LỜI CẢM ƠN
Tác giả bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn PGS.TS Bùi
Văn Vịnh và PGS.TS Nguyễn Xuân Phú đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tác
giả trong thời gian qua.
Tác giả cảm ơn tập thể thầy cô trong bộ môn Kinh tế - khoa Kinh tế &
quản lý và khoa Đào tạo đại học & sau đại học đã tạo điều kiện giúp đỡ tác
giả trong thời gian học tập và làm luận văn.
Tác giả cũng xin cảm ơn Ban lãnh đạo Tập đoàn Sông Đà và cán bộ
chuyên viên của Tập đoàn Sông Đà nói chung và Ban Kế hoạch & Đầu tư Tập
đoàn nói riêng là nơi tác giả công tác đã động viên và tạo điều kiện về mọi
mặt để tác giả hoàn thành luận văn.
Hà Nội, tháng 9 năm 2012
Học viên
Vũ Thùy Chi
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, tài
liệu tham khảo và số liệu phân tích đưa ra trong luận văn này có trích dẫn
nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, tháng 9 năm 2012
Học viên
Vũ Thùy Chi
MỤC LỤC
Mục lục
Danh mục hình vẽ
Danh mục bảng biểu
Danh mục các từ viết tắt
Mở đầu
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
........................................................................................................................... 1
1.1. ĐẦU TƯ VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG ....................................... 1
1.1.1. Khái niệm về đầu tư và cơ hội đầu tư: ............................................ 1
1.1.2. Khái niệm về dự án đầu tư: ............................................................. 2
1.1.3. Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng: ............................................. 4
1.1.4. Nội dung dự án đầu tư và quyết định đầu tư: .................................. 4
1.2. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ ............. 7
1.2.1. Khái niệm về hiệu quả dự án đầu tư: .............................................. 7
1.2.2. Phân loại hiệu quả dự án đầu tư: ..................................................... 7
1.2.3. Các giai đoạn đánh giá hiệu quả dự án đầu tư: ............................. 13
1.3. HỆ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ .................. 14
1.3.1. Hệ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả dự án đầu tư nói chung: ................. 14
1.3.2. Hệ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư dự án đầu tư của cấp ngành
kinh tế quốc dân (Một Tập đoàn) ............................................................ 16
1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
CỦA TẬP ĐOÀN: ....................................................................................... 20
1.4.1. Nhân tố chiến lược định hướng đầu tư: ........................................ 20
1.4.2. Nhân tố luật pháp, cơ chế chính sách trong đầu tư: ...................... 21
1.4.3. Nhân tố quản lý quá trình chuẩn bị đầu tư: ................................... 21
1.4.4. Nhân tố quản lý quá trình thực hiện đầu tư: ................................. 22
1.4.5. Nhân tố quản lý quá trình vận hành khai thác dự án đầu tư: ........ 23
1.4.6. Nguồn thông tin và khả năng nắm bắt cơ hội đầu tư: ................... 24
1.4.7. Các nhân tố rủi ro và bất định: ...................................................... 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1: ........................................................................... 28
CHƯƠNG 2. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ
ĐẦU TƯ CỦA CÁC DỰ ÁN THUỘC TẬP ĐOÀN SÔNG ĐÀ .................. 29
2.1. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
CỦA TẬP ĐOÀN: ....................................................................................... 29
2.1.1. Sơ lược về Tập đoàn Sông Đà: ..................................................... 29
2.1.2. Hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn giai đoạn 2000-
2011: ........................................................................................................ 33
2.2. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA TẬP ĐOÀN SÔNG ĐÀ
GIAI ĐOẠN 2002-2011 ............................................................................. 38
2.2.1. Đánh giá đầu tư về mức vốn đầu tư .............................................. 38
2.2.2. Tình hình đầu tư theo cơ cấu đầu tư: ............................................ 40
2.3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA TẬP
ĐOÀN SÔNG ĐÀ GIAI ĐOẠN 2007-2011 ............................................... 45
2.4. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN CỦA TẬP ĐOÀN
SÔNG ĐÀ GIAI ĐOẠN 2007-2011 ........................................................... 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ............................................................................ 55
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ
CÁC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN CỦA TẬP ĐOÀN SÔNG ĐÀ ........................... 56
3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TẬP ĐOÀN SÔNG ĐÀ TỪ NAY
ĐẾN NĂM 2020 .......................................................................................... 56
3.1.1. Điều kiện thuận lợi và khó khăn cho hoạt động sản xuất của Tập
đoàn Sông Đà đến năm 2020 .................................................................. 56
3.1.2. Kế hoạch sản xuất kinh doanh của Tập đoàn giai đoạn (2011-
2015) ........................................................................................................ 57
3.1.3. Định hướng sản xuất kinh doanh của Tập đoàn đến năm 2020 .... 61
3.2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÁC DỰ
ÁN THỦY ĐIỆN THUỘC TẬP ĐOÀN SÔNG ĐÀ ................................... 62
3.2.1. Phân loại các biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư ....................... 62
3.2.2. Hoàn thiện môi trường đầu tư, phân cấp, định hướng đầu tư và
hoàn thiện bộ máy quản lý ...................................................................... 64
3.2.3. Các biện pháp tác động vào quy trình dự án ................................. 70
3.2.4. Các biện pháp khắc phục rủi ro trong đầu tư xây dựng ................ 78
3.3. ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU
TƯ VÀO DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SÊ SAN 3A CỦA TẬP ĐOÀN SÔNG ĐÀ
..................................................................................................................... 79
3.3.1. Tổng quan về dự án thủy điện Sê San 3A ..................................... 79
3.3.2. Thực trạng hoạt động đầu tư và vận hành của dự án thủy điện Sê
San 3A ..................................................................................................... 80
3.3.3. Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư vào dự án thủy
điện Sê San 3A ........................................................................................ 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 85
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Sơ đồ phân loại hiệu quả về mặt định tính........................................9
Hình 1.2: Sơ đồ phân loại hiệu quả về mặt định lượng...................................12
Hình 2.1: Mô hình tổ chức quản lý của Tập đoàn Sông Đà............................32
Hình 2.2: Tổng tài sản tăng thêm nhờ giá trị tài sản cố định tăng thêm giai
đoạn 2002-2011...............................................................................................36
Hình 2.3: Mức vốn đầu tư giai đoạn 2004-2011.............................................40
Hình 2.4: Tổng doanh thu giai đoạn 2007-2011 của Tập đoàn Sông Đà........47
Hình 2.5: Nộp nhà nước giai đoạn 2007-2011 của Tập đoàn Sông Đà..........47
Hình 2.6: Lợi nhuận trước thuế giai đoạn 2007-2011 của Tập đoàn Sông
Đà....................................................................................................................48
Hình 2.7: Sản lượng điện giai đoạn 2007-2011 của Tập đoàn Sông Đà........49
Hình 2.8: Giá trị, sản lượng điện giai đoạn 2007-2011 của Tập đoàn Sông
Đà....................................................................................................................49
Hình 2.9: Sơ đồ các nguyên nhân tác động đến hiệu quả các dự án thủy điện
của Tập đoàn Sông Đà.....................................................................................54
Hình 3.1: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư các dự án thủy điện của
Tập đoàn Sông Đà...........................................................................................64
Hình 3.2: Sơ đồ biện pháp hoàn thiện môi trường đầu tư, phân cấp, định
hướng đầu tư và hoàn thiện bộ máy quản lý...................................................70
Hình 3.3: Sơ đồ biện pháp ở chủ trương đầu tư..............................................72
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng tài sản tăng thêm nhờ Tài sản cố định tăng thêm hàng năm
của Tập đoàn Sông Đà.....................................................................................34
Bảng 2.2: Kết quả Sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Sông Đà năm 2011....37
Bảng 2.3: Mức Vốn đầu tư giai đoạn 2002-2011 của Tập đoàn Sông Đà.......38
Bảng 2.4: Bảng giá trị sản xuất điện năng so với giá trị sản xuất kinh doanh và
công nghiệp giai đoạn 2007-2011 của Tập đoàn Sông Đà..............................50
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á
Tỷ số thu chi BCR:
Hình thức đầu tư Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh BOT:
CHDCND: Cộng hòa dân chủ nhân dân
Coma: Tổng công ty Cơ khí Việt Nam
Tổng công ty Đầu tư Phát triển Xây dựng Dic:
Hợp đồng tổng thầu bao gồm: thiết kế (Engineering), cung cấp EPC:
thiết bị công nghệ (Procurement) và thi công xây dựng công trình
(Constrution)
EVN: Tập đoàn Điện lực Việt Nam
GDP: Tổng sản phẩm trong nước
IRR: Tỷ suất thu lợi nội tại
Licogi: Tổng công ty Xây dựng và Phát triển Hạ tầng
Lilama: Tổng công ty Lắp máy Việt Nam
MBA: Thạc sỹ quản trị kinh doanh (Master of Business Administration)
NAV: Hiệu số thu chi san đều hàng năm
NFV: Hiệu số thu chi quy về tương lai
NPV: Hiệu số thu chi quy về hiện tại
Sông Hồng: Tổng công ty Xây dựng Sông Hồng
TCT: Tổng công ty
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
TKS: Tổng công ty Khoáng sản
VNIC: Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam
WTO: Tổ chức thương mại Thể giới
XD: Xây dựng
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Năng lượng điện từ nhà máy thủy điện là một dạng năng lượng tái sinh,
năng lượng sạch vì không thải các khí có hại cho môi trường như các nhà máy
điện khác. Hiện nay, gần 18% năng lượng điện trên toàn thế giới được sản
xuất từ các nhà máy thủy điện. Tại Việt Nam vai trò của nhà máy thủy điện là
rất quan trọng.
Theo quy hoạch phát triển thuỷ điện cả nước đến năm 2015 có xét đến
năm 2025 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, công suất lắp đặt các nhà
máy thuỷ điện đến năm 2015 vào khoảng hơn 18.000 MW với sản lượng điện
trung bình hằng năm trên 80 tỷ kWh. Chính phủ chủ trương khuyến khích mọi
thành phần kinh tế tham gia xây dựng các nhà máy thuỷ điện và đã có các cơ
chế đặc biệt quy định cụ thể tại báo Nghị định797, 400 và 1.195 của Thủ tướng
Chính phủ, giúp tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho các nhà đầu tư đảm
bảo tiến độ xây dựng các công trình, kịp thời phát huy giá trị vốn đầu tư và cung
cấp điện năng cho nền kinh tế - xã hội hiện đang mất, cân đối nghiêm trọng giữa
cầu và cung.
Nắm bắt được nhu cầu điện của đất nước, Tổng công ty Sông Đà (nay là
Tập đoàn Sông Đà) cũng tham gia đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng rất
nhiều dự án thủy điện vừa và nhỏ (Nhà máy thủy điện Thác Trắng, Nậm Mu,
Nậm Ngần, SêSan 3A, …). Hàng năm các nhà máy của Tập đoàn hòa lên điện
lưới quốc gia một lượng điện đáng kể góp phần giảm sự mất cân đối nghiêm
trọng giữa cung - cầu dùng điện trong nước.
Hoạt động đầu tư các dự án thủy điện tại Tập đoàn Sông Đà đã đạt được
nhiều thành tựu. Tuy nhiên, việc đánh giá hiệu quả sau đầu tư chưa được các
cấp lãnh đạo quan tâm đầy đủ. Qua quá trình khảo sát tình hình đầu tư các dự
án thủy điện của Tập đoàn Sông Đà cho thấy, hiệu quả của một số dự án chưa
cao, chưa tổ chức nghiên cứu để tổng kết những vấn đề làm suy giảm hiệu
quả đầu tư của các dự án cũng như đề xuất các giải pháp khắc phục. Việc
nghiên cứu các giải pháp đồng bộ, có căn cứ khoa học để nâng cao hiệu quả
đầu tư chưa được đề xuất kịp thời.
Vì vậy vấn đề rà soát lại các dự án đầu tư các dự án thủy điện của Tập
đoàn Sông Đà để đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư là rất
quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư cho doanh nghiệp trong nền
kinh tế hiện nay. Do đó tác giả đã lựa chọn đề tài “Thực trạng đầu tư và
biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư các dự án thủy điện của Tập đoàn
Sông Đà” - sẽ tiến hành rà soát lại tình hình đầu tư các dự án nói chung và dự
thủy điện nói riêng, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
đầu tư các dự án của Tập đoàn Sông Đà.
2. MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a. Mục tiêu của đề tài
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá thực trạng đầu tư vào các dự án thủy điện
của Tập đoàn Sông Đà và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư các
dự án đó.
- Mục tiêu cụ thể: Rà soát các văn bản pháp qui về quản lý dự án đầu tư
xây dựng công trình và thực trạng đầu tư của Tập đoàn Sông Đà để đề xuất
biện pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quản lý và thực hiện các dự án
đầu tư xây dựng công trình thủy điện.
b. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu giải quyết các vấn đề liên quan đến quá trình
đầu tư và hiệu quả đầu tư của các dự án thủy điện của Tập đoàn Sông Đà
trong giai đoạn 2001-2011.
3. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
a. Cơ sở khoa học
- Các văn bản qui phạm pháp luật của nhà nước: các văn bản luật hiện
hành (luật Đầu tư, luật Đấu thầu, luật Xây dựng) và các thông tư, nghị định
hướng dẫn luật.
- Đánh giá thực tế hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình thủy điện
của Tập đoàn Sông Đà giai đoạn hiện nay.
- Lý thuyết về quản lý dự án, quản lý dự án đầu tư, hiệu quả đầu tư xây dựng
công trình.
b. Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát khoa học,
phương pháp thống kê, Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm,
phương pháp chuyên gia;
- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phương pháp phân tích và tổng
hợp lý thuyết, phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết, mô hình hóa,
phương pháp giả thuyết, phương pháp lịch sử;
1
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1. ĐẦU TƯ VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1.1.1. Khái niệm về đầu tư và cơ hội đầu tư:
1.1.1.1. Khái niệm về đầu tư:
Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về đầu tư phụ thuộc vào các quan
niệm, mỗi cách diễn đạt có ý nghĩa và phạm vi ứng dụng khác nhau như:
Theo nghĩa rộng, đầu tư được hiểu là quá trình bỏ vốn (tiền, nguồn lực, -
công nghệ) để đạt được một mục tiêu hoặc một số mục tiêu nhất định.
- Đầu tư đó là quá trình bỏ vốn để tạo nên cũng như để khai thác sử dụng
một tài sản nào đó (có thể dưới dạng cơ sở vật chất như nhà xưởng, máy móc,
hoặc là dưới dạng tài chính như: cổ phiếu, trái phiếu, các chứng từ có giá trị
vay vốn,…), và các tài sản này có đặc tính là có thể sinh lợi dần hay thỏa mãn
dần mọi nhu cầu nhất định nào đó cho người bỏ vốn trong một thời gian nhất
định trong tương lai.
- Đầu tư là sử dụng vốn để tạo nên các nhân tố sản xuất, đặc biệt là các tư
liệu sản xuất như nhà xưởng, máy móc và vật tư, cũng như để mua cổ phiếu, trái
phiếu hoặc cho vay lấy lãi, mà ở đây những chủ trương đầu tư này có thể sinh lợi
nhuận cũng như toàn xã hội trong một thời gian nhất định trong tương lai.
- Đầu tư là sử dụng vốn nhằm tạo nên các dự trữ và tiềm năng về tài sản
để sinh lợi dần theo thời gian trong tương lai.
- Đầu tư là chuỗi hành động chi cho một chủ trương kinh doanh nào đó, và
ngược lại chủ đầu tư sẽ nhận được một chuỗi các khoản doanh thu để đảm
bảo hoàn vốn và có lãi một cách thỏa đáng.
- Đầu tư là quản lý sử dụng tài sản một cách hợp lý, nhất là về mặt cơ cấu
của tài sản để sinh lợi.
2
- Đầu tư là sử dụng các khoản tiền tích lũy được của xã hội, của các cơ sở
sản xuất - kinh doanh và dịch vụ, tiền tiết kiệm của dân vào việc tái sản xuất
của xã hội nhằm tạo ra các tiềm lực lớn hơn về mọi mặt của đời sống kinh tế
xã hội.
- Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô
hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của
Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan (Theo Luật đầu
tư của Quốc hội số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005).
1.1.1.2. Cơ hội đầu tư:
Cơ hội đầu tư được hiểu là xuất phát điểm của các ý tưởng đầu tư
được hình thành bởi các nhà sáng kiến dự án. Cơ hội đầu tư được phân biệt
theo 2 loại:
Cơ hội đầu tư chung (cơ hội đầu tư vĩ mô): Cơ hội đầu tư chung được -
hiểu là những ý tưởng đầu tư được hình thành xuất phát từ các chiến lược, chủ
trương chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước.
Cơ hội đầu tư riêng (cơ hội đầu tư vi mô): Cơ hội đầu tư riêng được -
biểu hiện là những ý tưởng đầu tư xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển
sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp cụ thể.
1.1.2. Khái niệm về dự án đầu tư:
Dự án đầu tư là tế bào cơ bản của hoạt động đầu tư. Đó là tập hợp các
biện pháp có căn cứ khoa học và cơ sở pháp lý được đề xuất về các mặt kĩ
thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất, tài chính, kinh tế và xã hội để làm cơ sở cho
việc quyết định bỏ vốn đầu tư với hiệu quả tài chính đem lại cho doanh nghiệp
và hiệu quả kinh tế - xã hội đem lại cho quốc gia và xã hội nhất có thể được.
Một số định nghĩa khác:
- Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây
dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích
3
phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ
trong thời hạn nhất định (Theo Luật Xây dựng số 16/2003).
- Dự án đầu tư là một tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn
bộ công việc nhằm đạt được muc tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian
nhất định dựa trên nguồn vốn xác đinh. (Theo Luật Đấu thầu số 61/2005).
- Dự án đầu tư là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài
nguyên hữu hạn sẵn có để tạo ra những lợi ích thiết thực cho nhà đầu tư và
cho xã hội.
Dự án đầu tư có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Xét trên tổng thể chung của quá trình đầu tư: dự án đầu tư có thể được
hiểu như là kế hoạch chi tiết triển khai các hoạt động đầu tư nhằm đạt được
mục tiêu đã đề trong khoảng thời gian nhất định, hay đó là một công trình cụ
thể thực hiện các hoạt động đầu tư.
- Xét về mặt hình thức: dự án đầu tư là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày
một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo kế hoạch để đạt
được những kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai..
- Xét trên góc độ quản lý: dự án đầu tư là một công cụ hoạch định về việc
sử dụng vốn, vật tư, lao động nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm mới cho
xã hội.
- Xét trên góc độ kế hoạch hóa: dự án đầu tư là kế hoạch chi tiết để thực
hiện chương trình đầu tư nhằm phát triển kinh tế xã hội làm căn cứ cho việc
ra quyết định đầu tư và sử dụng vốn đầu tư.
- Xét trên góc độ phân công lao động xã hội: dự án đầu tư thể hiện sự
phân công, bố trí lực lượng lao động xã hội nhằm giải quyết mối quan hệ giữa
các chủ thể kinh tế khác nhau với xã hội trên cơ sở khai thác các yếu tố tự
nhiên.
4
- Xét về mặt nội dung: dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động cụ thể,
có mối liên hệ biện chứng, nhân quả với nhau để đạt được mục đích nhất định
trong tương lai.
1.1.3. Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng:
- Dự án đầu tư xây dựng được hiểu là các dự án đầu tư cho các đối tượng
vật chất, mà đối tượng vật chất này là các công trình xây dựng.
- Dự án đầu tư xây dựng, xét về mặt hình thức là tập hợp các hồ sơ, bản vẽ
kiến trúc, thiết kế kỹ thuật, tổ chức thi công công trình xây dựng và các tài
liệu liên quan khác.
- Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến
việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây
dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc
sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Dự án đầu tư xây dựng công
trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở (Theo Luật Xây dựng
số 16/2003 ngày 26/11/2003).
