intTypePromotion=3

Thực tiễn áp dụng các hình thức sở hữu hiến định – Phần 5

Chia sẻ: Thiuyen3 Thiuyen3 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:18

0
49
lượt xem
5
download

Thực tiễn áp dụng các hình thức sở hữu hiến định – Phần 5

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nhận thức vấn đề sở hữu là mục đích hay phương tiệnchi phối đến việc giải quyết quan hệ sở hữu. Nhiều năm ở nước ta đã quan niệm sở hữu là mục đích, cho rằng có thể xác lập sớm một chế độ công hữu, một quan hệ sản xuất XHCN để lôi kéo, thúc đẩy lực lượng sản xuất lạc hậu. Nhưng thực tiễn vội vàng mở rộng phạm vi quốc hữu hóa, nôn nóng thực hiện hợp tác hóa – đồng nhất với tập thể hóa và nhiều sai lầm khác trong quản lý, phân phối…đã...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thực tiễn áp dụng các hình thức sở hữu hiến định – Phần 5

  1. Thực tiễn áp dụng các hình thức sở hữu hiến định – Phần 5 3. Đánh giá Nhận thức vấn đề sở hữu là mục đích hay phương tiệnchi phối đến việc giải quyết quan hệ sở hữu. Nhiều năm ở nước ta đã quan niệm sở hữu là mục đích, cho rằng có thể xác lập sớm một chế độ công hữu, một quan hệ sản xuất XHCN để lôi kéo, thúc đẩy lực lượng sản xuất lạc hậu. Nhưng thực tiễn vội vàng mở rộng phạm vi quốc hữu hóa, nôn nóng thực hiện hợp tác hóa – đồng nhất với tập thể hóa và nhiều sai lầm khác trong quản lý, phân phối…đã đưa tới một chế độ công hữu cùng làm chủ mà thực tế nhiều nơi, nhiều lúc là vô chủ. Rất nhiều ý kiến phê phán sở hữu toàn dân trước đây là hư ảo. Muốn xóa bỏ tận cùng những bất bình đẳng giữa người thì phải xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Marx, Enghels đã từng phê phán những nhà kinh tế chính trị tiểu tư sản khi họ đề nghị xóa bỏ những mặt trái, tiêu cực của sở hữu tư bản nhưng vẫn giữ lại nội dung tư hữu của nó. Như vậy
  2. xác lập chế độ công hữu để làm thay đổi mục đích của nền sản xuất xã hội, thay đổi kết cấu giai cấp, thay đổi bản chất chế độ chính trị x ã hội. Sở hữu là mục đích. Tuy nhiên, sẽ là không biện chứng trong quan niệm sở hữu là mục đích khi nóng vội xác lập công hữu bất chấp trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Mặt khác, cũng sẽ là sai lầm khi coi sở hữu chỉ là phương tiện để phát triển sản xuất. Vì phương tiện có thể dùng, có thể không dùng; có thể xác lập chế độ công hữu hoặc không xác lập chế độ đó. Nói phát triển sản xuất một cách chung chung mà không gắn sự phát triển đó với mục đích gì thì đó là sai lầm có tính nguyên tắc, là quên đi điều Lênin căn dặn: Chính trị bao giờ cũng giữ vai trò ưu tiên so với kinh tế. Phải có quan điểm chính trị khi giải quyết những vấn đề kinh tế. Chúng tôi cho rằng xác lập chế độ công hữu là mục đích cuối cùng của công cuộc phát triển kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng trong quá trình phát triển ấy, thích ứng với các giai đoạn phát triển từ thấp đến cao của lực l ượng sản xuất thì xác lập chế độ công hữu vừa thúc đẩy sản xuất, chúng ta sẽ không bị chệch hướng. Hiến pháp năm 1992 là cơ sở pháp lý cao nhất cho sự ra đời và hoàn thiện pháp luật về kinh tế - phương tiện đặc biệt quan trọng trong việc xóa bỏ các quan hệ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng quan hệ kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, hội nhập, có sự quản lý của Nhà nước.
