay quanh việc tự chủ về tài chính, song nội dung phạm trong quá trình kiểm toán, do vậy kiến nghị kiểm toán đấu thầu mua sắm thuốc, mua sắm vật các đoàn kiểm toán đưa ra đều đảm bảo chất lượng, tư trang thiết bị y tế cũng chưa phản ánh một cách phù hợp thực tế và các quy định của pháp luật nên thấu đáo. rất ít khi xảy ra trường hợp đơn vị được kiểm toán có kiến nghị ngược lại với Kiểm toán nhà nước về (iii) Tổ chức kiểm toán chuyên đề đối với các các vấn đề này. Bên cạnh đó, tổ còn kiến nghị các đơn vị sự nghiệp y tế công lập theo một chủ đề đã cơ quan chức năng theo thẩm quyền sửa đổi, bổ được xác định. Cuộc kiểm toán này được tiến hành sung hoặc hủy bỏ các văn bản quy phạm pháp luật đối với nhiều đơn vị sự nghiệp y tế công lập thuộc chưa phù hợp hoặc không còn phù hợp với thực các bộ, ngành, địa phương khác nhau; đoàn kiểm tiễn hoạt động quản lý nói chung, hoạt động quản toán thường có quy mô lớn, nhiều tổ kiểm toán, số lý, sử dụng tài chính công, tài sản công nói riêng. lượng kiểm toán viên nhiều, có thể do một Kiểm Nhìn chung, các kiến nghị dạng này phần lớn đều toán nhà nước Chuyên ngành, Khu vực thực hiện được Quốc hội, Chính phủ ghi nhận và xem xét, hoặc có sự phối hợp của nhiều Chuyên ngành, Khu các bộ, cơ quan trung ương, các cấp chính quyền vực, hoặc nhiều Chuyên ngành, Khu vực cùng tổ địa phương nghiên cứu thực hiện. chức kiểm toán chuyên đề và kết quả kiểm toán sẽ do một đơn vị được Tổng Kiểm toán nhà nước giao Bên cạnh những mặt làm được, việc tổ chức thực chủ trì tổng hợp. hiện kiểm toán đối với các cơ sở y tế công lập trong NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 145 - tháng 11/2019 21
  20. TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN thời gian qua cũng còn những hạn chế thể hiện qua Quá trình kiểm toán tổng hợp tại bộ, ngành các mặt: hoặc địa phương thường không đồng bộ với hoạt (i) Về phương pháp kiểm toán: Phần lớn các tổ động kiểm toán chi tiết tại các đơn vị sự nghiệp nên trưởng tổ kiểm toán và kiểm toán viên chưa thật một số nội dung kiểm toán chưa có sự rà soát, đối sự quan tâm, chú trọng đến phương pháp khi thực chiếu việc thực hiện nhiệm vụ giữa cơ quan quản hiện kiểm toán, các phương pháp chỉ được nêu lý cấp trên và đơn vị trực thuộc dẫn đến một số chung chung trong kế hoạch kiểm toán chi tiết của trường hợp kết quả kiểm toán ở cơ quan tổng hợp tổ; chưa chỉ rõ đối với từng nội dung kiểm toán ảnh hưởng đến kết quả kiểm toán tại đơn vị chi phải vận dụng các phương pháp, thủ tục kiểm toán tiết trong khi các đơn vị này đã được kiểm toán và cụ thể nào. ký biên bản kiểm toán mà không bao gồm các nội dung được phát hiện ở cơ quan cấp trên (như nội (ii) Trong khâu chuẩn bị kiểm toán: Quá trình dung kiểm toán về lập, giao dự toán). khảo sát thu thập thông tin lập kế hoạch kiểm toán của đoàn kiểm toán thông thường nội dung đánh Việc kiểm toán nguồn kinh phí và việc sử dụng giá hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ là những đánh các nguồn kinh phí thông thường phải vận dụng kỹ giá chung nhất cho tất cả các đơn vị trực thuộc đầu thuật chọn mẫu ngẫu nhiên để thực hiện kiểm toán mối được kiểm toán nên đối với từng đơn vị sự theo kinh nghiệm nghề nghiệp. Do vậy, đối với nghiệp cụ thể thì còn thiếu sót và sơ sài, do vậy sẽ những nguồn kinh phí có số quyết toán lớn (như làm mất nhiều thời gian của kiểm toán viên để tìm kinh phí sự nghiệp y tế) thì mẫu chọn quá nhỏ (do hiểu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của các không đủ thời gian, nhân lực) không đại diện được đơn vị khi thực hiện kiểm toán chi tiết. cho tổng thể dẫn đến nhiều rủi ro. Tương tự như (iii) Trong thực hiện kiểm toán vậy là việc kiểm toán các khoản mục trên báo cáo tài chính vì tất cả đều liên quan đến các nguồn kinh Nhìn chung, việc lập kế hoạch chi tiết của các tổ phí như đã nêu nên đều có các hạn chế tương tự. kiểm toán còn tình trạng mục tiêu kiểm toán của tổ vượt quá quy mô, nội dung kiểm toán tại một đơn Đối với nội dung đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, vị sự nghiệp y tế công lập do phần lớn đều sao chép hiệu quả việc quản lý và sử dụng các nguồn kinh từ mục tiêu kiểm toán trong kế hoạch kiểm toán phí tại các biên bản kiểm toán hầu hết đều đánh giá của cả đoàn kiểm toán. chung chung, sơ sài và không thuyết phục. 22 Số 145 - tháng 11/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2