Như vậy có thể hiểu dự án đầu tư xây dựng bao gồm hai nội dung là đầu
tư và hoạt động xây dựng. Nhưng do đặc điểm của các dự án xây dựng bao
giờ cũng yêu cầu có một diện tích nhất định, ở một địa điểm nhất định do đó
có thể biểu diễn dự án xây dựng công trình như sau:
DỰ ÁN
CÔNG TRÌNH
= KẾ HOẠCH + TIỀN + THỜI GIAN + ĐẤT
XÂY DỰNG
XÂY DỰNG
1.1.4. Nội dung dự án đầu tư và quyết định đầu tư:
1.1.4.1. Nội dung dự án đầu tư:
a) Nội dung của báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (Lập báo cáo đầu tư):
1. Nghiên cứu về sự cần thiết của phải đầu tư, các thuận lợi và khó khăn;
5
2. Dự kiến qui mô đầu tư, hình thức đầu tư;
3. Chọn khu vực địa điểm xây dựng và dự kiến nhu cầu diện tích sử dụng
đất, ảnh hưởng về môi trường, xã hội về môi trường, xã hội và nhu cầu di dân
tái định cư (có phân tích đánh giá cụ thể);
4. Phân tích lựa chọn sơ bộ về công nghệ, kỹ thuật bao gồm các điều
kiện khả năng cung ứng vật tư thiết bị, nguyên liệu, năng lượng, dịch vụ hạ
tầng;
5. Phân tích, lựa chọn sơ bộ phương án xây dựng;
6. Xác định sơ bộ tổng mức đầu tư, phương án huy động vốn, khả năng
hoàn trả vốn;
7. Tính toán sơ bộ hiệu quả đầu tư về mặt kinh tế và xã hội
b) Nội dung của báo cáo nghiên cứu khả thi (Lập dự án đầu tư):
1. Những căn cứ, sự cần thiết phải đầu tư;
2. Lựa chọn hình thức đầu tư;
3. Lập chương trình sản xuất và các yếu tố phải đáp ứng (đối với các dự
án có sản xuất);
4. Các phương án địa điểm cụ thể;
5. Phương án giải phóng mặt bằng, kế hoạch di dời dân (nếu có);
6. Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ;
7. Các phương án kiến trúc, giải pháp xây dựng, thiết kế sơ bộ của các
phương án đề nghị lựa chọn, giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường;
8. Xác định rõ nguồn gốc, khả năng tài chính, tổng mức đầu tư, nhu cầu
vốn theo tiến độ;
9. Phương án quản lý khai thác dự án và sử dụng lao động;
10. Phân tích hiệu quả đầu tư;
11. Các mốc thời gian thực hiện;
12. Hình thức quản lý dự án và lựa chọn hình thức quản lý;
6
13. Khẳng định chủ đầu tư và trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức có
liên quan.
1.1.4.2. Nội dung quyết định đầu tư:
Nội dung quyết định đầu tư bao gồm:
1. Mục tiêu đầu tư;
2. Xác định chủ đầu tư;
3. Hình thức quản lý dự án;
4. Địa điểm, diện tích đất sử dụng, phương án bảo vệ môi trường và kế
hoạch tái định cư và phục hồi (nếu có);
5. Công nghệ, công suất thiết kế, phương án kiến trúc, tiêu chuẩn kỹ
thuật và cấp công trình;
6. Chế độ khai thác và sử dụng tài nguyên quốc gia (nếu có);
7. Tổng mức đầu tư;
8. Nguồn vốn đầu tư, khả năng tài chính và kế hoạch vốn của dự án;
9. Các ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước mà dự án đầu tư có thể được hưởng
theo quy chế chung;
10. Phương thức thực hiện dự án. Nguyên tắc phân chia gói thầu và hình
thức lựa chọn nhà thầu. Dự án nhóm C phải lập ngay kế hoạch đấu thầu, dự
án nhóm A, B có thể lập kế hoạch đấu thầu sau khi có quyết định đầu tư.
11. Thời gian xây dựng và các mốc tiến độ triển khai chính của dự án.
Thời gian khởi công (chậm nhất), thời hạn hoàn thành đưa công trình vào khai
thác sử dụng (chậm nhất);
12. Mối quan hệ và trách nhiệm các Bộ, ngành, địa phương có liên quan
(nếu có). Hiệu lực thi hành.
7
1.2. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.2.1. Khái niệm về hiệu quả dự án đầu tư:
Hiệu quả dự án đầu tư là phạm trù thể hiện tương quan giữa kết quả mà
dự án mang lại so với chi phí bỏ ra cho dự án đó. Hiệu quả đó có thể được thể
hiện qua các chỉ tiêu đánh giá có tính chất định tính và định lượng.
Hiệu quả của dự án đầu tư là toàn bộ mục tiêu đề ra của dự án, được đặc
trưng bằng các chỉ tiêu định tính (thể hiện ở các loại hiệu quả đạt được) và
bằng các chỉ tiêu định lượng (thể hiện quan hệ chi phí đã bỏ ra của dự án và
các kết quả đạt được theo mục tiêu của dự án)
1.2.2. Phân loại hiệu quả dự án đầu tư:
1.2.2.1. Phân loại hiệu quả về mặt định tính:
a. Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội, hiệu quả có thế phân thành:
- Hiệu quả tài chính: mức tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, tăng mức thu
ngân sách cho Nhà nước, đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế quốc dân,…
- Hiệu quả kỹ thuật và công nghệ, ví dụ việc đầu tư xây dựng để sản xuất
các thiết bị tin học sẽ góp phần đấy mạnh tiến bộ khoa học và công nghệ cho
các ngành kinh tế quốc dân khác,….
- Hiệu quả xã hội và môi trường, ví dụ dự án đầu tư có thể góp phần nâng
cao mức sống của nhân dân, giải quyết nạn thất nghiệp, tăng cường giáo dục
và y tế,…
- Hiệu quả quốc phòng, ví dụ các dự án thuộc lĩnh vực quốc phòng, hoặc
dự án đầu tư vừa có thể phục vụ phát triển kinh tế trong thời bình lại vừa có
thể sử dụng trong thời chiến,….
b. Theo quan điểm lợi ích, hiệu quả được phân thành:
Hiệu quả trực tiếp của doanh nghiệp chủ đầu tư (hiệu quả tài chính), hiệu
quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và toàn xã hội (hiệu quả kinh tế xã hội)
c. Theo phạm vi tác động, hiệu quả được phân thành:
8
- Hiệu quả cục bộ, vi mô: thể hiện lợi ích của một bộ phận nào đó nằm
trong quốc gia hay cộng đồng, hoặc của một đơn vị nào đó trong doanh nghiệp.
- Hiệu quả toàn cục, vĩ mô: thể hiện lợi ích chung của một quốc gia, một
cộng đồng. Nếu xét theo giác ngộ doanh nghiệp thì đó là hiệu quả toàn
doanh nghiệp.
- Hiệu quả cục bộ và hiệu quả toàn cục có thể thống nhất nhưng cũng có
thể mâu thuẫn với nhau. Ở đây cần có sự quản lý của Nhà nước để điều hòa
các mâu thuẫn này.
d. Theo thời gian tác động, hiệu quả được phân thành:
- Hiệu quả trước mắt, ngắn hạn, thể hiện sự đáp ứng lợi ích trước mắt của
các doanh nghiệp và cộng đồng.
- Hiệu quả sau này, dài hạn, thể hiện sự đáp ứng lợi ích lâu dài của các
quốc gia, doanh nghiệp và cộng đồng.
e. Theo mức độ phát sinh trực tiếp hay gián tiếp, hiệu quả được phân thành:
- Hiệu quả phát sinh trực tiếp từ các dự án đầu tư.
- Hiệu quả phát sinh gián tiếp kéo theo ở các lĩnh vực lân cận đối với từ
các dự án đầu tư và do dự án đầu tư đem lại.
Phân loại hiệu quả về mặt định tính có thể biểu diễn ở sơ đồ hình 2.1.
Hình 1.1: Sơ đồ phân loại hiệu quả về mặt định tính
Hiệu quả kinh tế
Theo lĩnh vực
Hiệu quả kỹ thuật
hoạt động
Hiệu quả xã hội & môi trường
Hiệu quả quốc phòng
Lợi ích của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và toàn xã hội
Theo quan
PHÂN LOẠI
điểm lợi ích
Lợi ích của doanh nghiệp
HIỆU QUẢ
VỀ MẶT
Hiệu quả toàn cục
Theo phạm vi
ĐỊNH TÍNH
Hiệu quả cục bộ
Theo thời gian
Hiệu quả ngắn hạn
Hiệu quả dài hạn
Theo mức độ
Phát sinh trực tiếp từ dự án
trực tiếp phát
Phát sinh gián tiếp kéo theo ở các ngành lân cận
sinh
1.2.2.2. Phân loại về mặt định lượng:
a. Theo phương pháp tính toán, hiệu quả được phân thành:
- Hiệu quả tính theo số tuyệt đối như: lợi nhuận hàng năm, tổng mức đóng
góp cho ngân sách hàng năm của dự án, hiệu số thu chi (NPV, NAV,…),…
- Hiệu quả tính theo số tương đối như các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận, suất
thu lợi nội tại (IRR), tỷ số thu chi (BCR),…
b. Theo thời đoạn tính toán, hiệu quả được phân thành:
- Hiệu quả tính cho một thời đoạn niên lịch (thường là năm) như: Lợi
nhuận hàng năm, hiệu số thu chi san đều hàng năm (NAV),…
- Hiệu quả tính cho cả đời dự án như: Hiện giá của hiệu số thu chi (NPV),
giá trị tương lai (NFV), suất thu lợi nội tại (IRR),…
c. Theo mức đạt yêu cầu của hiệu quả, hiệu quả được phân thành:
- Hiệu quả đạt mức yêu cầu (còn gọi là đạt hiệu quả, dự án đáng giá);
- Hiệu quả tối thiểu chấp nhận được (còn gọi là hiệu quả định mức,
ngưỡng của hiệu quả);
- Hiệu quả lớn nhất trong các phương án (có thể đạt hay không đạt yêu cầu
hiệu quả);
- Hiệu quả bé nhất trong các phương án (có thể đạt hay không đạt yêu cầu
hiệu quả).
d. Theo khả năng có thể tính toán thành số lượng, hiệu quả được phân
thành:
- Hiệu quả có thể tính toán được, ví dụ như lợi nhuận, mức đóng góp ngân
sách,…
- Hiệu quả khó tính toán biểu hiện thành số lượng được, ví dụ hiệu quả xã
hội về thẩm mỹ của các công trình xây dựng của các dự án đầu tư, một số
hiệu quả của đầu tư cho giáo dục, y tế,…
11
Thực ra cách phân loại ở điểm cuối này có thể liệt vào phân loại hiệu quả
theo định tính. Phân loại hiệu quả về mặt định lượng được thể biểu diễn ở sơ
đồ 1.1.
Hình 1.2: Sơ đồ phân loại hiệu quả về mặt định lượng
Theo
Tính theo số tuyệt đối
phương
pháp tính
Tính theo số tương đối
toán
Tính cho một thời đoạn niên lịch (năm)
PHÂN LOẠI
HIỆU QUẢ VỀ
Theo thời
Tính cho cả đời dự án
MẶT ĐỊNH
gian tính
LƯỢNG
Hiệu quả đạt mức yêu cầu
toán
Hiệu quả tối thiểu chấp nhận được
Theo mức
Hiệu quả lớn nhất trong các phương án
đạt yêu cầu
Hiệu quả bé nhất trong các phương án
của hiệu quả
1.2.3. Các giai đoạn đánh giá hiệu quả dự án đầu tư:
- Đánh giá hiệu quả dự án trong giai đoạn lập dự án: Trên cơ sở các thông
tin, dự báo về nhu cầu, các điều kiện thuận lợi, khó khăn, khả năng đáp ứng
cho dự án cả về kỹ thuật và kinh tế để đề xuất các phương án đầu tư, từ đólựa
chọn phương án đầu tư tốt nhất, đảm bảo đầu tư đúng hướng cũng như đảm
bảo độ tin cậy cho hiệu quả của dự án trong tương lai.
- Đánh giá dự án trong quá trình vận hành khai thác dự án đầu tư: Đánh
giá hiệu quả dự án ở giai đoạn này bao gồm việc đánh giá lại các khía cạnh kỹ
thuật, thể chế, tài chính và kinh tế của dự án. Mục tiêu là khẳng định xem dự
án trên thực tế đã làm phát sinh ra chi phí và mang lại lợi ích gì và so sánh
chúng với những giả định đề ra ban đầu tại bước thẩm định dự án. Đồng thời
các yếu tố tạo ra sự khác biệt giữa các con số thực tế và dự kiến ấy đều phải
được xem xét và giải thích rõ. Mục đích là để tránh đến mức tối đa những sai
lầm tương tự trong những năm còn lại của dự án. Những yếu tố nào cần tác
động để dự án đang xét hoạt động tốt hơn đều phải làm ngay. Các chỉ tiêu
được tính ở giai đoạn này là các chỉ tiêu lợi nhuận, chỉ tiêu sinh lời của vốn
đầu tư cho từng năm hoạt động của dự án và chỉ tiêu điểm hòa vốn.
- Đánh giá khi dự án kết thúc: đánh giá hiệu quả dự án ở giai đoạn này
nhằm xác định mức độ mục tiêu dự án đạt được, phân tích các kết quả của dự
án, đánh giá những tác động có thể có của các kết quả để từ đó rút ra các bài
học, đề xuất các hoạt động tiếp theo hoặc triển khai những phần việc sau
trong tương lai. Các chỉ tiêu được tính ở giai đoạn này là các chỉ tiêu đã trình
bày ở trên. Đánh giá sau dự án được tiến hành khi dự án đã hoàn thành được
một thời gian (đánh giá tác động của dự án). Mục tiêu của đánh giá sau dự án
là xác định mức độ ảnh hưởng lâu dài của các kết quả dự án đến đời sống
kinh tế, chính trị, xã hội của những người hưởng lợi từ dự án cũng như đối
tượng khác.
14
1.3. HỆ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.3.1. Hệ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả dự án đầu tư nói chung:
1.3.1.1. Nhóm chỉ tiêu hiệu quả tài chính và kinh tế - xã hội, gồm:
a. Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính:
Các chỉ tiêu này đóng vai trò các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh lợi
ích trực tiếp của các doanh nghiệp, bao gồm các chỉ tiêu lợi nhuận một sản
phẩm, mức doanh lợi trên một đồng vốn, thời hạn thu hồi vốn, hiệu số thu chi
(NPV), suất thu lợi nội tại, tỷ số thu chi (BCR),…
Khi quyết định phương án đầu tư, chủ đầu tư chỉ dùng một trong các chỉ
tiêu trên, các chỉ tiêu còn lại dùng để tham khảo thêm.
b. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội:
Các chỉ tiêu này phản ánh lợi ích toàn bộ nề kinh tế quốc dân và của toàn
xã hội, như mức đóng góp hàng năm cho ngân sách Nhà nước của dự án, giải
quyết thất nghiệp, bảo vệ môi trường,…
1.3.1.2. Nhóm chỉ tiêu về công năng (giá trị sử dụng) và trình độ kỹ thuật:
a. Các chỉ tiêu về công năng, bao gồm:
- Với phần máy móc, thiết bị, đó là các chỉ tiêu công suất, tuổi thọ, độ tin
cậy, tính chống xâm thực của môi trường, mức nhiệt đới hóa, tính bảo tồn, chất
lượng và chung loại sản phẩm, tính đa năng và chuyên dùng, chế độ vận hành
theo thời gian và tải trọng, tính công nghệ, phạm vi áp dụng,… của máy móc.
- Với phần xây dựng, đó là các chỉ tiêu: Các hệ số đánh giá giải pháp hình
khối và mặt bằng của công trình, tổng diện tích sàn và diện tích xây dựng, các
chỉ tiêu về vật lý kiến trúc, cấp công trình, về độ bền và độ chịu lửa, tuổi thọ
công trình, độ ổn định, sự phù hợp với dây chuyền công nghệ, tính đa năng và dễ
thay đổi của mặt bằng công trình, tính công nghệ của các giải pháp xây dựng.
b. Các chỉ tiêu về trình độ kỹ thuật:
15
- Với phần dây chuyền công nghệ đó là các chỉ tiêu: Mức cơ giới hóa, tự
động hóa, hệ số sử dụng nguyên liệu xuất phát, độ lâu chu kỳ công nghệ, mức
nhiệt đới hóa, tỷ lệ phần giá trị máy móc so với tổng giá trị xây dựng công
trình, thế hệ kỹ thuật,…
- Với phần kiến trúc xây dựng, đó là các chỉ tiêu: Mức áp dụng cho các
loại vật liệu và kết cấu xây dựng hiện đại, khả năng áp dụng các giải pháp
công nghệ xây dựng hiện đại,…
1.3.1.3. Nhóm chỉ tiêu về mức tiện nghi xã hội:
Các chỉ tiêu về điều kiện vệ sinh trong lao động như: áng sáng, thông -
gió, nhiệt độ, độ ẩm, áp suất, trừ trường, độ bụi, độ phóng xạ, độ thải chất độc
hại, âm thanh, rung động,…
Các chỉ tiêu về nhân trắc, biểu hiện sự phù hợp của kích thước con người -
đối với máy móc công trình.
Các chỉ tiêu về tâm lý và sinh lý. -
Các chỉ tiêu về an toàn kỹ thuật và an toàn lao động như: trình độ áp -
dụng các biện pháp bảo đảm an toàn về chống cháy nổ, chống tai nạn lao
động, chống động đất, thiên tai, tính vững chắc của máy móc, công trình,…
Các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường. -
Với khâu xây dựng, đó là các chỉ tiêu về bảo vệ đất đai, rừng cây, các
công trình hiện có xung quanh, hoa màu, đường sá và mức độ ô nhiễm môi
trường do thi công xây dựng gây nên.
Với khâu khai thác và vân hành đó là các chỉ tiêu về mức thải các chất
độc hại của công trình là hư hại mùa màng, sức khỏe và tài nguyên thiên
nhiên.
Các chỉ tiêu về thẩm mỹ công nghiệp và kiến trúc -
Các chỉ tiêu có liên quan đến quốc phòng. -
16
1.3.2. Hệ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư dự án đầu tư của cấp ngành
kinh tế quốc dân (Một Tập đoàn)
Một Tập đoàn bao gồm nhiều doanh nghiệp và mỗi doanh nghiệp lại đầu
tư nhiều dự án với nội dung đầu tư khác nhau (xây dựng mới, cải tạo mở
rộng, đầu tư chiều sâu), được đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong kỳ
nghiên cứu, Tập đoàn sẽ có cả 3 loại dự án: Dự án đang ở trong giai đoạn thực
hiện đầu tư; dự án đang tiến hành sản xuất – kinh doanh, dự án đã kết thúc.
Như vậy dự án đầu tư của một Tập đoàn rất đa đạng và không thể có một tiêu
chuẩn chung để đánh giá tất cả dự án, nên việc đánh giá hiệu quả đầu tư của
một Tập đoàn là rất phức tạp. Để đơn giản hóa, người ta đánh giá hiệu quả các
dự án của một Tập đoàn thông qua đánh giá hiệu quả đầu tư tại Tập đoàn đó,
bởi vì “mọi chương trình đầu tư của Chính phủ hay tư nhân đều được cụ thể
hóa bằng các dự án, do đó khái niệm đầu tư cũng gắn liền với dự án đầu tư”.
Để tính được hiệu quả đầu tư của một Tập đoàn, trước hết phải tính được
kết quả đầu tư của Tập đoàn đó.
1.3.2.1. Kết quả của hoạt động đầu tư:
Kết quả của hoạt động đầu tư được thể hiện ở khối lượng vốn đầu tư đã
thực hiện, ở các tài sản cố định được huy động hoặc năng lực sản xuất dịch vụ
tăng thêm.
a. Khối lượng vốn đầu tư thực hiện: Khối lượng vốn đầu tư thực hiện là
toàn bộ số tiền đã bỏ ra để tiến hành các hoạt động đầu tư bao gồm các chi phí
cho công tác chuẩn bị đầu tư, xây dựng nhà cửa và các cấu trúc hạ tầng, mua
sắm máy móc thiết bị và các chi phí khác theo quy định của thiết kế dự toán
và được ghi trong dự án đầu tư được duyệt.
17
[Tổng mức vốn [Khối lượng công tác xây lắp hoặc [ Đơn giá
= đầu tư thực hiện thiết bị đã hoàn thành được nghiệm x tổng hợp
trong kỳ] thu theo quy định thiết kế loại i] loại i]
Khối lượng công tác xây lắp hoặc thiết bị hoàn thành phải đạt được các
tiêu chuẩn sau:
Các khối lượng này phải có thiết kế dự toán đã được phê chuẩn phù hợp -
với tiến độ thi công đã được duyệt.
- Đã cấu tạo vào thực thể công trình (phần xây lắp), đã lắp đặt vào công
trình (phần thiết bị cần lắp đặt).
- Đã đảm bảo chất lượng theo quy định của thiết kế.
- Đã hoàn thành đến giai đoạn quy ước được ghi trong tiến độ thực hiện
đầu tư.
- Được ngân hàng chấp thuận thanh toán.