  3. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta, Hiến pháp tuyên bố: "Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa" (Điều 15); "Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh" (Điều 21); "Doanh nghiệp thuộc mọi th ành phần kinh tế được liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật" (Điều 22); "Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa" (Điều 23); "Nhà nước khuyến khích các tổ chức cá nhân n ước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân n ước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hóa" (Điều 25); "Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài" (Điều 18). Dựa vào các quy định nền tảng đó, hàng loạt các đạo luật, bộ luật mới về kinh tế - dân sự - lao động lần lượt ra đời như Bộ luật Dân sự (năm 1995 và 2005); Bộ luật Lao động (năm 1995, 2003, 2006), Luật Doanh nghiệp (năm 1999, 2003, 2006), Luật Đầu tư (2005), Luật Thương mại (năm 1997, 2005) và hàng chục đạo luật, bộ luật khác. Cần phải khẳng định rằng, không có những tư duy pháp lý mới về kinh tế của Hiến pháp năm 1992 làm nền tảng, không thể có sự đổi mới và hoàn thiện pháp luật về kinh tế, không thể tạo lập được một trật tự các quan hệ kinh tế mới làm chỗ dựa vững chắc cho đổi mới các yếu tố của thượng tầng kiến trúc, giữ vững sự ổn định và
  4. phát triển xã hội. Không dựa trên những quy định gốc về chế độ kinh tế của Hiến pháp năm 1992 không thể xây dựng và hoàn thiện được một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về kinh tế - dân sự - lao động đồng bộ và thống nhất như hiện nay. Và, do đó không thể có vốn để đầu tư, không thể có công nghệ tiên tiến để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n ước. Nhờ có các quy định nền tảng về kinh tế của Hiến pháp năm 1992, pháp luật nói chung, đặc biệt l à pháp luật về kinh tế nói riêng thực sự trở thành một lực lượng vật chất góp phần xây dựng và phát triển kinh tế nước nhà trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua. Việc phân loại sở hữu như hiện nay tiến hành trên cơ sở áp dụng đồng thời cả hai tiêu chí nêu trên và hậu quả là các hình thức sở hữu ở nước ta được xác định một cách, vừa thừa lại vừa thiếu, không phù hợp với thực tiễn khách quan. Việc phân loại hình thức sở hữu trong BLDS là một minh chứng cho cách làm này. Vậy từ nay cần phải căn cứ vào tiêu chí gì để phân loại (xác định) các hình thức sở hữu? Theo tôi, chỉ nên dùng một yếu tố duy nhất, theo đó chủ thể nào có quyền trực tiếp chiếm hữu sử dụng và định đoạt tài sản thì người đó được coi là sở hữu chủ và căn cứ vào cách thực hiện quyền của người đó đối với tài sản mà xác định tên gọi của hình thức sở hữu cho phù hợp. Ví dụ khi một cá nhân duy nhất là chủ sở hữu tài sản thì đó là sở hữu cá nhân; khi nhiều người tập hợp lại thành một tổ chức có tư cách pháp nhân (trong đó có hợp tác xã) và chính pháp nhân đó thực hiện các quyền chủ sở hữu thì đó là sở hữu pháp nhân; khi hai người (cá nhân, tổ chức) trở lên có quyền cùng nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với một tài
  5. sản thì đó là một sở hữu chung và khi Nhà nước được trao quyền chủ sở hữu tài sản, mặc dù tài sản đó là của toàn thể nhân dân thì đó là sở hữu nhà nước. Trên cơ sở quan niệm như vậy, tôi không đồng ý với cả hai phương án đã được nêu ra trong bản xin ý kiến nhân dân về các loại hình sở hữu ở VN. Theo tôi, căn cứ vào tiêu chí như vừa nêu trên thì ở nước ta có 4 hình thức sở hữu: sở hữu nhà nước; sở hữu pháp nhân; sở hữu cá nhân và sở hữu chung. Đánh giá về việc thực hiện hình thức “Sở hữu tư nhân” ở Việt Nam. Với tình hình Việt Nam hiện nay sở hữu Nhà nước và Sở hữu tập thể vẫn