Đơn giá tổng hợp bao gồm chi phí vật liệu, tiền lương chính của công
nhân xây dựng, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí chung, lãi và thuế tính
cho một đơn vị khối lượng công tác xây lắp loại I (đơn vị thiết bị loại i), i = 1
÷ n.
Chỉ tiêu phải tính ở đây là:
Vốn đầu tư thực hiện trong kỳ
Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện trong kỳ =
Tổng vốn đầu tư
Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện phản ánh tỷ trọng vốn đã thực hiện hay thực
tế sử dụng để đầu tư trong tổng vốn đầu tư. Tỷ lệ này cho biết sau khi có giấy
phép đầu tư, các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn có tích cực triển khai các dự
án hay không.
b. Tài sản cố định huy động vốn và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm.
18
Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình, đối -
tượng xây dựng, thiết bị có khả năng phát huy tác dụng độc lập và hiện giờ đã
kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm, đã làm xong thủ tục nghiệm thu sử
dụng, có thể đưa vào hoạt động được ngay.
- Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản
xuất phục vụ các tài sản cố định được huy động vào sử dụng để sản xuất ra
sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ theo quy định được ghi trong
dự án đầu tư.
Các tài sản cố định được huy động là sản phẩm cuối cùng của các công
cuộc đầu tư, chúng có thể được biểu hiện bằng tiền hoặc bằng hiện vật như
số lượng nhà máy, trường học, cửa hàng,… Năng lực sản xuất phục vụ tăng
thêm chính là công suất hoặc năng lực phát huy của các tài sản cố định được
huy động.
Để tính giá trị các tài sản cố định được huy động trong kỳ nghiên cứu, áp
dụng công thức:
F = I vb + Ivr – C - Ivc
Trong đó:
F: Giá trị các tài sản cố định được huy động trong kỳ;
Ivb: Vốn đầu tư được thực hiện ở kỳ trước chưa được huy động chuyển
sang kỳ nghiên cứu (xây dựng dở dang đầu kỳ);
Ivr: Vốn đầu tư được thực hiện ở kỳ nghiên cứu;
C: Chi phí trong kỳ không làm tăng giá trị tài sản cố định;
Ivc: Vốn đầu tư được thực hiện trong kỳ nghiên cứu nhưng chưa được
huy động, chuyển sang kỳ sau (xây dựng dở dang cuối kỳ).
- Một số chỉ tiêu khác:
+ Chỉ tiêu “hệ số huy động tài sản cố định”’
+ Chỉ tiêu đánh giá thời gian thi công, sớm đưa công trình vào sử dụng.
19
+ Chỉ tiêu “suất đầu tư tính cho một đơn vị tài sản cố định huy động”.
1.3.2.2. Hiệu quả của hoạt động đầu tư:
Hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư:
Do các kết quả của hoạt động đầu tư tại một Tập đoàn rất đa dạng, các
kết quả này có thể là lợi nhuận tăng thêm, doanh thu tăng thêm, mức tăng
năng suất lao động, số lao động có việc làm do hoạt động đầu tư mang lại,
mức tăng thu nhập cho người lao động,… do đó để phản ánh hiệu quả tài
chính của hoạt động đầu tư, người ta phải sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu.
Mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh của hiệu quả và được sử dụng trong
những điều kiện nhất định.
Chỉ tiêu tổng lợi nhuận trong kỳ. -
- Nhóm chỉ tiêu “lợi nhuận/vốn đầu tư”.
+ Chỉ tiêu “tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư”.
+ Chỉ tiêu “khả năng sinh lời của một đơn vị tài sản cố định tăng thêm”.
- Nhóm chỉ tiêu “doanh thu/vốn đầu tư phát huy tác dụng”.
+ Hệ số “doanh thu/vốn đầu tư phát huy tác dụng”
+ Chỉ tiêu “khả năng tạo doanh thu của một đơn vị tài sản cố định tăng
thêm”.
+ Hệ số “doanh thu/vốn đầu tư thực hiện”
Hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư:
- Giá trị sản phẩm hàng hóa gia tăng.
- Mức đóng góp cho Ngân sách Nhà nước của Tập đoàn (thuế, lệ phí).
Tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế khác. -
- Mức tiết kiệm ngoại tệ.
Tổng giá trị xuất khẩu và gia tăng xuất khẩu ở kỳ đang xét do các dự án -
đầu tư đem lại.
20
Tổng thu ngoại tệ và gia tăng tổng thu ngoại tệ ở kỳ đang xét do các dự -
án đầu tư đem lại.
- Mức độ đáp ứng các mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội
của đất nước, đảm bảo chính sách đầu tư công bằng theo các vùng lãnh thổ và
các chính sách ưu đãi.
Số chỗ làm việc tăng thêm nhờ hoạt động đầu tư, tính từng năm và tính -
bình quân trên một triệu đồng vốn đầu tư.
Tăng thu nhập cho người lao động của Tập đoàn. -
- Giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nâng cao sức khỏe cho người lao động
và cộng đồng.
- Hiệu quả quốc phòng và an ninh.
Hiệu quả về khoa học và công nghệ:
- Mức nâng cao trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (nhất là mức cơ
giới hóa, tự động hóa, tin học hóa) do đầu tư đem lại.
Tỷ trọng vốn đầu tư theo chiều sâu so với vốn đầu tư theo chiều rộng. -
Tỷ trọng vốn đầu tư cho các công trình mũi nhọn, đón đầu, cho nghiên -
cứu khoa học công nghệ.
Tỷ trọng phần chi phí cho mua sắm thiết bị máy móc trong tổng vốn đầu -
tư.
Tỷ trọng vốn đầu tư cho công nghệ sạch. -
Tác động của các công trình đầu tư đến nhịp độ tiến bộ khoa học và công -
nghệ của Tập đoàn.
1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
CỦA TẬP ĐOÀN:
1.4.1. Nhân tố chiến lược định hướng đầu tư:
Chiến lược sản xuất – kinh doanh của một doanh nghiệp là một tập hợp
các đề xuất chung nhất, cơ bản nhất để hướng dẫn mọi hoạt động của doanh
21
nghiệp trong một thời gian đủ dài về phương hướng mục tiêu và nhiệm vụ chủ
yếu, các quan điểm chủ yếu, các giải pháp chủ yếu để thực hiện mục tiêu
chiến lược đã đề ra dựa trên cơ sở tình hình khách quan của môi trường kinh
doanh, thực lực của doanh nghiệp và mong muốn của doanh nghiệp.
Mọi định hướng đầu tư của doanh nghiệp phải xuất phát từ chiến lược
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Dự án đầu tư có thể thất bại hay không
đạt được kết quả mong muốn bất chấp việc thực hiện và chuẩn bị dự án tốt
đến đâu nếu ý đồ ban đầu có những sai lầm cơ bản. Xác định rõ ràng chiến
lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp góp phần định hướng đầu tư đúng
đắn và cũng là thành công bước đầu của các dự án đầu tư.
1.4.2. Nhân tố luật pháp, cơ chế chính sách trong đầu tư:
Hệ thống văn bản pháp quy về đầu tư và xây dựng phải đảm bảo đồng
bộ, phù hợp. Trong thực tế đôi khi hệ thống văn bản pháp quy chưa theo kịp
sự phát triển của hoạt động xây dựng cơ bản xây dựng gây nhiều cản trở trong
việc thu hút vốn đầu tư, phiền nhiễu trong thủ tục hành chính… Những thay
đổi liên tục trong cơ chế, chính sách đầu tư cũng làm ảnh hưởng nhiều đến
công tác quản lý xây dựng cơ bản của Nhà nước, chủ đầu tư và các nhà thầu
xây dựng.
Phân cấp quản lý đầu tư nhằm tăng quyền hạn chủ động và trách nhiệm
cho các đơn vị cơ sở, đồng thời có chế tài đảm bảo chất lượng và chi phí trong
đầu tư xây dựng.
1.4.3. Nhân tố quản lý quá trình chuẩn bị đầu tư:
Quản lý quá trình chuẩn bị đầu tư rất quan trọng và phụ thuộc vào các
yếu tố sau:
- Nghiên cứu, quảng cáo cho dự án: trình độ nắm bắt thông tin, chất lượng
của chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
22
Chất lượng báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và báo cáo nghiên cứu khả -
thi hoặc báo cáo đầu tư: tư vấn lập, tư vấn thẩm định, trách nhiệm của chủ đầu
tư, tính pháp lý và khoa học của các căn cứ được vận dụng.
Cơ quan chủ quản đầu tư: phê duyệt dự án phù hợp với quy hoạch phát -
triển ngành và doanh nghiệp
1.4.4. Nhân tố quản lý quá trình thực hiện đầu tư:
Công tác quản lý quá trình thực hiện đầu tư có ảnh hưởng rất lớn đến
hiệu quả dự án. Nếu như hiệu quả dự án biểu hiện bằng mối quan hệ lợi
ích/chi phí thì công tác quản lý thực hiện đầu tư quyết định trực tiếp đến chi
phí của dự án và quyết định gián tiếp đến lợi ích của dự án. Công tác quản lý
thực hiện đầu tư quyết định những vấn đề sau:
- Quyết định phần lớn đến chi phí của dự án: ở giai đoạn chuẩn bị và thực
hiện đầu tư, 85-95% vốn đầu tư của dự án được chi ra và nằm ứ đọng không
sinh lời. Thời gian thực hiện dự án càng dài, vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất
càng lớn, mà thời gian thực hiện đầu tư phụ thuộc vào công tác quản lý. Bên
cạnh đó việc chi phí đầu tư có lãng phí hay không phụ thuộc vào công tác
quản lý thực hiện đầu tư (thiết kế, đấu thầu và thi công).
- Quyết định đến thời gian đưa dự án vào hoạt động: Dự án được hoàn
thành để đưa vào vận hành sản xuất kinh doanh càng sớm ngày nào thì sẽ có
lợi ngày đó (kết hợp với kế hoạch tiêu thụ sản phẩm), đồng thời giảm được ứ
đọng vốn và chớp được cơ hội kinh doanh, tránh hao mòn vô hình có thể xảy
ra, mức định giá tranh thầu của các tổ chức xây dựng.
- Quyết định chất lượng của các tài sản cố định: Quá trình sản xuất kinh
doanh sau này có thu được nhiều lợi nhuận hay không phụ thuộc nhiều vào
chất lượng của các tài sản cố định do đầu tư đem lại. Một khi đã bỏ vốn và
hình thành năng lực mới thì cơ hội để sửa chữa sai lầm là rất ít. Tài sản cố
định hình thành có chất lượng cao, chi phí thấp tạo điều kiện kinh doanh,
23
giảm chi phí sản xuất nhờ giảm khấu hao, chi phí bảo dưỡng, sửa chữa, tăng
tuổi thọ tài sản cố định.
- Khâu giải phóng mặt bằng trong giai đoạn thực hiện đầu tư rất quan
trọng. Chi phí và thời gian thực hiện công việc này rất lớn. Đây là công việc
rất nhạy cảm và phức tạp.
Các đối tác tham gia trong giai đoạn này rất nhiều và đa dạng vì đây là -
giai đoạn quyết định chủ yếu đến chất lượng, thời gian và chi phí của dự án từ
công tác khảo sát thiết kế, tổ chức đấu thầu, đàm phán ký kết hợp đồng, theo
dõi hợp đồng, giám sát thi công, thanh quyết toán công trình, bảo hiểm, bảo
hành công trình.
- Để đảm bảo hiệu quả của dự án, công tác quản lý ngoài việc lập kế
hoạch, hướng dẫn và giám sát quá trình phát triển của dự án….thì cần phải
khám phá những thay đổi trong môi trường dự án để có những biện pháp điều
chỉnh dự án cho thích hợp, đảm bảo cho quá trình thực hiện dự án đạt các mục
tiêu đề ra về thời gian, chất lượng, chi phí.
1.4.5. Nhân tố quản lý quá trình vận hành khai thác dự án đầu tư:
Sau khi đã hoàn thành xây dựng cơ bản, dự án được đưa vào sản xuất sử
dụng, vận hành khai thác. Thời kỳ này dự án bắt đầu sinh lợi và trả dần những
khoản nợ trong kỳ đầu. Đây là thời kỳ đóng vai trò quyết định cuối cùng của
toàn bộ chu kỳ dự án. Lợi ích của dự án chỉ được thực hiện ở giai đoạn này
mà lợi ích thu được nhiều hay ít lại phụ thuộc vào công tác quản lý vận hành
dự án. Do đó công tác quản lý dự án ở giai đoạn vận hành có ý nghĩa rất lớn,
nó quyết định trực tiếp tới lợi ích của dự án, tức là hiệu quả của dự án.
Ở giai đoạn vận hành của dự án, mọi hoạt động được tiến hành trên cơ sở
bộ hồ sơ được lập lúc ban đầu. Song trên thực tế rất ít khi dự án được tiến
hành hoàn toàn đúng như hoạch định. Nói chung, những khó khăn mà dự án
phải đối phó khi vào vận hành là:
24
Các khó khăn về tài chính: thường xuất hiện do biến động về giá cả dẫn -
đến giảm lợi ích so với dự kiến, nhu cầu thị trường thay đổi nên trong một số
trường hợp quy mô của dự án bị thu hẹp.
Các hạn chế về mặt quản lý: phổ biến nhất đối với nhiều dự án ở Việt -
Nam hiện nay là thiếu cán bộ quản lý giỏi, cơ cấu tổ chức, phân công trách
nhiệm,… Những yếu kém trong quản lý thường gây ra tình trạng tài sản cố
định, năng lực sản xuất của dự án không được khai thác hết, phản ứng chậm
trước những thay đổi trong môi trường kinh tế xã hội, môi trường quốc tế,…
Các vấn để kỹ thuật: thường xuyên phát sinh trong quá trình vận hành dự -
án do không có được đội ngũ công nhân lành nghề sử dụng thành thạo những
dây chuyền công nghệ mới đưa vào sử dụng của dự án,… hoặc thiết bị vật tư
máy móc không thích hợp kém chất lượng do những sai lầm. khiếm khuyết
ngay trong thiết kế ban đầu.
Các biến động chính trị: những dự án được vận hành khai thác trong một -
thời gian, có thể vài chục năm thường phải đối phó với những vấn đề khó
khăn về chính trị. Dự án thường chịu tác động của những thay đổi trong các
chính sách kinh tế - xã hội của Chính phủ hay do mức độ ưu tiên và ủng hộ
của Chính phủ đối với dự án đã không còn như trước.
1.4.6. Nguồn thông tin và khả năng nắm bắt cơ hội đầu tư:
Hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và đầu tư nói riêng không thể
thiếu thông tin. Càng nắm bắt nhiều thông tin, doanh nghiệp càng có nhiều cơ
hội đầu tư báo đảm có hiệu quả. Thông tin là một loại của cải đặc biệt và là
nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp.
1.4.6.1. Khái niệm về thông tin:
Trong hoạt động kinh tế thông tin là tập hợp các tin tức được biểu hiện,
ghi chép, truyền đi, lưu giữ, xử lý và sử dụng trong quá trình quản lý kinh tế.
25
1.4.6.2. Vai trò của thông tin trong quản lý kinh tế:
Thông tin gắn liền với quá trình kinh tế, là sản phẩm hàng hóa đặc biệt
tham gia vào quá trình tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP). Sản phẩm
thông tin ngày càng chiếm tỷ trọng đáng kể trong GDP.
Trong quá trình quản lý kinh tế và điều khiển hệ thống kinh tế người
quản lý thực hiện các chức năng quản lý khác nhau để giải quyết những
nhiệm vụ khác nhau. Nhưng ở giác độ thông tin tất cả những vấn đề đó đều có
thể diễn đạt như một quá trình thu nhập, xử lý và truyền thông tin.
Nhờ có thông tin và sự truyền thông tin mà người quản lý mới có thể
nắm bắt được tình hình và hiện tượng kinh tế trong những hoàn cảnh và điều
kiện khác nhau, để từ đó có thể chủ động ra quyết định theo mục tiêu quản lý.
Hiệu quả kinh tế của sản xuất phụ thuộc vào chất lượng của thông tin.
Nhờ những thông tin có ích, có giá cùng trị mà người quản lý mới có các
quyết định đúng đắn với độ tin cậy cao, mới có thể giải quyết, xử lý các tình
huống rủi ro, nắm bắt các cơ hội mà tiến trình kinh tế đặt ra. Việc dư thừa
thông tin cùng với sự thiếu kiểm tra và phân tích có thể dẫn đến khả năng biến
thông tin thành yếu tố “nhiễu” làm rối loạn nhận thức. Vì vậy nhận thức và
phân loại thông tin đúng đắn, tổ chức hệ thống thông tin hợp lý là một trong
những biện pháp nâng cao hiệu quả của quản lý.
1.4.6.3. Phân loại thông tin:
Theo hướng vận động phân ra: Thông tin từ bên ngoài hệ thống và bên -
trong hệ thống.
Theo chiều thông tin phân ra: Thông tin theo chiều ngang và chiều dọc. -
Theo chức năng quản lý phân ra: Thông tin kế hoạch, Thông tin tác -
nghiệp, Thông tin dự báo, Thông tin lưu trữ.
Theo thời gian phân ra: Thông tin chiến lược, Thông tin sách lược. -
26
Theo hệ thống phân ra: Thông tin có hệ thống, Thông tin không có hệ -
thống.
Theo nghiệp vụ phân tích hoạt động sản xuất – kinh doanh phân ra: -
Thông tin thống kê, Thông tin kế toán, Thông tin nghiệp vụ kỹ thuật.
1.4.6.4. Cách thu thập và xử lý thông tin:
Cách thu thập thông tin: thông qua nghiên cứu dự báo, tài liệu, sách báo, -
điều tra phỏng vấn, hội thảo, hội chợ, phương tiện truyền thông, tình báo kinh
tế và công nghệ thông tin,…
Cách xử lý thông tin: phân tích định tính, Phân tích định lượng hay kết -
hợp và áp dụng công nghệ thông tin.
Để thu thập và xử lý thông tin, cần thiết phải tổ chức hệ thống và quá
trình thông tin. Có ba dạng cấu tạo mạng lưới thông tin sau:
+ Mạng lưới thông tin hình sao.
+ Mạng lưới thông tin hình vòng.
+ Mạng lưới thông tin kết hợp đầy đủ.
1.4.7. Các nhân tố rủi ro và bất định:
Dự án đầu tư là một chủ trương kinh doanh luôn gắn liền với các yếu tố
rủi ro và bất định.
Yếu tố rủi ro của dự án là một loạt các biến cố xảy ra ngẫu nhiên tác động
tiêu cực lên toàn bộ các giai đoạn của đầu tư, làm thay đổi kết quả đầu tư theo
chiều hướng bất lợi và có thể đo lường được bằng khái niệm xác suất rủi ro.
Tình huống bất định cũng có cùng một nguyên nhân như rủi ro là thiếu
thông và thiếu hiểu biết sự vật, nhưng có một điểm khác là không thể tính
được xác xuất xảy ra của sự kiện.
Theo bản chất rủi ro được phân ra các loại sau:
Rủi ro do môi trường tự nhiên (thiên tai, điều kiện địa chất và địa chất - -
thủy văn trong xây dựng).
27
Rủi ro về công nghệ và tổ chức (lựa chọn sai phương án công nghệ và tổ -
chức vận hành, máy móc đột ngột,…).
Rủi ro do môi trường kinh doanh gây nên (quan hệ cung – cầu – giá cả -
diễn biến bất lợi cho kinh doanh, không bán được sản phẩm, không thắng thầu
do các đối thủ cạnh tranh quá mạnh, vỡ nợ, v.v…).
Rủi ro do môi trường kinh tế vĩ mô (thay đổi tỉ giá hối đoái, lãi suất tín -
dụng và thuế về phía bất lợi cho kinh doanh, chu kỳ kinh tế suy thoái,….)
Rủi ro do môi trường chính trị thay đổi dẫn đến các thay đổi về chủ -
trương kinh tế.
Các rủi ro về thông tin được dùng cho dự án (thông tin không chính xác, -
đầy đủ,…)
Theo tính chất chủ quan và khách quan có thể phân thành:
Các rủi ro khách quan thuần túy. -
Các rủi ro có liên quan đến trình độ suy tính của con người khi ra quyết -
định.
Theo nơi phát sinh có thể phân ra:
Các rủi ro do nội bộ dự án gây ra. -
Các rủi ro xảy ra bên ngoài dự án và có tác động xấu đến dự án. -
Theo tính hệ thống có thể phân ra rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ
thống.
Theo mức độ khống chế được, các rủi ro được phân ra rủi ro có thể
khống chế được và không khống chế được.
Theo các giai đoạn đầu tư có thể phân ra:
Các rủi ro nảy sinh ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư. -
Các rủi ro nảy sinh ở giai đoạn thực hiện đầu tư. -
Các rủi ro nảy sinh ở giai đoạn vận hành công trình. -
28
Như vậy, các yếu tố rủi ro và bất định nếu được nghiên cứu một cách kỹ
lưỡng sẽ tránh được các ảnh hưởng của chúng tới hiệu quả của dự án đầu tư
trong tương lại.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1:
Hoạt động đầu tư là một chuỗi các công việc, thực hiện trong khoảng
thời gian dài, do nhiều đối tác tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp với các mức
độ và thời hạn khác nhau, chịu ảnh hưởng của nhiều đối các tác nhân chủ
quan và khách quan và phải thỏa mãn nhu cầu lợi ích cho người bỏ vốn trong
một khoảng thời gian xác định trong tương lai. Các biện pháp quản lý, điều
hành dự án sao cho đạt được hiệu quả tôt nhất trong đầu tư sẽ giúp chủ đầu tư
đáp ứng được mục tiêu đầu tư đề ra. Trên cơ sở phân tích các lý luận về dự án
đầu tư, hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả dự án đầu tư, các nhân tố ảnh
hưởng đến hiệu quả đầu tư, cũng như phân tích đặc điểm, môi trường, thuận
lợi và khó khăn của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cụ thể là Tập đoàn
Sông Đà để xây dựng các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư của các
dự án tại Tập đoàn.
29
CHƯƠNG 2
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ
CỦA CÁC DỰ ÁN THUỘC TẬP ĐOÀN SÔNG ĐÀ
2.1. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
CỦA TẬP ĐOÀN:
2.1.1. Sơ lược về Tập đoàn Sông Đà:
Ngày 01/6/1961 Tập đoàn Sông Đà được thành lập với tên gọi ban đầu là
Ban chỉ huy Công trường Thuỷ điện Thác Bà sau đổi thành Công ty Xây dựng
Thủy điện Thác Bà. Từ năm 1979, Tập đoàn tham gia xây dựng công trình
Nhà máy Thủy điện Hoà Bình và được đổi tên thành Công ty XD Thủy điện
Sông Đà. Sau nhiều lần thay đổi quy mô hoạt động, sau nhiều lần đổi tên như:
TCT XD Sông Đà, TCT Sông Đà, ngày 12/1/2010, Thủ tướng Chính phủ
quyết định thành lập Tập Đoàn Công Nghiệp Xây Dựng Việt Nam (VNIC:
Viet Nam Industry Construction) trên cơ sở nòng cốt là Tổng Công ty Sông
Đà và sáp nhập 5 Tổng Công Ty khác thuộc Bộ Xây Dựng vào Tổng Công Ty
Sông Đà làm đơn vị thành viên của Tập Đoàn. Công Ty mẹ của Tập Đoàn
Công Nghiệp Xây Dựng Việt Nam là Tập Đoàn Sông Đà (SONG DA
CORPORATION). Sau khi được thành lập, Tập Đoàn được chuyển về trực
thuộc Chính Phủ Việt Nam và do Chính Phủ điều hành hoạt động, Bộ Xây
dựng nắm giữ về chuyên môn.
Chức năng và nhiệm vụ chính của Tập đoàn Sông Đà là:
Tổng thầu xây lắp, tổng thầu EPC và thi công xây lắp các công trình -
công nghiệp, giao thông, dân dụng, điện, thủy lợi, Tổ hợp các công trình
ngầm;
Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm công nghiệp; -
Sản xuất và kinh doanh điện thương phẩm; -
30
Sản xuất và kinh doanh vật tư, thiết bị, vật liệu xây dựng; -
Chế tạo và lắp đặt các thiết bị, máy móc công nghiệp; -
- Đầu tư tài chính vào các lĩnh vực:
+ Thi công và xử lý nền móng công trình, khoan nổ mìn;
+ Đóng mới và sửa chữa tàu thuyền.
Các ngành nghề kinh doanh liên quan:
Phát triển và kinh doanh khu đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế; kinh -
doanh bất động sản;
Tư vấn thiết kế và tổng thầu tư vấn thiết kế các dự án đầu tư, xây dựng; -
- Kinh doanh vận tải đường thủy, đường bộ,
Tổ chức nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; đào -
tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành về bất động sản và xây dựng;
- Xuất khẩu lao động;
- Dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch, khách sạn; cho thuê văn
phòng;
Các ngành nghề kinh doanh khác theo quy định của pháp luật và quyết -
định của Thủ tướng Chính phủ.
Hiện nay, Tập đoàn Sông Đà và các công ty con, công ty liên kết của Tập
đoàn đang thực hiện đầu tư khoảng 92 dự án với Tổng mức đầu tư lên tới 107,6 x 106 tỷ đồng; Trong đó đầu tư các dự án thủy điện là 12 dự án với tổng mức đầu tư là 23,5 x 106 tỷ đồng. Ngoài ra toàn Tập đoàn còn đang tìm kiếm cơ hội
đầu tư và nghiên cứu đầu tư rất nhiều dự án thủy điện trong nước và nước
ngoài: Lào (Xekaman 2, Xekaman 2A, Xekaman 4, SêKông 3A, SêKông 3B ,
Xê Bang Hiêng, Đak Y Mơn,…), Campuchia (Stung Treng). Các dự án thủy
điện hoàn thành và đi vào hoạt động là 20 dự án (Sê San 3A, Cần Đơn, Bình
Điền,…), với tổng công suất là 554,2 MW, hàng năm hòa vào lưới điện quốc
gia 2.120 MWh, góp phần giảm thiếu hụt điện năng cho đất nước.
31
Hội đồng thành viên là cơ quan quản lý Nhà nước tại Tập đoàn; Tổng
giám đốc là người trực tiếp điều hành. Mô hình tổ chức quản lý Tập đoàn
Sông Đà được thể hiện theo sơ đồ hình 2.1.
Hình 2.1: Mô hình tổ chức quản lý Tập đoàn Sông Đà
HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN
Ban kiểm soát nội
bộ
TỔNG GIÁM ĐỐC
Phó tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
phụ trách
phụ trách
phụ trách
phụ trách
phụ trách
kiêm Trưởng đại diện
Tài chính - Đầu tư
Kỹ thuật
Thi công xây lắp
Cơ khí thiết bị
Kinh tế
Tập đoàn tại Sơn La
Ban Tài
Ban Kế
Ban Cơ
Ban Tổ
Ban
Ban
Ban CB thi công
Ban CB XD DA
Ban QLDA Tái cấu
Ban QL
Văn
chính kế
hoạch &
khí thiết
chức
Pháp
Kinh
DA Đường sắt đô
Điện hạt nhận
trúc DN & nâng
KTCN
phòng
toán
Đầu tư
bị
nhân sự
chế
tế
thị
Ninh Thuận
cao QT CT
Các VPĐD Tập đoàn trong
Trường Cao đẳng nghề
Các Ban quản lý dự án
Các Ban điều hành
và ngoài nước
Sông Đà
Các TCT, Cty TNHH 1TV
Các TCT, Cty do Tập
Các Công ty
do Tập đoàn sở hữu 100%
đoàn sở hữu trên 50%
liên kết
2.1.2. Hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn giai đoạn 2000-2011:
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp có ảnh
hưởng rất lớn đến hiệu quả đầu tư của các dự án thuộc doanh nghiệp đó hay
nói cách khác là quyết định thành công hay thất bại của các dự án đầu tư.
Hiện nay Tập đoàn Sông Đà chủ yếu đầu tư vào các dự án thủy điện, sản phẩn
điện năng chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong sản lượng công nghiệp của Tập
đoàn (khoảng 25% giá trị sản xuất công nghiệp). Các dự án đầu tư xây dựng
công trình thủy điện có các đặc thù sau:
- Dự án có tuổi thọ dài, gắn liền với điều kiện tự nhiên địa hình, lưu lượng,
thủy văn khu vực;
- Dự án thường được lập dựa trên tiềm năng phát triển năng lượng của khu
vực và dự báo nhu cầu phát triển điện năng của cả nước;
- Nhà nước thống nhất quản lý mạng lưới truyền tải điện và điều tiết, phân
phối, quyết định khung giá bán sản phẩm;
- Đặc thù không có sản phẩm tồn kho.
Do đó, việc đầu tư vào các nhà máy thủy điện gặp rất nhiều rủi ro, vốn
đầu tư lớn, sản phẩm đầu ra phụ thuộc thời tiết và giá bán điện không phụ
thuộc vào chủ đầu tư dự án.
Trong những năm vừa qua, do định hướng được phương hướng phát
triển sản xuất kinh doanh và thực hiện tốt công tác đầu tư xây dựng cơ bản
nên kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Sông Đà đã đạt
được những thành tích khả quan vừa thu được lợi nhuận, vừa tạo thu nhập cho
gần 90.000 lao động của toàn Tập đoàn.
Để đánh giá được kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cần xem xét
những chỉ tiêu đánh giá theo quyết định số 208/2000/QĐ-BTC ngày
25/12/2000 của Bộ Tài chính.
34
2.1.2.1. Tài sản cố định tăng thêm
Giá trị tăng, giảm tài sản cố định mỗi năm của doanh nghiệp là do các dự
án xây dựng cơ bản bàn giao chuyển sang sản xuất kinh doanh, do mua sắm
máy móc, thiết bị, do góp vốn liên doanh và một phần do đánh giá lại tài sản
và điều động từ nơi khác đến. Như vậy nhân tố chủ yếu làm tăng giá trị của
tài sản cố định là nhờ hoạt động đầu tư (cả về đầu tư mua sắm máy móc thiết
bị và đầu tư xây dựng cơ bản).
Việc xác định giá trị tài sản cố định tăng thêm mỗi năm của doanh
nghiệp sẽ tạo cho ta một cái nhìn tổng quát về tốc độ mở rộng sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp đó.
Tổng tài sản tăng thêm của Tập đoàn Sông Đà nhờ giá trị tăng thêm của
tài sản cố định từ năm 2002 được thể hiện trong bảng 2.1.
Bảng 2.1. Tổng tài sản tăng thêm nhờ giá trị tài sản cố định tăng thêm hàng
năm của Tập đoàn
Đơn
Chỉ tiêu
2002
2003
2004
2005
2006
vị
Tỷ
1. Tổng tài sản của Tập đoàn
3,872
5,416
7.236
9.455
10.710
đồng
Tỷ
2. Giá trị tổng tài sản tăng
1,544
1,820
2.219
1.255
3.366
đồng
thêm mỗi năm
3. Tốc độ tăng liên hoàn của
%
18
22
(43)
168
tổng tài sản tăng thêm
4. Tổng giá trị tài sản cố định
Tỷ
1,089
1,357
1.812
4.812
5.282
đồng
của Tập đoàn
5. Giá trị tài sản cố định tăng
Tỷ
268
455
3.000
470
1.189
đồng
thêm mỗi năm
35
Đơn
Chỉ tiêu
2002
2003
2004
2005
2006
vị
3. Tốc độ tăng liên hoàn của
%
70
559
(84)
153
giá trị tài sản cố định
Đơn
Trung
Chỉ tiêu
2007
2008
2009
2010
2011
vị
bình
1. Tổng tài sản của
Tỷ
14.076
21.922
26.893
35.991
77.924
Tập đoàn
đồng
2. Giá trị tổng tài sản
Tỷ
7.846
4.971
9.098
41.933
8.228
tăng thêm mỗi năm
đồng
3. Tốc độ tăng liên
hoàn của tổng tài sản
%
133
(37)
83
361
88
tăng thêm
4. Tổng giá trị tài
Tỷ
sản cố định của Tập
6.471
9.891
12.917
19.904
32.844
đồng
đoàn
5. Giá trị tài sản cố
Tỷ
định tăng thêm mỗi
3.420
3.026
6.987
12.940
3.528
đồng
năm
3. Tốc độ tăng liên
hoàn của giá trị tài
%
188
(12)
131
85
136
sản cố định
Nguồn: Tập đoàn Sông Đà
Các số liệu từ bảng 2.1 cho thấy trung bình các năm từ 2002-2011, giá trị
tổng tài sản của Tập đoàn Sông Đà đã tăng lên 20 lần, trong đó giá trị tài sản
cố định đã tăng lên 30 lần. Trung bình mỗi năm giá trị tổng tài sản tăng lên
8.228 tỷ đồng, trong đó giá trị tài sản cố định tăng bình quân 3.528 tỷ đồng.
36
Như vậy, tốc độ mở rộng sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Sông Đà trong
những năm gần đây là rất cao.
Hình 2.2 Tổng tài sản tăng thêm nhờ giá trị tài sản cố định tăng thêm giai
đoạn 2002-2011
2.1.2.2. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Sông Đà
năm 2011.
Để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh
nghiệp trước hết phải xem xét việc quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính của
doanh nghiệp đó. Bảng 2.2 cho biết nguồn lực tài chính của Tập đoàn Sông
Đà năm 2011.
37
Bảng 2.2: Kết quả sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Sông Đà năm 2011
THỰC HIỆN NĂM 2011
KẾ
ĐƠN
TT
TÊN CHỈ TIÊU
HOẠCH
THỰC
TH
VỊ
NĂM 2011
HIỆN
2011/2010
I
Tổng giá trị SXKD
61.890
62.100
111
1 Giá trị kinh doanh xây lắp
31.530
32.210
114
2 Giá trị KD SP công nghiệp
19.560
20.040
117
109đ 109đ 109đ 109đ
2 Giá trị KD dịch vụ
10.800
9.850
94
II Các chỉ tiêu tài chính
1 Doanh thu
50.000
50.410
107
2 Nộp Nhà nước
1.600
2.186
63
3
Lợi nhuận trước thuế
1.500
1.029
52
4 Vốn chủ sở hữu
16.000
16.000
100
5
Tổng tài sản
79.000
82.000
107
109đ 109đ 109đ 109đ 109đ 109đ
III Giá trị đầu tư
9.500
9.566
81
Thu nhập BQ
103đ
VI
105
4.300
4.300
CBCNV/tháng
(Chi tiết xem tại phụ lục 1)
Tập đoàn Sông Đà là Tập đoàn có ngành nghề kinh doanh chính là xây
lắp các dự án, do đó giá trị kinh doanh xây lắp chiếm tỷ trọng rất lớn trong
tổng giá trị sản xuất kinh doanh của Tập đoàn (52%). Giá trị sản xuất công
nghiệp chiếm lệ 32%, trong đó chủ yếu là các sản phẩm điện thương phẩm, xi
măng, thép xây dựng, phôi thép,… Giá trị kinh doanh dịch vụ của Tập đoàn
bao gồm kinh doanh nhà và hạ tầng, giá trị tư vấn xây dựng, xuất khẩu, vật tư,
vận tải,…. chiếm tỷ lệ 16% giá trị sản xuất kinh doanh.
Năm 2011 là năm có bối cảnh kinh tế trong nước diễn biến phức tạp, tình
trạng lạm phát cao, việc thắt chặt tín dụng đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt
động sản xuất kinh doanh của tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam mà
38
Tập đoàn Sông Đà là công ty mẹ. Với giá trị sản xuất kinh doanh năm 2011
đã đạt được (62.100 tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2010), trong năm 2011
Tập đoàn đã đạt được doanh thu là 50.410 tỷ đồng (tăng 7% so với năm
2010), lợi nhuận trước thuế là 1.029 tỷ đồng (giảm 48% so với năm 2010).
Năm 2011, Chính phủ có các giải pháp chủ yếu nhằm tập trung kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, do đó Tập đoàn Sông
Đà đã rà soát thường xuyên kế hoạch đầu tư, hạn chế tối đa việc đầu tư ra
ngoài ngành nghề kinh doanh chính. Thực hiện đầu tư năm 2011 của Tập
đoàn đạt 9.566 tỷ đồng (giảm 19% so với năm 2010), chủ yếu tập trung vào
các dự án đang thực hiện đầu tư của các đơn vị trong Tập đoàn.
2.2. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA TẬP ĐOÀN SÔNG ĐÀ
GIAI ĐOẠN 2002-2011
2.2.1. Đánh giá đầu tư về mức vốn đầu tư
Bảng 2.3. Mức vốn đầu tư giai đoạn 2002-2011 của Tập đoàn Sông Đà
Đơn vị Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006 tính
Tỷ
1.791
1. Vốn đầu tư 1.471 1.505 2.185 4.437 đồng
2. Tốc độ tăng % 17,9 -19 31,1 50,8 vốn liên hoàn
Đơn vị Trung Chỉ tiêu 2007 2008 2009 2010 2011 tính bình
Tỷ 1. Vốn đầu tư 7.417 7.517 7.578 12.344 9.566 5.581 đồng
39
Đơn vị Trung Chỉ tiêu 2007 2008 2009 2010 2011 tính bình
2. Tốc độ tăng % 40,2 1,3 0,8 38,6 -29,0 14,7 vốn liên hoàn
Nguồn: Tập đoàn Sông Đà
Bảng 2.3 cho thấy:
- Mức vốn đầu tư bình quân hàng năm là 5.581 tỷ đồng.
- Năm 2010 tỷ lệ tăng trưởng mức vốn đầu tư gấp 8,4 lần năm 2002.
Tuy nhiên đến năm 2011, mức vốn đầu tư của Tập đoàn Sông Đà giảm -
xuống 2.778 tỷ đồng từ 12.344 tỷ đồng còn 9.566 tỷ đồng.
Qua số liệu tại bảng 2.3 thì thấy Tập đoàn luôn chú trọng đến công tác
đầu tư để đáp ứng kịp thời yêu cầu kinh doanh, góp phần quan trọng vào việc
hoàn thành kế hoạch các năm. Tuy nhiên đến năm 2011, Tập đoàn Sông Đà
cũng như phần lớn các doanh nghiệp khác, đã chịu sự ảnh hưởng rất lớn của
nền kinh tế đầy biến động của năm 2011, ngoài ra Tập đoàn Sông Đà đã rà
soát lại các dự án đầu tư theo đúng Nghị quyết của Chính phủ nhằm kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh quốc phòng.
40
Hình 2.3: Mức vốn đầu tư giai đoạn 2004-2011
2.2.2. Tình hình đầu tư theo cơ cấu đầu tư:
2.2.2.1. Tình hình đầu tư theo loại hình đầu tư của Tập đoàn Sông Đà:
Cơ cấu và tỷ lệ vốn đầu tư của Tập đoàn Sông Đà theo loại hình đầu tư
được thể hiện ở phụ lục 2.
phụ lục 2cho thấy Tập đoàn rất chú trọng đầu tư các dự án điện (chủ yếu
là các dự án thủy điện). Trong giai đoạn 2002-2011, Tập đoàn đầu tư vào các
dự án điện là 20.049 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 35,92 trong tổng giá trị đấu tư
của Tập đoàn. Tỷ lệ này có thay đổi trong các năm, nhưng thay đổi này là
không đáng kể, giai đoạn 2002-2006 là 36,44%, giai đoạn 2007-2009 là
28,85% và giai đoạn 2010-2011 là 42,92%.
Các dự án hạ tầng, đô thị, giao thông cũng được Tập đoàn tập trung đầu
tư (16.883 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 30,25%). Các dự án hạ tầng, đô thị, giao thông
chiếm tỷ lệ ngày càng cao qua các năm từ 2002-2011. Trong những năm
41
2009-2011, thị trường bất động sản rất sôi động, tỷ lệ trên thể hiện sự năng
động của các đơn vị trong toàn Tập đoàn khi đa dạng hóa các ngành nghề sản
xuất kinh doanh.
Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của Tập đoàn Sông Đà là xây lắp các
công trình, ngoài ra còn kinh doanh các sản phẩm công nghiệp, do đó việc đầu
tư vào các dự án công nghiệp, cơ khí, nâng cao năng lực thiết bị thi công của
Tập đoàn cũng được chú trọng. Trong 10 năm từ 2002-2011, Tập đoàn đầu tư
14.207 tỷ đồng vào các dự án này (chiếm tỷ lệ 25,46% tổng giá trị đầu tư).
Đầu tư tài chính vào các doanh nghiệp của tập đoàn chủ yếu là hoạt động
góp vốn vào các đơn vị cổ phần hóa của Tập đoàn. Do đó, việc đầu tư vào
loại hình này không chiếm tỷ lệ lớn trong giai đoạn 2002-2006 (214 tỷ đồng
chiếm 1,88%). Đến giai đoạn 2007-2009, các đơn vị trong Tập đoàn cổ phần
hóa và lên giao dịch tại các sàn chứng khoán, do đó Tập đoàn đầu tư 2.809 tỷ
đồng, chiếm tỷ lệ 12,48%. Trong 2 năm 2010-2011, Tập đoàn chỉ còn đầu tư
1.649 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 7,53%.