là nền tảng, theo tôi đây là điều hợp lý không phải nh ư thế là ta chưa coi trọng Sở hữu tư nhân mà hiện nay lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp nên vẫn chưa thể đủ tầm vóc để nắm vai trò chủ chốt trong nền kinh tế; hơn nữa hiện nay, trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa theo kiểu kinh tế thị trường điển hình cũng chỉ khoảng 10 đến 15% tư liệu sản xuất thuộc về sản xuất tư nhân, 60 đến 70% thuộc sở hữu tập thể cùng sở hữu cổ phần, 15 đến 25% là sở hữu Nhà nước. Một vấn đề được nhắc đến nhiều nhất hiện nay về vấn đề “Sở hữu t ư nhân” đó là vấn đề sở hữu đất đai. Thời bao cấp, đất đai được quản lý theo chế độ cấp phát, việc mua bán (thuật ngữ pháp lý gọi là chuyển nhượng) bị cấm. Thị trường bất động sản hầu như không phát triển. Đầu những năm 90, chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhu cầu về chỗ ở, nơi lắp đặt nhà xưởng, trung tâm thương mại phát
  6. sinh, và Luật Đất đai 1993 ra đời cho phép người sử dụng đất được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Việc chuyển nhượng đất được hợp pháp hóa và giá đất tăng vùn vụt đồng nghĩa với việc hình thành thị trường bất động sản. Nhưng đó chỉ là một thị trường nửa vời, trong đó yếu tố phát triển cũng có, yếu tố giằng co cũng có. Cả hai tồn tại song song, hoạt động theo những quy luật trái nghịch. Khi hình thành cơ chế thị trường, thị trường bất động sản cũng ra đời, và dù nhà nước không công nhận, đất đai vẫn trở thành hàng hóa. Thế nhưng, những quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý” vẫn còn. Người dân muốn có đất để xây nhà thì họ phải “mua” chứ không được cấp. Vậy nhưng thủ tục lại là: người bán xin giao đất, người mua xin được giao đất. Doanh nghiệp khi muốn đầu tư cũng phải hoạt động theo cơ chế “phi thị trường” đó. Thay vì khi triển khai dự án, họ có quyền giao dịch với dân trên cơ sở thuận mua vừa bán (sau khi xem xét quy hoạch tổng thể của nh à nước), thì họ lại phải theo một thủ tục bất hợp lý: trước hết phải tìm địa điểm, tham khảo ý dân về giá đất, làm văn bản xin thuận địa điểm, được chấp nhận rồi mới lập dự án, rồi trình sở địa chính xin thu hồi đất, rồi duyệt giá đền bù..., cuối cùng mới họp dân công bố quy hoạch giải tỏa, đền bù. Nhiều trường hợp kéo dài lê thê hằng năm trời, đến khi công bố quy hoạch thì giá thị trường đã khác, dân không chịu nữa. Vậy là
  7. khiếu nại, tố cáo liên miên. Vậy “thị trường” tại sao không có thuận mua, vừa bán? 5 quyền luật định về đất đai có để làm gì? Chính quan điểm không công nhận chế độ sở hữu tư nhân về đất đai đã sinh ra một nền kinh tế phi chính thức: kinh doanh không đăng ký, chẳng phải đóng thuế. Nhiều người cứ mua bất động sản rồi bán lại kiếm lời, bởi thủ tục của họ mau lẹ, dân “khoái” vì được thương lượng thoải mái. Họ gom đất ở những vùng đã có quy hoạch, rồi “làm giá” với các công ty đầu tư hợp pháp, và nếu không được chấp nhận thì dự án sẽ kéo dài, khó khăn về vốn. Vì sao Việt Nam đa dạng hoá hình thức sở hữu ? Đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở nước ta là tất yếu khách quan, xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây: Trước hết, từ đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nền kinh tế chưa thể đơn nhất hoá hình thức sở hữu tư liệu sản xuất. Nhận thức tính khách quan của sự tồn tại các loại hình sở hữu trong thời kỳ quá độ, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng chỉ rõ: "… phù hợp với sự phát triển lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao, với sự đa dạng về hình thức sở hữu". Hai là,từ sự phát triển không đều của lực lượng sản xuất giữa các vùng, ngành kinh tế ở nước ta hiện nay.