Cơ cấu đầu tư của Tập đoàn trong mỗi giai đoạn thay đổi tương đối lớn.
Giai đoạn 2002-2009, Tập đoàn rất chú trọng đầu tư vào các dự án công
nghiệp, cơ khí, nâng cao năng lực thiết bị thi công và luôn chiếm tỷ lệ cao
nhất. Tuy nhiên đến giai đoạn 2010-2011, khi có 05 tổng công ty gia nhập
Tập đoàn (Lilama, Licogi, Coma, Sông Hồng, Dic) thì tỷ lệ này giảm đi.
Nguyên nhân là do Tập đoàn phải tiếp tục đầu tư vào các dự án dở dang của
các Tổng công ty trên. Các dự án điện trong giai đoạn 2002-2009 cũng chiếm
tỷ lệ lớn, chỉ sau các dự án công nghiệp, cơ khí, nâng cao năng lực thiết bị thi
công, đến giai đoạn 2010-2011 chiếm tỷ lệ lớn nhất, do bổ sung thêm một số
dự án điện khác của các Tổng công ty gia nhập Tập đoàn (Ngòi Hút 1, Bắc
Hà,…). Các dự án hạ tầng, đô thị, giao thông của Tập đoàn trong giai đoạn
2002-2009 tăng tương đối đều, đến năm 2010-2011 tăng lên rất nhiều, do các
42
Tổng công ty gia nhập Tập đoàn rất chú trọng phát triển các dự án này (đặc
biệt có Tổng công ty Dic là có ngành nghề chủ yếu là đầu tư các dự án hạ
tầng, đô thị).
Cơ cầu đầu tư của Tập đoàn theo loại hình đầu tư có sự thay đổi qua các
giai đoạn thể hiện sự chủ động, linh hoạt của Tập đoàn trong việc nên đầu tư
tập trung các dự án nào, vào giai đoạn nào. Ngoài ra, do đặc điểm của lịch sử
hình thành Tập đoàn tư Tổng công ty Sông Đà lên Tập đoàn Công nghiệp
Xây dựng Việt Nam mà Tập đoàn Sông Đà là công ty mẹ cũng làm cơ cấu
trên thay đổi, phụ thuộc vào các Tổng công ty gia nhập Tập đoàn.
Ngoài những mặt đã đạt được trong đấu tư dự án của Tập đoàn trong giai
đoạn 2002-2011, Tập đoàn Sông Đà còn bộc lộ một số hạn chế như: chưa chú
trọng đầu tư cho công nghệ thông tin, tỷ trọng đầu tư vào đầu tư hạ tầng, đô
thị, giao thông cao, rất dễ bị ảnh hưởng của thị trường bất động sản nhiều biến
động hiện nay. Thực tế hiện nay cho thấy, nhiều đơn vị trong Tập đoàn kinh
doanh ngành nghề chủ yếu vào hạ tầng, đô thị trong năm 2011 và đầu năm
2012 rơi vào tình trạng hết sức khó khăn, do tình trạng thắt chặt tín dụng của
Nhà nước, dự án đang đầu tư nhưng không có khách hàng,…
Trong giai đoạn tới, Tập đoàn cần tập trung hơn nữa vào các dự án thuộc
ngành nghề chính của Tập đoàn đã được Chính phủ phê duyệt, thoái vốn tại
một số dự án nằm ngoài các ngành nghề chính và liên quan.
2.2.2.2. Tình hình đầu tư theo đơn vị
Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam là một tổ hợp bao gồm rất
nhiều thành viên, trong đó Tập đoàn Sông Đà là công ty mẹ. Việc đầu tư các
dự án của Tập đoàn thực hiện chủ yếu tại các công ty con, công ty liên kết của
Tập đoàn, mỗi đơn vị thành viên có loại hình tổ chức hoạt động khác nhau,
chịu sự chi phối của Tập đoàn khác nhau: Tổng công ty, Công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên do Tập đoàn nắm giữ 100% vốn điều lệ, Tổng công ty,
43
Công ty cổ phần do Tập đoàn nắm giữ cổ phần chi phối (lớn hơn 50% vốn điều
lệ), Công ty cổ phần do Tập đoàn nắm giữ nhỏ hơn 50% vốn điều lệ (công ty
liên kết). Việc đánh giá tình hình thực hiện đầu tư theo từng loại hình đơn vị
đối với Tập đoàn cũng hết sức quan trọng và được thể hiện tại phụ lục 3.
Phụ lục 3 cho thấy cơ cấu và tỷ lệ vốn đầu tư của Tập đoàn theo đơn vị
thành viên tương đối đồng đều trong các năm của giai đoạn 2002-2011. Công
ty mẹ - Tập đoàn Sông Đà bao gồm Cơ quan Tập đoàn, các Ban điều hành dự
án, Ban quản lý dự án và các đơn vị hạch toán phụ thuộc. Việc đầu tư của Công
ty mẹ là rất ít và giảm dần trong các năm. Giai đoạn 2002-2006, Công ty mẹ
đầu tư 2.314 tỷ chiếm 20,32%; Năm 2007-2009 tăng 1.692 tỷ đồng nhưng tỷ lệ
giảm 2,52% còn 17,79%; Đến năm 2010-2011, công ty mẹ chỉ đầu tư còn
1.780 tỷ đồng, giảm tỷ lệ còn 8,12% so với tổng giá trị đầu tư của cả Tập đoàn.
Công ty con mà Tập đoàn nắm giữ trên 50% vốn điều lệ chiếm tỷ lệ đầu
tư nhiều nhất của Tập đoàn. Giai đoạn 2002-2011, Các công ty này đầu tư
39.686 tỷ động chiếm 71,11% tổng giá trị đầu tư toàn Tập đoàn. Giá trị đầu tư
tăng dần trong các năm, trong 5 năm từ 2002 đến 2006 các công ty này đầu tư
9.011 tỷ đồng chiếm 79,12%; Trong 3 năm từ 2007 đến 2009, giá trị đầu tư là
14.934 tỷ đồng chiếm 66,34%; Giai đoạn 2010-2011, các công ty này đầu tư
15.741 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 71,84% so với tổng giá trị đầu tư toàn Tập đoàn.
Công ty liên kết mà Tập đoàn nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ chiếm tỷ
đầu tư ít nhất trong giai đoạn 2002-2011, giá trị đầu tư là 8.025 tỷ đồng,
chiếm 14,38%. Tuy nhiên, giá trị đầu tư và tỷ lệ đầu tư của các công ty này
tăng lên rất nhanh theo từng năm. Trong 5 năm từ 2002 đến 2006 các công ty
này chỉ đầu tư 64,4 tỷ đồng chiếm 0,57%; Trong 3 năm từ 2007 đến 2009, giá
trị đầu tư tăng 3.508 tỷ đồng lên 3.572 tỷ đồng, tỷ lệ đầu tư tăng 15,3% thành
15,87%. ; Giai đoạn 2010-2011, các công ty này đầu tư 4.389 tỷ đồng chiếm
tỷ lệ 20,03% so với tổng giá trị đầu tư toàn Tập đoàn.
44
Đối với những dự án đầu tư lớn, Công ty mẹ Tập đoàn Sông Đà thường
thực hiện đầu tư đến giai đoạn được chấp thuận đầu tư hoặc thông qua chủ
trương đầu tư, sau đó sẽ thành lập công ty dự án. Tùy thuộc vào tình hình tài
chính hiện có, Tập đoàn sẽ tiến hành cổ phần công ty này để chia sẻ vốn đầu
tư. Đối với những dự án nhỏ, Tập đoàn thành lập Ban quản lý dự án hạch toán
phụ thuộc để thực hiện đầu tư dự án. Do đó, tỷ lệ đầu tư của Công ty mẹ trong
những năm qua thường là rất ít, chiếm tỷ lệ nhỏ và ngày càng giảm, chủ yếu
là đầu tư tài chính cho các công ty con, công ty liên kết.
Trong giai đoạn cổ phần hóa mạnh ở các doanh nghiệp của nước ta,
không nằm ngoài quy luật đó, ngoài ra còn nắm được lợi ích của việc cổ phần
hóa, Tập đoàn tập trung cổ phần hầu hết các đơn vị Tập đoàn. Tập đoàn chỉ
nắm giữ cổ phần chi phối (trên 50%) hoặc là cổ đông lớn (dưới 50%) tùy vào
tình hình thực tế sản xuất của từng đơn vị. Do đó trong những năm tư 2007-
2011, việc đầu tư của Tập đoàn tập trung chủ yếu tại các công ty con, công ty
liên kết, và ngày càng tăng cả về số lượng và tỷ lệ. Đây là một việc làm rất có
lợi cho tập đoàn, Tập đoàn chỉ thực hiện quản lý đầu tư dựa vào người đại
diện phần vốn của Tập đoàn tại các đơn vị chứ không trực tiếp đứng ra quản
lý dự án, tránh được tình trạng quản lý trực tiếp quá nhiều dự án lên đến hàng
trăm dự án lớn nhỏ khác nhau ở nhiều lĩnh vực đầu tư khác nhau: thủy điện,
giao thông, đô thị, hạ tầng, công nghiệp,….
Trong cơ cấu đầu tư theo loại hình đơn vị thực hiện đầu tư trên có nhiều
ưu điểm như phân tích ở trên; Mặt khác, trong đó vẫn bộc lộ một số nhược
điểm lớn. Đối với công ty cổ phần, Tập đoàn chỉ quản lý thông qua người đại
diện phần vốn của Tập đoàn tại các doanh nghiệp, Tập đoàn có quy chế phân
cấp đầu tư, nếu quy chế phân cấp đó mà không triệt để, người đại diện phần
vốn của Tập đoàn không thực hiện đúng, hoặc cố tình báo cáo sai thì Tập
đoàn rất khó quản lý những sai sót trong quá trình đầu tư. Đặc biệt đối với
45
công ty liên kết, Tập đoàn chỉ nắm vai trò là cổ đông lớn, Tập đoàn chỉ có
quyền biểu quyết, quyền quyết định không phải của Tập đoàn mà do các công
ty quyết định. Những quyết định này có thể ảnh hưởng tới chiến lược chung
của toàn Tập đoàn. Do đó trong những thời gian tới Tập đoàn nên chú trọng
vào các các đơn vị mà Tập đoàn nắm giữ quyền chi phối, hạn chế số lượng
công ty, doanh nghiệp liên kết,…
2.3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
TẬP ĐOÀN SÔNG ĐÀ GIAI ĐOẠN 2007-2011
Giai đoạn 2007-2011 là giai đoạn Tập đoàn Sông Đà chuyển sang hoạt
động theo mô hình Công ty Mẹ - Công ty con, các đơn vị thành viên hầu hết
được cổ phần hóa, hoạt động theo luật doanh nghiệp đã tạo ra động lực trong
việc phát triển tiềm lực tài chính và sự năng động trong tổ chức hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Năm 2007, nước ta chính thức là thành viên của của tổ chức thương mại
Thế giới (WTO), việc huy động nguồn lực trong và ngoài nước tăng nhanh,
sản xuất kinh doanh thuận lợi.
Đầu năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định phê duyệt Đề án thí
điểm thành lập Tập đoàn Công nghiệp xây dựng Việt Nam và thành lập Công
ty Mẹ - Tập đoàn Sông Đà đã tập trung được nguồn lực, trí tuệ, tạo nên sức
mạnh mới, đủ sức đảm nhận những nhiệm vụ, dự án, công trình quan trọng,
tăng cường được năng lực cạnh tranh của Tập đoàn.
Tuy nhiên, trong các năm 2008, 2009 nền kinh tế thế giới biến động
phức tạp với những diễn biến khó lường. Cuộc khủng hoảng tài chính xuất
phát từ Mỹ đã lan rộng toàn cầu, gây tình trạng lạm phát trong nước tăng cao;
Tình hình thiên tai, dịch bệnh diễn ra liên tục ảnh hưởng nặng nề đến snr xuất
kinh doanh và đời sống của nhân dân; Sau đó nền kinh tế lại chuyển sang giai
đoạn suy thoái, làm suy giảm nền kinh tế của nhiều quốc gia, trong đó có
46
nước ta, đã ảnh hưởng lớn tới tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp trong đó có Tập đoàn Sông Đà.
Tiềm lực tài chính và năng lực quản lý của một bộ phận cán bộ chưa đáp
ứng được yêu cầu phát triển của Tập đoàn.
Những nhân tố trên đã tạo ra nhiều thuận lợi, nhưng cũng xuất hiện
nhiều khó khăn thách thức đối với doanh nghiệp trong đó có Tập đoàn Sông
Đà, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Sông Đà giai đoạn
2007-2011 được thể hiện tại phụ lục 4.
Theo số liệu của phụ lục 4, tốc độ tăng trưởng của tập đoàn giai đoạn
2007-2011 bình quần hàng năm đạt 57%, với tổng giá trị sản xuất kinh doanh
là 177.889 tỷ đồng. Năm 2010 giá trị sản xuất kinh doanh tăng vọt với tốc độ
tăng tưởng 194% do đây là năm thành lập Tập đoàn với 5 tổng công ty lớn gia
nhập Tập đoàn. Sản xuất công nghiệp có bước phát triển cao, tốc độ tăng
trưởng bình quân hàng năm đạt 28%, tăng trưởng ổn định, bền vững. Giá trị
kinh doanh dịch vụ tăng trưởng không ổn định, đặc biệt giảm trong năm 2010,
2011 là năm chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế.
Tập đoàn mặc dù đã tích cực tìm kiếm các dự án mới có hiệu quả trong
lĩnh vực điện, sản xuất công nghiệp,… đồng thời tập trung đấy mạnh tiến độ
các dự án đầu tư để đưa vào kinh doanh, vận hành để nhằm chuyển dịch mạnh
cơ cấu sản phẩm công nghiệp, giảm tỷ trọng xây lắp trong Tổng giá trị sản
xuất kinh doanh. Giai đoạn 2007-2011 đã có những bước dịch chuyển nhằm
tăng giá trị sản xuất công nghiệp, tuy nhiên giá trị kinh doanh xây lắp vẫn
chiếm tỷ trọng cao và tăng trưởng, do đó vẫn chưa đáp ứng được kế hoạch đề
ra của Tập đoàn.
Các chỉ tiêu tài chính như tổng doanh thu, vốn chủ sở hữu, tổng tài sản
đều tăng trưởng đều trong giai đoạn 2007-2011, và nhảy vọt tại năm 2010.
47
Tuy nhiên chỉ tiêu lợi nhuận, nộp nhà nước bị giảm nhiều trong năm 2011 do
ảnh hưởng của sự suy thoái nền kinh tế.
Hình 2.4. Tổng doanh thu giai đoạn 2007-2011 của Tập đoàn Sông Đà
Hình 2.5: Nộp Nhà nước giai đoạn 2007-2011 của Tập đoàn Sông Đà
48
Hình 2.6: Lợi nhuận trước thuế giai đoạn 2007-2011 của Tập đoàn Sông Đà
Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của Tập đoàn là điện, xi măng, thép
xây dựng, trong đó điện đóng vai trò rất quan trọng đối với sản xuất công
nghiệp của Tập đoàn Sông Đà. Sản lượng điện năng của Tập đoàn Sông Đà
đều tăng lên đáng kể qua các năm, trong 5 năm 2007-2011, tổng sản lượng
điện sản xuất là 6.913 triệu KWh. Hiện nay, Tập đoàn đang đầu tư rất nhiều
dự án thủy điện, trong các năm tới sản lượng này sẽ tăng lên đáng kể sau khi
các dự án trên đi vào vận hành khai thác và sẽ tạo nên một nguồn thu tương
đối lớn cho Tập đoàn Sông Đà.
49
Hình 2.7: Sản lượng điện giai đoạn 2007-2011 của Tập đoàn Sông Đà
2.4. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN CỦA TẬP
ĐOÀN SÔNG ĐÀ GIAI ĐOẠN 2007-2011
Tập đoàn Sông Đà được Thủ tướng Chính phủ thành lập là tập đoàn kinh
tế nhà nước lớn với cơ cấu đa ngành nghề: xây lắp, công nghiệp,... Riêng lĩnh
vực sản xuất công nghiệp, tập đoàn cũng kinh doanh rất nhiều sản phẩm công
nghiệp: điện, xi măng, thép xây dựng, phôi thép, gia công chế tạo thiết bị,
gạch xây dựng, nhôm định hình,… trong đó điện là sản phẩm rất quan trọng
mà Tập đoàn luôn chú trọng đầu tư xây dựng để đưa vào sản xuất kinh doanh.
Giai đoạn 2007-2011, giá trị sản lượng điện của tập đoàn là 4.803 tỷ
đồng (6.913 triệu KWh), chiếm tỷ lệ 2,7% so với tổng giá trị sản xuất kinh
doanh và 9,6% giá trị sản xuất công nghiệp.
Giá trị sản xuất điện năng ngày càng tăng qua các năm do hàng năm lại
có thêm 1 số nhà máy thủy điện mới đi vào vận hành khai thác. Năm 2007 giá
trị sản lượng điện là 690 tỷ đồng, chiếm 24,82% so với giá trị sản xuất công
50
nghiệp, đến năm 2011 giá trị sản xuất điện năng đã tăng lên 61% đạt mức
1.113 tỷ đồng (sản lượng đạt 1.620 triệu KWh), nhưng tỷ lệ so với sản xuất
kinh doanh và sản xuất công nghiệp giảm lần lượt là 1,79% và 5,55%. Tỷ lệ
trên giảm là do thời gian xây dựng các dự án thủy điện dài nên thời gian để
một dự án thủy điện đi vào khai thác rất lâu, trong khi đó các loại hình đầu tư
khác có thời gian ngắn hơn, chóng đưa công trình vào khai thác, ngoài ra Tập
đoàn còn chú trọng đầu tư vào các loại hình sản xuất công nghiệp khác như xi
măng, thép và phôi thép. Hiện nay, Tập đoàn vẫn còn đang thực hiện đầu tư
khoảng 21 dự án thủy điện nữa, các dự án trên từ cuối năm 2012 trở đi sẽ lần
lượt đi vào vận hành khai thác. Các dự án trên sẽ làm tăng sản lượng cũng
như giá trị sản xuất điện sản xuất của toàn Tập đoàn lên cao hơn.
Bảng 2.4: Bảng giá trị sản xuất điện năng so với giá trị sản xuất kinh doanh và
công nghiệp giai đoạn 2007-2011 của Tập đoàn Sông Đà
STT
SẢN PHẨM
TỔNG CỘNG
ĐƠN VỊ TÍNH
THỰC HIỆN NĂM 2007
THỰC HIỆN NĂM 2008
THỰC HIỆN NĂM 2009
THỰC HIỆN NĂM 2010
THỰC HIỆN NĂM 2011
Giá trị sản xuất
109 đ
1
15.300
18.210
20.870
61.409
62.100 177.889
kinh doanh
Giá trị sản xuất
109 đ
2
2.782
3.507
4.184
19.501
20.040
50.014
công nghiệp
Giá trị sản xuất
3
109 đ
690
838
1.024
1.137
1.113
4.803
điện năng
Tỷ trọng so với
%
4,51
4,60
4,91
1,85
1,79
2,70
giá trị SXKD
Tỷ trọng so với
%
24,82
23,90
24,48
5,83
5,55
9,60
giá trị SXCN
Nguồn: Tập đoàn Sông Đà
51
Hình 2.8: Giá trị sản lượng điện giai đoạn 2007-2011 của Tập đoàn Sông Đà
Ngoài những ưu điểm trên, việc đầu tư công trình thủy điện của các
đơn vị trong Tập đoàn còn bộc lộ một số hạn chế sau:
- Định hướng đầu tư: Việc đầu tư các dự án thủy điện lớn của Tập đoàn
thường được thực hiện theo sơ đồ quy hoạch điện của cả nước, dự kiến nhu
cầu điện năng trong thời gian 5 năm, 10 năm tới. Tuy nhiên, một số công trình
thủy điện nhỏ của các đơn vị thành viên Tập đoàn được xây dựng mang tính
chất manh mún, mỗi đơn vị đầu tư 1-2 công trình thủy điện nhỏ: Công ty Cổ
phần Sông Đà 4 đầu tư dự án thủy điện Iagrai 3 (7,5 MW), Công ty Cổ phần
Sông Đà 5 đầu tư dự án thủy điện Sông Chảy 5 (11,3 MW), Công ty Cổ phần
Someco Sông Đà đầu tư dự án thủy điện Bắc Giang (16 MW), Nậm Ly (5,1
MW),… Việc hạn chế về trình độ của cán bộ quản lý, thiếu thông tin,… nên
chưa lập được định hướng được chiến lược lâu dài của doanh nghiệp. Đầu tư
dàn trải làm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư không cao.
52
Thị trường điện: Hiện nay, từ khâu mua điện bán buôn, truyền tải điện, -
phân phối điện, hạch toán điện, điều độ điện quốc gia và đến khâu bán lẻ...
vẫn do Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) chi phối. Về nguồn cung cấp điện,
EVN chiếm tỷ trọng rất lớn, trên 60%, đặc biệt sau khi thủy điện Sơn La vào,
thủy điện Lai Châu và 10 nhà máy nhiệt điện vào nữa. Tất cả các đơn vị phát
điện như Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Than, Tổng công ty Sông Đà, các dự án
BOT, IPP và hơn 200 doanh nghiệp thủy điện vừa và nhỏ còn lại chỉ chiếm
tầm chưa đến 40%. Sau khi thị trường điện cạnh tranh ra đời, cơ hội bán điện
của các nhà máy thủy điện nhỏ (nhỏ hơn 30 MW) là rất thấp, trong khi đó Tập
đoàn Sông Đà hiện có 08/13 dự án nhỏ: Nậm Ngần (13,5 MW), Nậm Mu (12
MW), Iagrai 3 (7,5 MW), Ryninh II (8,1 MW), Eakrongrou (28 MW),…và
còn một số dự án đang thực hiện đầu tư: dự án thủy điện Nậm Ly 1 (5,1 MW),
Nậm An (8 MW), Sông Chảy 4 (7,2 MW), Sông Chảy 5 (11,3 MW),….
Chất lượng của lập báo cáo đầu tư: qua nghiên cứu hồ sơ các dự án đầu -
tư thuộc các đơn vị của Tập đoàn Sông Đà cho thấy việc lập dự án chưa đảm
bảo tính đúng, tính đủ. Rất nhiều dự án có tổng mức đầu tư phải điều chỉnh
tăng nhiều lần do nhiều nguyên nhân: chế độ chính sách tiền lương của Nhà
nước, do trượt giá của đồng Việt Nam với các đồng ngoại tệ khác, đặc biệt là
Đô la Mỹ, do tăng gia đột biến của nguyên vật liệu xây dựng (xi măng, sắt
thép,…), khi tính toán hiệu quả dự án, chưa dự tính đủ giá trị rủi ro của dự án:
Dự án thủy điện Hương Sơn điều chỉnh Tổng mức đầu tư từ 538,7 tỷ đồng lên
đến 833,1 tỷ đồng, Dự án thủy điện Nậm Chiến điều chỉnh Tổng mức đầu tư
từ 4.174,6 tỷ đồng lên đến 5.760,3 tỷ đồng, Dự án thủy điện Trà Xom điều
chỉnh Tổng mức đầu tư từ 469,9 tỷ đồng lên đến 720,5 tỷ đồng,…
Chất lượng của hồ sơ thiết kế: chất lượng khảo sát còn kém, thiếu chính -
xác làm ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng của hồ sơ thiết kế. Việc này ảnh
hưởng rất nhiều đến dự án thủy điện, là dự án phụ thuộc vào điều kiện địa
53
hình địa chất nơi xây dựng công trình. Hồ sơ thiết kế thi công thường chậm
do sự yếu kém trong công tác quản lý của công ty tư vấn. Khâu trình duyệt hồ
sơ thiết kế các dự án còn phải qua nhiều khâu do sự phân cấp đầu tư chưa triệt
để gây kéo dài thời gian: Công trình thủy điện Trà Xom chậm phát điện
khoảng 2 năm, Hương Sơn chậm tiến độ 1 năm, Nậm Khánh dự kiến phát
điện vào cuối năm 2009 nhưng đến năm 2012 mới hoàn thành đi vào vận
hành khai thác, Xekaman 3 dự kiến phát điện cuối năm 2010 nhưng đến nay
mới chỉ chạy thử 1 tổ máy mà vẫn chưa phát điện thương phẩm,…
- Đấu thầu thực hiện dự án: Công tác đấu thầu thực hiện các gói thầu của
dự án thường được thực hiện triệt để theo hình thức chỉ định thầu cho các đơn
vị trong Tập đoàn, hình thức đấu thầu rộng rãi ít được sử dụng, làm giảm tính
cạnh tranh giữa các đơn vị. Việc giám sát thi công còn chưa tốt, đặc biệt chủ
đầu tư chưa thật nghiêm túc trong việc xử lý và chế độ thưởng phạt về tiến độ
và chất lượng công trình. Kế hoạch đấu thầu của dự án thay đổi liên tục kể cả
khi không phải do thay đổi cơ chế chính sách: Dự án thủy điện Xekaman 3,
Trà Xom, Xekaman 1, Hương Sơn,….
Công tác quản lý vận hành khai thác dự án: đây là khâu có ý nghĩa hết -
sức quan trọng quyết định sự thành công của dự án, đảm bảo đem lại lợi
nhuận cho dự án như mục tiêu đã đề ra. Tuy nhiên hiện nay việc đánh giá, so
sánh, đối chiếu các dự án giữa thực tế thực hiện với mục tiêu đề ra trong báo
cáo đầu tư, nếu dự án không đạt được như mong muốn chủ đầu tư không biết
được nguyên nhân chủ quan hay khách quan, trình độ của cán bộ quản lý, ảnh
hưởng của dự án đối với môi trường,… Chính việc thiếu theo dõi đánh giá các
dự án sau khi đưa vào vận hành khai thác để rút kinh nghiệm cho các công
trình đầu tư tiếp theo là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả đầu
tư của Tập đoàn trong thời gian qua.
54
Hình 2.9. Sơ đồ các nguyên nhân tác động đến hiệu quả dự án đầu tư
Đầu tư còn manh mún, dàn trải
Định hướng
Chưa có định hướng chiển lược lâu dài
đầu tư
Hạn chế về trình độ của cán bộ quản lý
Độc quyền phân phối điện của EVN
Thị trường
Đầu tư nhiều nhà máy thủy điện nhỏ
Chất lượng
Phân cấp quản lý chưa rõ ràng
Các
của lập
nguyên
BCĐT
Nội dung của BC ĐT còn nhiều thiếu sót
nhân tác
động đến
Chất lượng công tác khảo sát còn kém
hiệu quả
Chất lượng
dự án đầu
Thiết kế chậm, chất lượng hồ sơ còn thấp
của Hồ sơ
tư
thiết kế
Trình duyệt hồ sơ thiết kế còn nhiều thủ
tục rườm ra
Chỉ định thầu làm giảm tính cạnh tranh
và chất lượng công trình
Đấu thầu
thực hiện DA
Giám sát thi công chưa tốt
Quản lý vận
Ít được đánh giá theo dõi dự án sau khi đi
hành DA
vào vận hành khai thác
55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Tập đoàn Sông Đà là doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh chủ yếu là
xây lắp, do đó hoạt động đầu tư tại Tập đoàn Sông Đà của Tập đoàn vẫn còn
có nhiều hạn chế, chưa thực sự hiệu quả so với nguồn lực hiện có của Tập
đoàn. Để đạt được mục tiêu đã đề ra là trở thành một tập đoàn Công nghiệp -
Xây dựng lớn mạnh của cả nước và vươn ra tầm thế giới, Tập đoàn Sông Đà
cần thực hiện tốt hơn nữa hoạt động đầu tư của mình, đặc biệt là đầu tư dự án
thủy điện.
Để thực hiện tốt hoạt động đầu tư của Tập đoàn Sông Đà, tác giả sẽ đưa
ra một số biện pháp chung cho các dự án đầu tư tại Tập đoàn và áp dụng vào
dự án thủy điện Sê San 3A tại chương 3.
56
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÁC DỰ ÁN
THỦY ĐIỆN CỦA TẬP ĐOÀN SÔNG ĐÀ
3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TẬP ĐOÀN SÔNG ĐÀ TỪ
NAY ĐẾN NĂM 2020
3.1.1. Điều kiện thuận lợi và khó khăn cho hoạt động sản xuất của Tập
đoàn Sông Đà đến năm 2020
3.1.1.1. Tình hình quốc tế và trong nước
Thuận lợi:
- Nền kinh tế thế giới đang trong giai đoạn phục hồi và phát triển trong
những năm tới, tạo cơ hội cho Đất nước tiếp tục ổn định và phát triển.
- Nhiều công trình, dự án lớn, trọng điểm của các Ngành, Tập đoàn trong
và ngoài nước ở giai đoạn này được khởi công xây dựng.
Khó khăn:
Sự cạnh tranh gay gắt với các Tập đoàn lớn trên thế giới sau khi Việt -
Nam thực hiện lộ trình cam kết dỡ bỏ hàng rào thuế quan vào năm 2010, cũng
như việc thâm nhập của Tập đoàn vào các khu vực trên thế giới.
- Nhiều công trình, dự án lớn, trọng điểm khởi công trong kỳ với mục tiêu
tiến độ hết sức căng thẳng, đặc biệt các dự án điện, nhằm đáp ứng kịp thời
điện năng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong khi lực lượng
lao động (cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật) còn chưa đáp ứng kịp thời cả
về số lượng và chất lượng.
3.1.1.2. Tình hình nội bộ Tập đoàn
Thuận lợi:
- Việc hình thành nên Tập đoàn công nghiệp xây dựng Việt Nam mà Tập
đoàn Sông Đà là Công ty Mẹ đã tập trung được nguồn lực, trí tuệ, tạo nên sức
57
mạnh mới, đủ sức đảm nhận những nhiệm vụ, dự án, công trình quan trọng,
đã tăng cường được năng lực cạnh tranh của Tập đoàn.
Khó khăn:
Tiềm lực tài chính của Tập đoàn còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu phát -
triển.
- Quy mô của các công ty con còn nhỏ, hoạt động đa ngành, đa sản phẩm
nên còn manh mún, phân tán.
- Năng lực và trình độ quản lý của một số bộ phận cán bộ còn hạn chế,
chưa đáp ứng được yêu cầu của tiến trình hội nhập.
3.1.2. Kế hoạch sản xuất kinh doanh của Tập đoàn giai đoạn (2011-2015)
3.1.2.1. Cơ sở xây dựng kế hoạch 5 năm (2011-2015)
Tình hình phát triển của nền kinh tế trong thời gian qua và chiến lược -
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước giai đoạn 2011-:-2020.
- Quy hoạch phát triển đất nước trong các lĩnh vực: điện lực, hạ tầng giao
thông, đô thị trong những năm tới.
Các công trình tổng thầu Tập đoàn được chỉ định thầu, trúng thầu, dự án -
đầu tư của Tập đoàn sẽ triển khai trong kỳ kế hoạch.
Tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh 5 năm (2006-2010) -
của Công ty mẹ - Tập đoàn Sông Đà và các đơn vị trong Tập đoàn Công
nghiệp Xây dựng Việt Nam.
- Năng lực, khả năng thực hiện của Công ty mẹ - Tập đoàn Sông Đà và
các đơn vị trong Tập đoàn.
3.1.2.2. Mục tiêu chiến lược đến năm 2015
Mục tiêu tổng quát:
Xây dựng Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam thành Tập đoàn -
kinh tế mạnh ở trong nước và khu vực, có quy mô lớn, hiện đại, đa sở hữu,
sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao trên 6 lĩnh vực chính là:
58
(1) Xây dựng và lắp đặt thiết bị;
(2) Sản xuất công nghiệp xi măng - sắt thép;
(3) Sản xuất và kinh doanh điện;
(4) Chế tạo cơ khí;
(5) Khu công nghiệp;
(6) Phát triển đô thị - nhà ở và Bất động sản.
Không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh -
doanh của Tập đoàn, góp phần to lớn vào sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện
đại hóa đất nước.
Mục tiêu cụ thế:
Trở thành một nhà sản xuất công nghiệp lớn của Việt Nam. -
Trở thành nhà chế tạo cơ khí mạnh trong khu vực ASEAN. -
Trở thành Tổng thầu xây lắp và tổng thầu EPC mạnh trong khu vực -
ASEAN.
Trở thành nhà đầu tư đô thị, khu công nghiệp lớn trong nước. -
Nhiệm vụ chính:
Bảo đảm đầy đủ mọi điều kiện hoàn thành các chỉ tiêu 5 năm (2011- -
2015); Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 9%/năm, với tổng
giá trị sản xuất kinh doanh đạt khoảng 365.500 tỷ đồng (tương đương 17,4 tỷ
Đô la Mỹ).
- Hoàn thành tái cơ cấu Tập đoàn (công ty mẹ và các công ty con, công ty
liên kết) theo chiến lược phát triển được Chính phủ phê duyệt, đồng thời hoàn
thành cổ phần hóa các đơn vị còn lại.
- Đầu tư mở rộng và đầu tư chiều sâu trong các lĩnh vực sản xuất kinh
doanh, đặc biệt đi sâu vào các lĩnh vực: sản xuất công nghiệp, hạ tầng, đô thị
để giải quyết việc làm và nâng cao tiềm lực tài chính.
- Đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu về khoa học công
59
nghệ trong công tác quản lý, điều hành, thiết kế, thi công và chế tạo thiết bị.
Trong đó, tập trung chỉ đạo phát triển lĩnh vực chế tạo thiết bị theo chương
trình cơ khí trọng điểm của đất nước.
Tăng cường vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, thông qua -
việc kiện toàn tổ chức Đảng bộ một cách hợp lý và hiệu quả, đổi mới phương
thức lãnh đạo của Đảng bộ để làm nền tảng cho sự phát triển của Tập đoàn.
Các giải pháp đột phá:
Thực hiện tái cấu trúc Tập đoàn (Công ty mẹ và các công ty con, công ty -
liên kết) theo mô hình tổ chức hợp lý nhất; Đồng thời thực hiện cổ phần hóa
các Tổng công ty và các đơn vị còn lại giữ 100% vốn Nhà nước để thay đổi
phương thức quản trị doanh nghiệp, tăng quyền tự chủ và thu hút vốn đầu tư
cho phát triển sản xuất kinh doanh.
- Đầu tư phát triển là giải pháp đột phá quan trọng, trong đó đầu tư vào
sản xuất công nghiệp, chế tạo thiết bị cơ khí, hạ tầng, đô thị không những sẽ
mở rộng được quy mô sản xuất công nghiệp, tạo tích lũy vốn cho hoạt động
của Tập đoàn và của doanh nghiệp mà còn giải quyết việc làm cho hàng vạn
cán bộ công nhân viên trong Tập đoàn.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý và công
nhân kỹ thuật nhằm đáp ứng yêu cầu mở rộng, phát triển sản xuất kinh doanh.
Đặc biệt, chú trọng tới công tác đào tạo nâng cao trình độ quản trị doanh
nghiệp cho lực lượng cán bộ đương nhiệm thuộc các ngành nghề mũi nhọn,
trình độ tay nghề cho công nhân kỹ thuật ở những vị trí quan trọng, then chốt
bằng các hình thức đào tạo chiến lược, đào tạo tại chỗ, đào tạo trung hạn,...
Xây dựng chế độ đặc thù để tuyển chọn, thu hút được lực lượng lao động có
chất lượng cao và nhân tài về làm việc tại Tập đoàn.
60
3.1.2.3. Chỉ tiêu chủ yếu trong 5 năm (2011-2015):
Với những thuận lợi, khó khăn và xác định định muc tiên cũng như đề ra
các giải pháp như phân tích ở trên, Tập đoàn Sông Đà đã dự kiến các chỉ tiêu
sản xuất chủ yếu của 5 năm giai đoạn 2011-2015 như sau:
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất kinh doanh bình quân hàng năm -
khoảng 9%.
Tổng giá trị sản xuất kinh doanh là 365.500 tỷ đồng, tương đương với -
17,4 tỷ USD, trong đó giá trị xây lắp là 168.370 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng bình
quân 46% trong tổng giá trị sản xuất kinh doanh), giá trị sản xuất công nghiệp
là 117.940 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng bình quân 32% trong tổng giá trị sản xuất
kinh doanh), giá trị kinh doanh dịch vụ khác là 79.190 tỷ đồng (chiếm tỷ
trọng bình quân 22% trong tổng giá trị sản xuất kinh doanh).
- Doanh thu: 287.210 tỷ đồng, tương đương với 13,2 tỷ Đô la Mỹ.
- Nộp nhà nước: 9.784 tỷ đồng, tương đương với 465 triệu Đô la Mỹ.
Lợi nhuận trước thuế: 5.573 tỷ đồng, tương đương với 263,6 triệu Đô la -
Mỹ.
- Vốn chủ sở hữu đến 31/12/2015: khoảng 29.000 tỷ đồng, tương đương 1,38
tỷ Đô la Mỹ.
Tổng tài sản đến 31/12/2015: khoảng 117.400 tỷ đồng, tương đương với -
5,59 tỷ Đô la Mỹ.
- Giá trị đầu tư: 55.740 tỷ đồng, tương đương với 2,65 tỷ Đô la Mỹ .
Thu nhập bình quân CBCNV: 5 triệu đồng/người/tháng. -
Lao động bình quân: 85.000 đến 94.500 người. -
Dự kiến giai đoạn 2011-2015, Tập đoàn hoàn thành xây dựng đưa vào
vận hành 37 công trình điện và nhiều công trình khác với tổng giá trị 150.300
tỷ đồng, tương đương 7,5 tỷ đô la Mỹ; Hoàn thành đầu tư đưa vào vận hành
và sở hữu 16 dự án, nâng tổng số nhà máy đi vào vận hành là 32 nhà máy với
61
tổng công suất là 1.497MW, với tổng sản lượng điện 5 năm là 14,8 tỷ KWh; Hoàn thành đưa vào vận hành 03 dự án giao thông, hơn 1 triệu m2 sàn khu đô
thị và nhà ở,...
3.1.3. Định hướng sản xuất kinh doanh của Tập đoàn đến năm 2020
Mục tiêu tổng quát:
Xây dựng Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam thành Tập đoàn
kinh tế mạnh ở trong nước và khu vực, có quy mô lớn, hiện đại, đa sở hữu,
sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao trên 6 lĩnh vực chính là:
(1) Xây dựng và lắp đặt thiết bị;
(2) Sản xuất công nghiệp xi măng - sắt thép;
(3) Sản xuất và kinh doanh điện;
(4) Chế tạo cơ khí;
(5) Khu công nghiệp;
(6) Phát triển đô thị - nhà ở và Bất động sản.
Không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh
doanh của Tập đoàn, góp phần hoàn thành sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện
đại hóa đất nước.
Mục tiêu cụ thể:
Trở thành một nhà sản xuất công nghiệp lớn trong khu vực ASEAN. -
Trở thành nhà chế tạo cơ khí mạnh của Châu Á. -
Trở thành Tổng thầu xây lắp và Tổng thầu EPC mạnh của Châu Á. -
Trở thành nhà đầu tư đô thị và khu công nghiệp lớn trong khu vực -
ASEAN.
Chỉ tiêu định hướng đến năm 2020 của Tập đoàn:
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất kinh doanh bình quân hàng năm (từ -
năm 2016-2020): khoảng 10-11%. Tổng giá trị sản xuất kinh doanh năm 2020
tăng gấp 1,6 lần so với năm 2015.
62
Tổng giá trị sản xuất kinh doanh: 136.000 tỷ đồng, tương đương 6,8 tỷ -
Đô la Mỹ.
- Vốn Chủ sở hữu: 40.000 tỷ đồng, tương đương với 2 tỷ Đô la Mỹ.
Tổng tài sản: 190.000 tỷ đồng , tương đương với 9,5 tỷ Đô la Mỹ. -
Tổng số cán bộ công nhân viên: 103.000 người. -
Cơ cấu ngành nghề định hướng đến năm 2020 của Tập đoàn:
Tỷ trọng giá trị kinh doanh xây lắp chiếm khoảng 35-40% trong tổng giá -
trị sản xuất kinh doanh. Trong đó xây lắp các công trình thủy điện, nhiệt điện
(bao gồm cả gia công chế tạo, lắp đặt thiết bị) chiếm tỷ trọng khoảng 35 -
45%, xây lắp các công trình công nghiệp, dân dụng, hạ tầng chiếm tỷ trọng
khoảng 55 - 65% trong giá trị xây lắp của Tập đoàn.