  8. Nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ là phổ biến, lại trải qua chiến tranh lâu dài. Do đó, sự phát triển của lực lượng sản xuất rất không đều nhau giữa các vùng, ngành kinh tế của đất nước ; giữa miền xuôi với miền ngược ; giữa thành thị với nông thôn sự phát triển của lực lượng sản xuất không đều nhau. Chính vì thế, đòi hỏi phải có các hình thức sở hữu tương ứng, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở từng vùng, miền và từng ngành kinh tế khác nhau. Điều đó cũng có nghĩa là, với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay, chưa thể đơn nhất hoá, mà đa dạng hình thức sở hữu tư liệu sản xuất trở thành tất yếu khách quan. Ba là, từ thực tiễn nước ta trước đây và hiện nay. Trước đổi mới, nền kinh tế nước ta, chỉ tồn tại hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Sự vượt trước của quan hệ sản xuất, trong khi tính chất v à trình độ của lực lượng sản xuất chưa cho phép, đã kìm hãm sự phát triển của sản xuất xã hội. Đất nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã mở ra thời kỳ mới cho đất nước bằng sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế xã hội. Thực hiện nhất quán đường lối đa dạng hoá hình thức sở hữu, xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta từng bước thoát ra khỏi khủng hoảng và hiện nay đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
  9. Những tác động tích cực và thách thức của quá trình đa dạng hoá hình thức sở hữu Việc đa dạng hoá hình thức sở hữu tư liệu sản xuất ở nước ta là quá trình có tính hai mặt. Một mặt, quá trình này có nh ững tác động tích cực,mặt khác,chính quá trình này cũng đặt ra nhiều thách thức cho sự phát triển kinh tế – xã hội của nước ta. 1. Tác động tích cực của quá trình đa dạng hoá hình thức sở hữu tư liệu sản xuất đối với nền kinh tế nước ta. Một là, góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất. Từ các hình thức sở hữu cơ bản : sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân hình thành 6 thành phần kinh tế : kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Chính sự vận động của nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã mang đến cho nền kinh tế nước ta một sức sống mới. Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1991 – 2000 đạt bình quân 7%/năm, sau 10 năm GDP tăng 2,07 lần, các năm gần đây 2001, 2002 và 7 tháng đầu năm 2003 GDP đều tăng xấp xỉ 7%. Tốc độ tăng trưởng của công nghiệp bình quân trong 10 năm 1991 – 2000 đạt 13%, các năm gần đây đều có tốc độ tăng trưởng tương tự, đặc biệt 7 tháng đầu năm 2003 đạt trên 15%. Cơ cấu ngành kinh tế theo hướng hiện đại đang dần dần được hình thành. Chẳng hạn, trong GDP, tỷ trọng nông
  10. nghiệp từ 38,7% giảm xuống 24,3%; công nghiệp và xây dựng từ 22,7% tăng lên 36,6%; dịch vụ từ 38% tăng lên 39,1%. Hai là,góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta. Đa dạng hoá hình thức sở hữu góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta. Biểu hiện đầu tiên là, góp phần giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chuẩn nước ta) từ 30% xuống 10%, theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới (IMF) thu nhập dưới 2 đô la/người/ngày là nghèo, Việt Nam đã giảm nhanh tỷ lệ người nghèo từ 90% năm 1990 xuống còn 60% năm 2002. Với nền kinh tế nhiều thành phần hàng năm có thêm 1,2 triệu việc làm mới. Với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, điện, đường, trường, trạm đã vươn tới mọi miền của Tổ quốc. Tốc độ đô thị hoá nông thôn đang diễn ra nhanh chóng, chất lượng