Tỷ trọng giá trị kinh doanh sản phẩm công nghiệp chiếm khoảng 40-45% -
trong tổng giá trị sản xuất kinh doanh. Trong đó giá trị sản xuất vật liệu xây
dựng (thép, xi măng, gạch,...) chiếm tỷ trọng khoảng 50-55%, giá trị sản xuất
điện chiếm tỷ trọng khoảng 15-20%, giá trị sản xuất công nghiệp chế tạo
chiếm tỷ trọng khoảng 25-30%, về giá trị sản xuất sản phẩm công nghiệp
khác chiếm tỷ trọng khoảng 5% trong giá trị sản xuất công nghiệp.
Tỷ trọng giá trị kinh doanh dịch vụ khác chiếm khoảng 20-25% tổng giá -
trị sản xuất kinh doanh. Trong đó giá trị kinh doanh nhà, đô thị và hạ tầng khu
công nghiệp chiếm tỷ trọng khoảng 55-65% , giá trị xuất khẩu lao động và
xuất khẩu hàng hoá, vật tư thiết bị khác chiếm tỷ trọng khoảng 10-15%, giá
trị tư vấn chiếm tỷ trọng khoảng 3-5%, giá trị kinh doanh dịch vụ khác chiếm
tỷ trọng khoảng 25-30% trong giá trị dịch vụ.
3.2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÁC DỰ
ÁN THỦY ĐIỆN THUỘC TẬP ĐOÀN SÔNG ĐÀ
3.2.1. Phân loại các biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư
a. Theo phạm vị tác động của biện pháp:
63
Biện pháp có tính toàn cục. -
Biện pháp có tính bộ phận. -
b. Theo thời gian:
Biện pháp chiến lược lâu dài. -
Biện pháp chiến thuật, ngắn hạn. -
c. Theo giác độ quản lý vĩ mô và vi mô:
Biện pháp thuộc phạm vi quản lý vĩ mô của Nhà nước. -
Biện pháp thuộc phạm vi quản lý vi mô của doanh nghiệp. -
d. Theo các giai đoạn của dự án:
Biện pháp trong giai đoạn chiến lược kinh doanh. -
Biện pháp trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư. -
Biện pháp trong giai đoạn thực hiện đầu tư. -
Biện pháp trong giai đoạn kết thúc đưa dự án vào vận hành, khai thác. -
e. Theo mục tiêu quản lý dự án:
Biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dự án. -
Biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí cho dự án. -
Biện pháp nhằm rút ngắn thời gian thực hiện dự án. -
g. Theo tính chất chủ quan hay khách quan:
Biện pháp có tính chất chủ quan từ nội bộ Tập đoàn, các doanh nghiệp -
thành viên.
Biện pháp có tính chất khách quan bên ngoài tác động tới. -
h. Biện pháp có tính chất kết hợp: Là cách sử dụng kết hợp tất cả các cách
phân loại trên
Trong luận văn này sẽ đi sâu trình bày các biện pháp có tính chất kết hợp
này.
64
Hình 3.1. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư các dự án thủy điện của
Tập đoàn Sông Đà
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư các dự án
thủy điện của Tập đoàn Sông Đà
Hoàn thiện môi
Các biện pháp
Các biện pháp
trường đầu tư,
tác động vào
khắc phục rủi ro
phân cấp, định
trong đầu tư xây
quy trình dự án
dựng
hướng đầu tư và hoàn thiện bộ
máy quản lý
3.2.2. Hoàn thiện môi trường đầu tư, phân cấp, định hướng đầu tư và
hoàn thiện bộ máy quản lý
3.2.2.1. Tăng cường công tác quy hoạch, định hướng phát triển
Hoàn thiện và thông qua quy hoạch phát triển Tập đoàn Sông Đà giai
đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020 trong đó có quy hoạch phát
triển cơ sở vật chất kỹ thuật của Tập đoàn để làm cơ sở cho việc chính thức
hóa các nội dung, khối lượng, quy mô đầu tư,.... bằng các kế hoạch đầu tư
từng năm và giai đoạn. Quy hoạch phát triển này phải được căn cứ trên quy
hoạch phát triển ngành điện, giao thông, hạ tầng đô thị,... trên phạm vi cả
nước. Tập đoàn Sông Đà cần phải có hướng điều chỉnh chiến lược kinh
doanh, kế hoạch đầu tư linh hoạt trong từng năm, từng thời kỳ phụ thuộc vào
điều kiện thực tế của đất nước.
65
Các đơn vị thành viên Tập đoàn phải căn cứ vào thị trường sản phẩm
công nghiệp trên địa bàn, điều kiện, khả năng tự có của đơn vị và quy hoạch
phát triển kinh tế của địa phương khẩn trương xây dựng quy hoạch phát triển
hoạt động và đầu tư xây dựng dự án. Quy hoạch này sẽ là căn cứ để Tập đoàn
hoàn thiện cho quy hoạch toàn Tập đoàn và cũng là cơ sở để Công ty triển
khai đầu tư và tổ chức kinh doanh một cách hiệu quả ngay cả khi có biến
động về cơ cấu tổ chức của đơn vị.
3.2.2.2. Lựa chọn cơ cấu đầu tư thích hợp
Căn cứ vào chiến lược quy hoạch phát triển đã được Tập đoàn đề ra,
Tổng công ty và các đơn vị thành viên lập danh mục các dự án để đầu tư phát
triển cho từng giai đoạn, từng thời kỳ. Các doanh nghiệp trong Tập đoàn lập
kế hoạch đầu tư theo từng giai đoạn, tránh sai lệch trong định hướng của Tập
đoàn. Các dự án cụ thể muốn triển khai phải được Tập đoàn phê duyệt hoặc
thông qua theo đúng định hướng phát triển của Tập đoàn.
3.2.2.3. Tăng cường quản lý về trình tự đầu tư xây dựng
Trình tự đầu tư dự án cần tuân thủ chặt chẽ theo các quy định hiện hành
của Nhà nước. Trong từng giai đoạn đầu tư (chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư,
kết thúc đầu tư đưa vào khai thác, vận hành) phải quy định các bước công
việc phải thực hiện theo một trình tự nhất định (tuần tự hoặc xen kẽ).
Việc tuân thủ đúng trình tự xây dựng cơ bản nhằm:
- Đảm bảo tiết kiệm chi phí đầy tư nhằm loại bỏ các dự án đầu tư không
khả thi ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Đối với những dự án được quyết
định đầu tư phải tiến hành khảo sát, thiết kế trước khi thi công để chọn giải
pháp thiết kế tối ưu với mục tiêu dự án đề ra.
- Đảm bảo tính khả thi của dự án trước khi đưa vào khai thác, vận hành.
Thực hiện đầy đủ, đúng trình tự các bước trong hai giai đoạn đầu của quá
66
trình đầu tư là đảm bảo các yếu tố về kỹ thuật và kinh tế để dự án vận hành có
hiệu quả.
Khi thực hiện đúng quy trình đầu tư cần lưu ý đến quy mô, tính chất của
dự án, đối tượng đầu tư của dự án, hình thức đầu tư; Ngoài ra, việc kết hợp
phải đảm bảo chất lượng các công việc và giảm thiểu thời hạn thực hiện các
công việc trong giai đoạn chuẩn bị và thực hiện đầu tư, sớm đưa dự án vào
khai thác, vận hành, tránh hao mòn vô hình.
3.2.2.4. Tăng cường phân cấp quản lý trong đầu tư xây dựng cơ bản của
Tập đoàn
Đổi mới cơ chế đầu tư xây dựng cơ bản, nâng cao tính chủ động và tự
chịu trách nhiệm của đơn vị trên cơ sở tăng cường kiểm tra của Tập đoàn,
đảm bảo tính thống nhất trong toàn Tập đoàn. Trên tinh thần tăng cường phân
cấp ủy quyền nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư và xây dựng, Tập đoàn
Sông Đà đã xây dựng quy chế phân cấp ủy quyền quyết định dự án đầu tư
trong Tập đoàn Sông Đà. Theo quy chế này, các dự án xây dựng nhóm A, B
đều do Tập đoàn phê duyệt hoặc thông qua để các đơn vị thành viên tập đoàn
thực hiện. Đối với các dự án nhóm C, căn cứ vào quy mô của đơn vị thành
viên Tập đoàn ủy quyền cho đơn vị tự quyết đối với các dự án có tổng mức
đầu tư dưới 75 tỷ, 50 tỷ hoặc 30 tỷ đồng.
Đối với các dự án đầu tư, Tập đoàn chỉ quản lý ở một số khâu quan trọng
nhằm đảm bảo các đơn vị thành viên Tập đoàn đầu tư theo đúng hướng đi
chung của cả Tập đoàn; Còn lại ủy quyền toàn bộ cho đơn vi thành viên tự
thực hiện và chịu trách nhiệm trước Tập đoàn và Pháp luật, đồng thời báo cáo
kết quả về Tập đoàn. Việc đó sẽ đảm bảo cho việc rút ngắn thủ tục đầu tư,
góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư dự án.
67
3.2.2.5. Nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý
Khẩn trương triển khai các biện pháp cụ thể để thực hiện chương trình -
đào tạo cán bộ làm công tác quản lý ở Tập đoàn, các công ty con, đội ngũ
công nhân kỹ thuật và các chuyên gia đầu ngành.
Đào tạo phải đảm bảo trang bị lại, cập nhật kiến thức cho hoạt động -
hàng ngày của hệ thống và phải đảm bảo cho nhu cầu hoạt động trong tương
lai đáp ứng các yêu cầu đặt ra cho Tập đoàn Sông Đà.
Xây dựng lại nội dung và chương trình đào tạo kết hợp với việc xây -
dựng tiêu chuẩn cán bộ và có kế hoạch triển khai cụ thể trong đó hết sức lưu ý
vấn đề kinh phí cho đào tạo.
Coi trọng biện pháp tự đào tạo đối với các cán bộ quản lý, là một nội -
dung quan trọng trong công tác đào tạo.
Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo. -
3.2.2.6. Sắp xếp đổi mới lại doanh nghiệp để nâng cao khả năng cạnh tranh
Quy hoạch, sắp xếp lại tổ chức của Tập đoàn theo hướng gọn nhẹ, linh
hoạt để giảm số đầu mối quản lý, giảm sự phân đoạn, chia cắt trong quản lý.
Việc sắp xếp lại tổ chức đi liền với việc tăng cường phân cấp cho các đơn vị
cấp dưới với sự kiểm soát chặt chẽ của Văn phòng Tập đoàn.
Tổ chức mới của Tập đoàn phải đủ năng lực để triển khai thành công
chiến lược phát triển Tập đoàn Sông Đà là một Tập đoàn kinh tế lớn của đất
nước và khu vực.
Việc sắp xếp lại tổ chức của Tập đoàn Sông Đà ngoài ý nghĩa về hệ
thống và tổ chức kinh doanh còn có ý nghĩa đặc biệt trong việc nghiên cứu,
quy hoạch và triển khai có hiệu quả chương trình đầu tư - hiện đại hóa cơ sở
vật chất kỹ thuật. Tuy nhiên, việc sắp xếp lại tổ chức của Tập đoàn không
phải chỉ thuần túy vì mục đích kỹ thuật, nó phải được cân nhắc, xem xét để
giải quyết đồng bộ trong chiến lược phát triển của Tập đoàn.
68
Vấn đề hoàn thiện bộ máy quản lý là một yêu cầu khách quan, phù hợp
với quy luật phát triển. Để quản lý có hiệu quả thì vấn đề chuyên môn hóa bộ
máy quản lý là cần thiết, tránh những chồng chéo về nhiệm vụ và trách nhiệm
trong quản lý. Từng bước xem xét, đánh giá lại mô hình hoạt động và chức
năng nhiệm vụ của các phòng ban Tập đoàn cũng như mô hình bộ máy tổ
chức các công ty để hoàn thiện và thống nhất một cơ cấu quản lý mới phù hợp
và có đủ năng lực thực hiện các nhiệm vụ đặt ra. Phân công rõ trách nhiệm
của từng phòng ban trong Tập đoàn với quy trình hoạt động đầu tư xây dựng,
phải thống nhất trong hướng dẫn, chỉ đạo đơn vị, không để tình trạng chống
chéo, gây khó dễ cho đơn vị. Kiện toàn bộ máy và đội ngũ làm công tác đầu
tư ở các đơn vị đầu mối.
Đây là biện pháp mang tính tổng hợp, đòi hỏi sự phối hợp một cách nhịp
nhàng của các bộ phận.
Hiện nay, Tập đoàn Sông Đà có rất nhiều công ty con, công ty liên kết,
để theo dõi và chỉ đạo các đơn vị trên là rất khó. Do đó, trong thời gian tới
Tập đoàn cần thành lập các Tổng công ty, trong đó bao gồm các công ty con
có hoạt động sản xuất kinh doanh tương đương nhau: Tổng công ty xây lắp,
Tổng công ty điện, Tổng công ty xi măng, Tổng công ty thép,.... Đối với một
số công ty làm ăn thua lỗ, hoạt động không hiệu quả, có ngành nghề kinh
doanh không thuộc phạm vi ngành nghề kinh doanh chính và liên quan đã
được Thủ tướng phê duyệt, Tập đoàn Sông Đà cần có kế hoạch tìm kiếm đối
tác để thoái vốn tại các công ty này. Các việc làm trên sẽ thu gọn đầu mối
theo dõi và chỉ đạo đơn vị, theo đó bộ máy quản lý của Tập đoàn cũng được
thu gọn, tránh tình trạng bộ máy làm việc quá cồng kềnh như hiện nay.
3.2.2.7. Đa dạng hóa các nguồn vốn
Hiện nay các doanh nghiệp lớn và nhỏ đều rơi vào tình trạng thiếu vốn
đầu tư do nhà nước thắt chặt tín dụng. Do đó Tập đoàn cần có các biện pháp
69
huy động mọi khả năng để tạo ra nguồn vốn đầu tư trong giai đoạn 2011-2020
như sau:
Tăng cường liên doanh, liên kết với các tổ chức tín dụng và cá nhân -
nhằm huy động mọi nguồn vốn bên ngoài và của mọi thành phần kinh tế tham
gia đầu tư dự án.
- Đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa các đơn vị còn lại trong Tập đoàn để
huy động nguồn vốn nhàn rỗi của cán bộ công nhân viên.
- Vay tín dụng trả chậm, ưu đãi từ các tổ chức tài chính, ngân hàng hoặc
vay thương mại,...
- Huy động mọi nguồn lực tự có trong doanh nghiệp như khấu hao cơ bản,
cho thuê, bán các tài sản không dùng đến, thanh lý các tài sản hết khấu hao,...
- Đưa các công ty có đầy đủ điều kiện ra thị trường chứng khoán để huy
động nguồn vốn của xã hội.
Sử dụng một cách có hiệu quả quỹ đầu tư phát triển doanh nghiệp của Tập -
đoàn để hỗ trợ cho sự phát triên chung của toàn Tập đoàn.
70
Hình 3.2. Sơ đồ biện pháp hoàn thiện môi trường đầu tư, phân cấp, định
hướng đầu tư và hoàn thiện bộ máy quản lý
Biện pháp hoàn thiện môi trường đầu tư, phân cấp, định hướng đầu tư và
hoàn thiện bộ máy quản lý
Tăng
Lựa
Tăng
Nâng
Sắp xếp
Đa
Tăng
chọn cơ
cường
cao
đổi mới
dạng
cường
cường
công
cấu đầu
quản lý
trình độ
lại
hóa các
phân
tư thích
về trình
cho đội
doanh
nguồn
cấp
tác quy
hoạch,
quản lý
ngũ cán
nghiệp
tự đầu
hợp
vốn
tư xây
bộ làm
để nâng
trong
định
hướng
công
cao khả
đầu tư
dựng
tác
năng
xây
phát
dựng
triển
quản lý
cơ bản
cạnh tranh
của Tập đoàn
3.2.3. Các biện pháp tác động vào quy trình dự án
3.2.2.1. Biện pháp ở chủ trương đầu tư
Chủ trương đầu tư là giai đoạn rất quan trọng trong dự án đầu tư, chủ
trương đầu tư đúng sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao, chủ trương đầu tư sai sẽ
gây lãng phí lớn, hậu quả kéo dài. Để khắc phục tình trạng này, Tập đoàn
Sông Đà cần thực hiện các công việc sau:
Cần công khai mời tư vấn phản biện, tốt nhất là thông qua các Hội, Hiệp -
hội,... và phải thật sự lắng nghe ý kiến của các chuyên gia tư vấn phản biện để
tìm ra phương án đầu tư tối ưu nhất. Tư vấn phản biện là một việc rất khó, đòi
71
hỏi người tham gia phản biện phải có đủ kiến thức, am hiểu rộng và nhất là
phải có cái ”tâm” vì lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp. Không vị nể,
không sợ mất lòng, không sợ thiệt thân,... khi có ý kiến với các vị lãnh đạo,
nói theo thì dễ, nói ngược thì rất khó. Nhưng với người lãnh đạo công minh,
có trí tuệ,... thì không có hại gì.
- Đối với những dự án lớn liên quan đến nhiều lĩnh vực, được nhiều người
quan tâm, thì nên để các chuyên gia đóng góp ý kiến và đề nghị cho ý kiến
bằng văn bản hoặc bằng hình thức nào đó thích hợp.
- Để nâng cao chất lượng các quyết định chủ trương đầu tư thì quá trình
chuẩn bị đầu tư cũng cần được kế hoạch hóa chặt chẽ và giám sát nghiêm túc
như quá trình thực hiện đầu tư. Có vậy mới giảm bớt hiện tượng nước đến
chân rồi mới nhảy và cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư đỡ phải chịu
áp lực ra quyết định vội vã, dù dự án chưa hội đủ điều kiện.
72
Hình 3.3. Sơ đồ biện pháp ở chủ trương đầu tư
Biện pháp ở chủ trương đầu tư
Công khai mời tư vấn
Quá trình chuẩn bị đầu
Tóm tắt dự án gửi đến
tư cần được kế hoạch
từng chuyên gia để xin ý
phản biện và phải thật sự
lắng nghe ý kiến của các
hóa chặt chẽ và giám
kiến
chuyên gia tư vấn phản
sát nghiêm túc
biện để tìm ra phương án
đầu tư tối ưu nhất
3.2.2.2.Biện pháp ở khâu lập, thẩm định và phê duyệt dự án
a. Nâng cao chất lượng hồ sơ dự án
Một dự án được chuẩn bị đầy đủ hồ từ công tác định hướng đầu tư, xác
định đúng mục tiêu, quy mô, trang thiết bị công nghệ, càng chính xác bao
nhiêu, hợp lý bao nhiêu thì quá trình thực hiện dự án sau này càng dễ dàng,
đảm bảo tiến độ, tính hiệu quả, giảm thiểu rủi ro cũng như chi phí phát sinh
trong quá trình thực hiện dự án bấy nhiêu.
Hiện nay Tập đoàn Sông Đà có 02 công ty tư vấn là Công ty Cổ phần tư
vấn Sông Đà và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tư vấn Sông Đà - Ucrin, ngoài
ra năm Tổng công ty gia nhập Tập đoàn đều có 01 công ty tư vấn của riêng
mình. Đa phần các dự án trong Tập đoàn Sông Đà đều được thực hiện bởi các
công ty tư vấn trong Tập đoàn theo hình thức chỉ định thầu. Chỉ một phần ít
các dự án là do các phòng ban Tập đoàn và các đơn vị tự thực hiện. Như đã
phân tích tại chương 2 cho thấy hồ sơ dự án còn một số thiếu sót ở khâu lập,
73
phân tích kinh tế, tài chính dẫn đến kết quả đầu tư chưa sát với thực tế. Tập
đoàn cần chuẩn hóa nội dung dự án, thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ cho
các cán bộ lập, thẩm định phê duyệt dự án. Mặt khác, để tăng tính cạnh tranh
của các đơn vị tư vấn trong Tập đoàn và tăng hiệu quả tư vấn dự án, Tập đoàn
cần xóa bỏ hình thức chỉ định đơn vị tư vấn, thay vào đó là đấu thầu trong nội
bộ các đơn vị tư vấn trong Tập đoàn. Việc này có thể thực hiện được vì theo
Khoản 5 Điều 18 Nghị định 101/2009/NĐ-CP về thí điểm thành lập, tổ chức,
hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước, pháp luật cho phép các công
ty con được đấu thầu các dự án của Công ty Mẹ.
Việc phối hợp thực hiện giữa Tập đoàn, các công ty Tư vấn của Tập
đoàn và các công ty Chủ đầu tư chưa đuợc nhịp nhàng, đồng bộ. Các công ty
tư vấn cần cải tiến tổ chức quản lý, phối hợp với các bộ phận trong Tập đoàn
và các công ty chủ đầu tư để đuợc cung cấp đầy đủ các thông tin, tài liệu
chuyên môn giúp cho việc lập dự án đầu tư chính xác hơn, giảm thiểu được
rủi ro trong đầu tư.
Tập đoàn và các công ty con cũng cần tập hợp số liệu phục vụ việc tính
toán dự án đầu tư đầy đủ, chính xác. Tránh tình trạng các dự án khi triển khai
thực hiện bị vượt vốn trước đây đồng thời làm cho các chủ đầu tư mất rất nhiều
thời gian chỉnh sửa hồ sơ, giải trình với các bên, đặc biệt là với Tập đoàn.
b. Biện pháp cho công tác thẩm định và phê duyệt dự án
Công tác lập và xét duyệt báo cáo đầu tư của Tập đoàn Sông Đà trong
những năm qua chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến tình trạng trong quá
trình triển khai thực hiện dự án đầu tư, một số mục tiêu của dự án phải chỉnh
sửa, thay đổi làm kéo dài tiến độ thực hiện dự án, gây lãng phí tốn kém vốn
đầu tư cũng như làm giảm hiệu quả kinh tế, ảnh hưởng đến cơ hội đầu tư.
Nguyên nhân khác quan do nhiều yếu tố bất định xảy ra mà không lường
trước được như tốc độ phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật và công nghệ,
74
những diễn biến phức tạp của thị trường trong và ngoài nước, ... dẫn đến ý đồ
đầu tư phải thay đổi. Nguyên nhân chủ quan là do chất lượng công tác điều tra
khảo sát lập báo cáo dự án đầu tư cũng như trong quá trình thẩm định không
phát hiện được những khiếm khuyết, sai sót như địa điểm xây dựng, địa hình
địa chất, đặc điểm thủy văn, chi phí xây dựng đào tạo nhân lực, ... làm giảm
hiệu quả đầu tư của dự án.
Công tác thẩm định dự án hiện nay hoàn toàn do Tập đoàn tự thực hiện.
Trong nội dung của báo cáo dự án đầu tư Tập đoàn mới chỉ chú trọng tới tổng
mức đầu tư, thời gian hoàn vốn, quy mô dự án, công suất, dây chuyền công
nghệ mà chưa quan tâm đến các hiệu quả kinh tế tài chính khác. Hầu hết các
dự án hiện nay đều được thực hiện thực thanh thực chi, báo cáo dự án đầu tư
chỉ là cơ sở để lên kế hoạch về vốn lên hiệu quả đầu tư chưa cao. Do đó, trong
thời gian tới Tập đoàn cần thực hiện một số nội dung sau:
Thay đổi tư duy, nâng cao chất lượng công tác thẩm định, phê duyệt dự -
án thông qua việc tính đúng, tính đủ các nội dung trong phân tích tài chính
kinh tế hoặc lựa chọn đơn vị tư vấn thẩm định có năng lực phù hợp;
- Quy định rõ ràng đối với tổ chức và cá nhân có liên quan đến chất lượng
kết quả thẩm định dự án.
Tăng cường giám sát ở tất cả các khâu trong công tác thẩm định và phê -
duyệt dự án.
Tăng cường công tác đào tạo, tuyển dụng để nâng cao năng lực lập dự án -
và thẩm định.
- Nâng cao năng lực thông tin phục vụ công tác lập và phân tích hiệu quả
tài chính dự án đầu tư: tăng cường hợp tác với các tổ chức tư vấn nước ngoài
để học hỏi kinh nghiệm và cách thức tổ chức thực hiện công việc tiên tiến,
tham gia các buổi hội thảo, tập huấn, cử cán bộ chuyên trách thường xuyên tra
75
cứu thông tin, tổ chức điều tra nhu cầu thị trường, xây dựng thư viện thông tin
và ban hành cơ chế sử dụng hợp lý.
3.2.2.3. Biện pháp ở giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình
a. Nâng cao chất lượng hồ sơ thiết kế và công tác thi công xây lắp
Đổi mới công tác thiết kế và chấn chỉnh lại công tác xây lắp là một trong
những biện pháp được ưu tiên hàng đầu nhằm nâng cao chất lượng thiết kế,
chuẩn bị dự án và xây dựng công trình, tiết kiệm chi phí, thời gian trong quá
trình xét duyệt thi công.
Hiện nay chất lượng tư vấn thiết kế chưa cao đối với nhiều công trình.
Nguyên nhân là do tư vấn hiện nay thường thực hiện theo chủ ý của Chủ đầu
tư để dễ dàng tìm kiếm được các dự án khác. Nếu Chủ đầu tư muốn thực hiện
dự án mặc dù dự án có thể không khả thi thì tư vấn vẫn phải lập dự án sao cho
có khả thi bằng cách thay đổi một số yếu tố đầu vào. Tập đoàn cần chọn tổ
chức tư vấn thiết kế phải đủ năng lực, có thâm niên, có kinh nghiệm phù hợp
với quy mô, tính chất công trình đầu tư. Cung cấp thông tin đầu vào của dự án
đầy đủ và phù hợp để đơn vị tư vấn lập hồ sơ tư vấn thiết kế sát với thực tế,
chấp nhận kết quả tư vấn thiết kế kể cả khi kết quả đó không theo mong muốn
của Chủ đầu tư.
b. Biện pháp trong giai đoạn đấu thầu
Lựa chọn hình thức đấu thầu:
Hiện nay Tập đoàn Sông Đà vẫn chủ yếu sử dụng hình thức chỉ định thầu
để tận dụng năng lực, kinh nghiệm, tìm kiếm việc làm cho các đơn vị thành
viên của Tập đoàn. Thực tế cho thấy hình thức này còn nhiều vấn đề bất cập
như đã phân tích ở trên. Vấn đề đặt ra là cần lựa chọn hình thức đấu thầu phù
hợp với từng gói thầu và dự án để nâng cao chất lượng công trình cũng như
giảm được Tổng mức đầu tư của dự án bằng cách hạn chế hình thức chỉ định
thầu và tăng cường sử dụng hình thức đấu thầu rộng rãi trong và ngoài nước.
76
Đảm bảo chất lượng của hồ sơ mời thầu:
Để nâng cao chất lượng của hồ sơ mời thầu cần thực hiện các biện pháp
sau đây:
Lựa chọn tổ chức tư vấn lập hồ sơ mời thầu có tư cách pháp nhân, có -
đủ năng lực thực hiện. Phương pháp lựa chọn tổ chức tư vấn chủ yếu dựa
trên phương pháp cho điểm căn cứ vào hồ sơ năng lực và kinh nghiệm của
Nhà thầu.
- Nội dung của hồ sơ mời thầu phải đầy đủ, rõ ràng dựa trên các căn cứ có
tính pháp lý và kỹ thuật như:
+ Quyết định đầu tư hoặc giấy phép đầu tư kèm theo báo cáo đầu tư.
+ Thiết kế kỹ thuật kèm theo dự toán hoặc tổng dự toán được duyệt (đối
với gói thầu xây lắp), danh mục và dự toán được duyệt (đối với gói thầu mua
sắm hàng hóa).
+ Các quy định về đấu thầu của Nhà nước, điều ước quốc tế về tài trợ đã
ký (nếu có) và quy định của Tập đoàn.
+ Các chính sách khác có liên quan của Nhà nước và Tập đoàn như:
thuế, tiền lương, ...
+ Các tiêu chuẩn, quy chuẩn áp dụng cho gói thầu, dự án.
+ Bảng tiên lượng mời thầu kèm theo danh mục vật tư thiết bị cần mua
sắm.
Mua sắm thiết bị cho dự án:
Thực tế tồn tại lớn nhất trong quá trình mua sắm thiết bị tại các doanh
nghiệp, Tập đoàn là tính không đồng nhất về chủng loại, quy cách, xuất xứ
thiết bị. Đối với các dự án lớn, Tập đoàn và các đơn vị Chủ đầu tư thường
giảm thiểu tối đa các thiết bị máy móc mua sắm ngoài (qua đấu thầu), tối đa
việc tự thực hiện hoặc giao cho các đơn vị thành viên khác trong Tập đoàn
thực hiện. Việc này có ưu điểm là tăng cường việc làm cho các đơn vị; Tuy
77
nhiên việc này làm cho máy móc thiết bị của các dự án không đồng nhất về
chủng loại, quy cách, xuất xứ thiết bị. Chính sự không đồng nhất này gây khó
khăn cho việc vận hành, sửa chữa bảo dưỡng thiết bị sau này.
Vướng mắc trên đây cần sự chỉ đạo thống nhất, tập trung từ Tập đoàn
cho công tác đấu thầu mua sắm thiết bị như sau: đối với các máy móc thiết bị
mà các đơn vị Tập đoàn có thể thực hiện được toàn bộ thì có thể giao cho đơn
vị đó thực hiện; Đối với các máy móc thiết bị phải mua ngoài thì đấu thầu
toàn bộ, đồng bộ máy móc thiết bị; Đối với các dự án mua sắm máy móc thiết
bị bổ sung phải lựa chọn chủng loại, quy cách, xuất xứ phù hợp với dây
chuyền. Tập đoàn phải xem xét khả năng sản xuất thiết bị ở trong nước để dần
thay thế hàng hóa nhập khẩu, tiết kiệm chi phí đầu tư (thực hiện tốt Nghị
quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ)
c. Biện pháp tăng cường công tác giám sát thi công
Công tác giám sát thực hiện dự án theo các giai đoạn và phạm vi trách
nhiệm có thể do tư vấn giám sát, đơn vị thiết kế hoặc Chủ đầu tư tự thực hiện.
Giám sát thi công, lắp đặt, tiếp nhận hàng hóa thiết bị nhằm đảm bảo
các yêu cầu trong kế hoạch (hồ sơ) được triển khai đúng trên thực tế hiện
trường. Việc giám sát cần được duy trì và theo dõi thường xuyên trên công
trường thi công. Đội ngũ giám sát kỹ thuật phải có năng lực trình độ chuyên
môn nghiệp vụ cũng như tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp để hạn chế tiêu
cực đến mức thấp nhất.
Tổ chức tốt công tác ghi nhật ký, theo dõi vật tư sử dụng trong công trình,
xác định phát sinh ngoài thiết kế. Thi công đảm bảo đúng thiết kế và các yêu
cầu kỹ thuật của hồ sơ mời thầu cũng như hồ sơ dự thầu trúng thầu, tránh tình
trạng sai phạm trước khi xây dựng, gây lãng phí và kém hiệu quả trong đầu tư.
Tuân thủ quy trình, quy phạm trong xây dựng, xử lý nghiêm minh các
trường hợp cố tình làm sai hoặc có biểu hiện làm sai quy định, làm ảnh hưởng
78
đến chất lượng cũng như tuổi thọ công trình. Việc xử phạt đối với nhà thầu vi
phạm hợp đồng là việc làm cần thiết.
Giám sát thi công ngoài việc buộc các nhà thầu làm đúng thiết kế còn
phải tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà thầu thi công công trình, đại diện cho
Chủ đầu tư giải quyết vướng mắc tồn tại trong quá trình thi công.
3.2.2.4. Biện pháp ở giai đoạn quản lý vận hành dự án
Một dự án vận hành có đúng với mục tiêu ban đầu đặt ra hay không phụ
thuộc vào đội ngũ vận hành dự án đó. Công tác chuẩn bị đội ngũ cán bộ vận
hành đòi hỏi phải được kiện toàn ngay từ khâu tiếp cận các tài liệu hướng dẫn
vận hành cũng như trình tự vận hành máy móc thiết bị, nắm bắt được các yêu
cầu về thiết bị và công nghệ chuyển giao. Một số biện pháp cụ thể như sau:
- Xây dựng và ban hành quy chế về tổ chức, vận hành dự án.
Tổ chức bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ. -
3.2.4. Các biện pháp khắc phục rủi ro trong đầu tư xây dựng
Tăng cường chất lượng của các thông tin trong và ngoài nước về các lĩnh -
vực có liên quan như đường lối, chính sách, pháp luật, công nghệ mới, năng
lực của các nhà thầu, ...
- Khi lập dự án đầu tư phải đảm bảo chất lượng của mục phân tích an toàn
tài chính bao gồm các vấn đề như: an toàn về nguồn vốn, điểm hòa vốn, khả
năng trả nợ, thời hạn thu hồi vốn, độ nhạy của dự án, ...
Lập kế hoạch có tính đến các nhân tố rủi ro như: dự phòng đầy đủ các -
tình huống bất trắc, bảo đảm tính linh hoạt mềm dẻo của kế hoạch, tính dễ
thích nghi của các phương án kinh doanh.
Tăng cường vai trò kiểm tra ở mọi giai đoạn, mọi khâu trong chu trình -
dự án.
79
Có biện pháp bảo toàn vốn đối với lạm phát và trượt giá cũng như sự -
thay đổi của tỷ giá hối đoái (đặc biệt cần lưu ý trong việc đấu thầu quốc tế,
giá bán điện theo đô la Mỹ).
- Áp dụng tối đa hình thức công ty cổ phần để phân tán rủi ro.
Thường xuyên kiểm tra kết quả đạt được so với dự kiến ban đầu khi lập -
dự án đầu tư để đề ra các biện pháp khắc phục kịp thời.
- Đặc biệt Tập đoàn Sông Đà cần có sự hỗ sự hơn nữa của Nhà nước
thông qua các chính sách về thuế, giá mua bán điện.
3.3. ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU
TƯ VÀO DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SÊ SAN 3A CỦA TẬP ĐOÀN SÔNG ĐÀ
3.3.1. Tổng quan về dự án thủy điện Sê San 3A
Dự án thủy điện Sê San 3A được thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại văn
bản số 898/QĐ-TTg ngày 07/10/2002 với những thông số cơ bản sau đây:
Tên công trình: Thủy điện Sê San 3A (hay Sê San Pô Kô) -
Chủ đầu tư: Tổng công ty Xây dựng Sông Đà (nay là Tập đoàn Sông Đà) -
sau này là Công ty Cổ phần thủy điện Sê San 3A.
- Địa điểm xây dựng dự án: Trên sông Sê San, huyện Chư Pah, tỉnh Gia
Lai.
Tổng mức đầu tư: 1.864,6 tỷ đồng (trong đó chi phí có gốc ngoại tệ mua -
thiết bị máy móc là 490 tỷ đồng tương đương 33,67 triệu Đô la Mỹ với tỷ giá
14.550 VNĐ/USD)
- Mục tiêu của dự án:
+ Tận dụng nguồn năng lượng tự nhiên của sông Sê San để sản xuất và
cung cấp cho lưới điện quốc gia nguồn điện với công suất 96 MW và điện
lượng trung bình hàng năm là 475 triệu KWh. Giảm bớt gánh nặng cho Tập
đoàn Điện lực Việt Nam EVN về nguồn vốn đầu tư nguồn điện trong giai
đoạn 2001-2005.
80
+ Tạo điều kiện cho việc nuôi trồng thủy sản, cải tạo môi trường và
phát triển du lịch.
+ Giải quyết việc làm cho khoảng 2.500 cán bộ công nhân viên của Tập
đoàn Sông Đà tham gia xây dựng công trình trong khoảng thời gian là 3,5
năm và tạo việc làm ổn định lâu dài cho 150 cán bộ vận hành nhà máy.
- Hình thức đầu tư: Chủ đầu tư tự huy động vốn đầu tư, xây dựng và vận
hành bán điện cho EVN theo Luật khuyến khích đầu tư số 03/1998/QH10
ngày 20/5/1998 và Nghị định số 51/1999/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi
tiết Luật khuyến khích đầu tư trong nước.
- Hình thức quản lý dự án: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án.
Thời gian thực hiện dự án: từ năm 2002 đến năm 2006. -
3.3.2. Thực trạng hoạt động đầu tư và vận hành của dự án thủy điện Sê
San 3A
3.3.3.1. Thực trạng hoạt động đầu tư xây dựng dự án
Dự án đầu tư thủy điện Sê San 3A được thực hiện theo hình thức Chủ
đầu tư (Tập đoàn Sông Đà) trực tiếp quản lý thông qua Ban quản lý dự án
Nhà máy Thủy điện Sê San 3A. Các gói thầu tư vấn phục vụ công tác lập báo
cáo nghiên cứu tiền khả thi (lập và bảo vệ đề cương khảo sát thiết kế, khảo sát
địa hình, địa chất, khí tượng, thủy văn, điều tra khảo sát phục vụ tái định cư
và giải phóng mặt bằng, lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi) giao cho Công ty
Tư vấn điện 1. Các gói thầu tư vấn chủ yếu giao cho Công ty TNHH Tư vấn
Xây dựng Ucrin, Công ty Tư vấn Xây dựng Sông Đà thực hiện. Các gói thầu
xây lắp giao cho các đơn vị thành viên Tập đoàn và một số đơn vị ngoài thực
hiện thông qua Công ty Xây dựng Sông Đà 6 làm thầu chính. Đấu thầu rộng
rãi chiếm tỷ lệ nhỏ trong Tổng mức đầu tư: 01 gói đấu thầu rộng rãi quốc tế
(gói thiết bị thủy lực, thiết bị điện), 01 gói đấu thầu rộng rãi trong nước (gói
thiết bị thủy công) chiếm 26,5% tổng mức đầu tư. Trong quá trình thực hiện
81
đầu tư, dự án đã thay đổi kế hoạch đấu thầu rất nhiều lần: điều chỉnh gói thầu
thiết bị cơ khí thủy công sang chỉ định thầu cho đơn vị trong Tổng công ty và
liên doanh của Chủ đầu tư, chỉ định thầu cho Tổng công ty là tổng thầu EPC
của dự án. Như vậy việc lắp đặt toàn bộ hệ thống thiết bị do các đơn vị trong
Tập đoàn thực hiện, thiết bị nhà máy do nhà thầu Trung Quốc đã trung thầu
cung cấp. Việc thay đổi kế hoạch đấu thầu trên đã tạo việc làm cho các đơn vị
trong Tổng công ty, tuy nhiên lại ảnh hưởng đến sự cạnh tranh của các đơn vị,
làm giảm hiệu quả đầu tư dự án, hạn chế sự đồng bộ của máy móc thiết bị.
Đến năm 2003, Tập đoàn Sông Đà thành lập Công ty Cổ phần thủy điện
Sê San 3A với 03 cổ đông sáng lập là Tổng công ty Sông Đà (nay là Tập đoàn
Sông Đà) chiếm 51% Vốn điều lệ, Tổng công ty Điện lực Việt Nam (nay là
Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN) chiếm 30% Vốn điều lệ và Công ty Sản
xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Bình Minh chiếm 19% Vốn điều lệ. Công ty
cổ phần điện Sê San 3A thực hiện đầu tư tiếp dự án và sau khi hoàn thành đầu
tư xây dựng sẽ là đơn vị vận hành, khai thác dự án.
Trong quá trình thực hiện dự án, do đơn vị tư vấn sản xuất bản vẽ thiết
kế không đúng tiến độ, không sát với thực tế làm quá trình thi công bị kéo dài,
sửa chữa bản vẽ nhiều lần. Năng lực thi công của các đơn vị yếu do thiếu
nhân lực, máy móc thiết bị, năng lực quản lý chưa cao cũng là những yếu tố
làm chậm tiến độ. Công tác giám sát và tổ chức thi công khu vực tường dẫn
dòng sai cốt thiết kế, dẫn đến phải xử lý bằng bê tông đổ bù, làm ảnh hưởng
đến tiến độ thi công. Một số định mức và đơn giá dự toán được xây dựng
riêng cho dự án thủy điện Sê San 3A nhưng chủ đầu tư chưa trình Bộ Xây
dựng cho ý kiến thỏa thuận theo quy định, trách nhiệm thuộc về chủ đầu tư là
Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển điện Sê San 3A.
Dự án đưa vào vận hành khai thác chậm so với dự tính ban đầu gần 1
năm, nhưng ngay sau khi vận hành tổ máy số 1 được 5 tháng và chạy thử tổ
82
máy số 2 thì cả hai tổ máy phát nổ, làm thiệt hại hàng tỷ đồng. Sau 1 tháng
sửa chữa, nhà máy thủy điện Sê San 3A mới hoàn thành sửa chữa và đi vào
vận hành. Nguyên nhân là do sự không đồng bộ của máy móc thiết bị trong
quá trình lắp đặt, mua sắm.
Hàng năm, Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Điện Sê San 3A vẫn
phải đầu tư thêm để hoạt động, sửa chữa dự án thủy điện do các sự cố về hỏng
hóc trong quá trình vận hành.
3.3.3.2. Thực trạng hoạt động vận hành sản xuất của dự án
Sau khi dự án bước vào giai đoạn vận hành khai thác từ tháng 12 năm
2006, Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển điện Sê San 3A đã đạt được
những bước thành công đáng kể, đem lại hiệu quả cho dự