cuộc sống của nhân dân không ngừng đ ược nâng cao. Tuổi thọ b ình quân từ 65,2 tuổi tăng lên 68,3 tuổi. Biểu hiện thứ hai là, trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực và tính năng động xã hội được nâng lên đáng kể. Với hệ thống trường lớp đa thành phần tham gia, nước ta đã hoàn thành mục tiêu xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, bắt đầu phổ cập trung học c ơ sở ở một số thành phố, tỉnh đồng bằng. Số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gấp 6 lần. Đào tạo nghề được mở rộng. Các hoạt động thông tin văn hoá về với mỗi bản làng, thôn xóm, từ hải đảo xa xôi đến vùng sâu, vùng xa đều đã được phủ sóng truyền hình và đài phát thanh. Chính vì vậy, lòng tin của nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới ngày càng tăng và sự
  11. nghiệp đổi mới của Đảng đang từng ngày, từng giờ đi vào cuộc sống của người dân. Ba là,góp phần ổn định chính trị xã hội và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Vào cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nền kinh tế x ã hội nước ta, đang trong tình trạng khủng hoảng. Cũng là thời điểm chúng ta bắt đầu tiến hành đổi mới, bạn bè quốc tế, không ít người lo ngại cho tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của nước ta. Còn kẻ thù của chủ nghĩa xã hội coi đây là cơ hội để tiến hành "diễn biến hoà bình", gây mất ổn định chính trị, xã hội hòng thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Điều đó, đã không xẩy ra, bởi vì với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta, chỉ sau một thời gian ngắn thoát khỏi khủng hoảng, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế. Kinh tế phát triển là nhân tố quyết định sự ổn định chính trị xã hội, đến lượt mình, ổn định chính trị x ã hội lại tạo tiền đề thuận lợi cho kinh tế phát triển. Vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta từ năm 1998 đến năm 2002 đạt 42 tỉ USD, vốn thực hiện đạt 21 tỉ USD và chúng ta đã có trên 40 dự án đầu tư vào 12 nước và vùng lãnh thổ v.v… Kim ngạch xuất khẩu tăng từ khoảng 1 tỉ rúp, đô la những năm cuối thập kỷ 80 lên 16 tỉ 530 triệu đô la năm 2002 và dự kiến đạt 19 tỉ USD năm 2003. Sự phát triển về kinh tế, ổn định về chính trị xã hội đã nâng cao uy tín của nước ta trên trường quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã lập quan hệ ngoại giao với 166 nước và vùng lãnh thổ, là thành viên của Liên hợp quốc, thành viên của ASEAN, tham gia
  12. diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM 1996), thành viên chính thức của AFEC (1998). Quan hệ của nước ta với các nước, các trung tâm kinh tế, chính trị lớn trên thế giới không ngừng được cải thiện. 2. Những thách thức do đa dạng hoá các hình thức sở hữu đặt ra Một là, giảm tỷ trọng kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể trong cấu thành GDP của nước ta dễ gây chệch hướng xã hội chủ nghĩa về kinh tế. Trước đổi mới, tuyệt đại bộ phận GDP (trên 90%), do kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể tạo ra. Sau gần hai mươi năm đổi mới tỷ trọng đó đã có sự thay đổi: "Đến năm 2000, tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước trong GDP vào khoảng 39%; khu vực kinh tế tập thể 8,5%; khu vực kinh tế tư nhân 3,3%; khu vực kinh tế cá thể 32%; khu vực kinh tế hỗn hợp 3,9% và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 13,3%". Như vậy, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, hai thành phần kinh tế nền tảng của chủ nghĩa xã hội, chỉ chiếm 47,5% GDP. Đây là một thực tế đặt ra cần được tính tới để có những chiến l ược và các chính sách kinh tế chủ động, linh hoạt nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nước ta. Hai là,nhiều vấn đề xã hội mới nảy sinh và môi trường sinh thái bị tàn phá. Cùng với sự phát triển kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường, tình trạng phân hoá giàu nghèo, các tệ nạn, tiêu cực xã hội như tham nhũng, ma tuý, mại dâm và môi trường sinh thái bị tàn phá có chiều hướng gia tăng. Đó là hậu quả khó tránh khỏi bởi sự tác động của mặt trái của cơ chế thị trường. Đây là một thách thức lớn đang
  13. đặt ra, đòi hỏi chúng ta phải xử lý. Những vấn đề này nếu không được xử lý kịp thời, kiên quyết sẽ rất dễ nảy sinh thành những vấn đề chính trị phức tạp. Ba là, thông qua hoạt động hợp tác đầu tư các thế lực thù địch đang tiến hành mạnh mẽ chiến lược "diễn biến hoà bình" đối với cách mạng nước ta. Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế l à một xu hướng tất yếu khách quan đối với nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực và thế giới, nền kinh tế nước ta còn nhiều hạn chế. Đặc biệt, chúng ta còn thiếu kinh nghiệm và trình độ tổ chức quản lý một nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường. Đây chính là kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng, một mặt thâm nhập cài cắm các lực lượng chống đối,mặt khác, tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta nhằm thực hiện âm mưu "diễn biến hoà bình". Những thách thức trên đây có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nó vừa là nhân, vừa là quả của nhau. Do đó, trong quá trình tổ chức và quản lý nền kinh tế đa hình thức sở hữu, chúng ta không nên xem nhẹ một thách thức nào. Một số giải pháp cơ bản nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện đa dạng hoá hình thức sở hữu 1. Đẩy mạnh hơn nữa việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, theo tinh thần Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba (khoá IX) của Đảng.
  14. Đây là giải pháp hàng đầu, giải pháp này bắt nguồn từ kinh tế nhà nước mà nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nước ta.Trong những năm gần đây, mặc dầu doanh nghiệp nh à nước không giữ tỷ trọng tuyệt đối trong cấu thành GDP, nhưng vẫn là lực lượng kinh tế mạnh nhất với 39,9% GDP, đóng góp 39,2% thu ngân sách nhà nước và 50% xuất khẩu. Vì vậy, sắp xếp, đổi mới, phát triển và phát triển nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trở thành giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa man g tính cơ bản lâu dài. Tính cấp bách của giải pháp này thể hiện ở chỗ, kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế về bản chất dựa trên cơ sở sở hữu toàn dân. Thành phần kinh tế này vững mạnh tức là hình thức sở hữu toàn dân được tăng cường, củng cố và định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Tính cơ bản của giải pháp này thể hiện ở chỗ, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trên cơ sở đa hình thức sở hữu là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, được duy trì trong suốt thời kỳ quá độ tiến l ên chủ nghĩa xã hội. Do vậy, kinh tế nhà nước mà nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước phải thường xuyên, liên tục giữ vững vai trò định hướng, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác. Để giải pháp này trở thành hoạt động thực tiễn, cần thực hiện các biện pháp cụ thể sau : - Kiên quyết thực hiện chủ trương cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê những doanh nghiệp nhà nước đã đưa vào kế hoạch.
  15. - Đẩy mạnh hơn nữa quá trình đổi mới cơ chế, chính sách đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp nhà nước, đồng thời, phân định rõ các loại hình doanh nghiệp công ích và ngoài công ích để áp dụng các cơ chế, chính sách phù hợp. - Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình sắp xếp, đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. 2. Tăng cường các biện pháp xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân ngày càng vững mạnh và trong sạch. Bất kỳ chế độ chính trị – xã hội nào đều cần có một nhà nước mạnh để quả lý kinh tế – xã hội. Đối với nước ta, Nhà nước là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, nhà nước đó mang bản chất giai cấp công nhân. C.Mác đã khẳng định: "Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính của giai cấp vô sản". Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị tr ường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều hình thức sở hữu, rõ ràng chúng ta cần có một nhà nước đủ mạnh để định hướng xã hội chủ nghĩa cho toàn bộ nền kinh tế. Một Nhà nước mạnh phải là nhà nước có trình độ và năng lực tổ chức quản lý tốt kinh tế – xã hội, đồng thời phải là một nhà nước trong sạch. Trên thực tế, bộ máy nhà nước của ta còn cồng kềnh, trình độ tổ chức, quản lý kinh tế – xã hội còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, nạn
  16. tham nhũng, tệ quan liêu còn tràn nan, đây thực sự là những vấn đề nhức nhối của đất nước. Vì vậy, tăng cường các biện pháp xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân ngày càng vững mạnh và trong sạch trở thành giải pháp quan trọng, nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nước ta, trong điều kiện đa dạng hoá hình thức sở hữu. Muốn vậy, theo chúng tôi, cần tiến hành một số biện pháp cơ bản sau : - Kiên quyết sắp xếp, tinh giảm hơn nữa bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương. - Xây dựng cơ chế và chính sách thích hợp nhằm đào tạo và tuyển lựa một đội ngũ cán bộ, công chức thực tài cho bộ máy nhà nước các cấp, có đủ trình độ và năng lực tổ chức, quản lý nền kinh tế đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. - Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và thực hiện cơ chế dân biết, dân làm, dân kiểm tra để hạn chế từng bước và tiến đến triệt tiêu nạn tham nhũng, tệ quan liêu trong bộ máy nhà nước. - Giữ vững và tăng cường hơn nữa bản chất giai cấp công nhân của bộ máy nhà nước, trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. 3. Từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp của nhà nước xã hội chủ nghĩa
  17. Mỗi một chế độ chính trị, xã hội khác nhau, có một hệ thống luật pháp riêng. Hệ thống luật pháp đó mang bản chất của giai cấp thống trị, phục vụ lợi ích kinh tế, chính trị của giai cấp sinh ra nó. Trong quá trình đổi mới toàn diện kinh tế xã hội của đất nước, tất yếu phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội mới. Đây là giải pháp vừa cấp bách vừa lâu dài. Bởi vì, trước đổi mới, hệ thống luật pháp của nước ta được xây dựng theo hướng bảo đảm hành lang pháp lý cho kinh tế quốc doanh và tập thể hoạt động sản xuất kinh doanh là chủ yếu. Ngày nay, hệ thống luật pháp phải đảm bảo hành lang pháp lý cho mọi thành phần kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng định h ướng xã hội chủ nghĩa. Với yêu cầu như vậy, cần tiến hành các biện pháp cụ thể sau: - Rà soát lại hệ thống luật pháp hiện có, một mặt, loại bỏ những luật ph áp không còn phù hợp, mặt khác, kịp thời ban hành, bổ sung những luật pháp mới cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội. - Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền pháp luật cho mọi người dân thuộc mọi thành phần kinh tế để họ tự giác chấp hành luật pháp, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. - Tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát việc thực thi luật pháp của mọi thành phần kinh tế, thưởng phạt phân minh, nhằm tăng hiệu lực của luật pháp, đồng thời, phát hiện những khiếm khuyết của hệ thống luật pháp, để sửa đổi bổ sung kịp thời.
  18. Các giải pháp trên, được tiến hành đồng bộ sẽ tạo thành sức mạnh tổng hợp, đưa nền kinh tế đa hình thức sở hữu của nước ta phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản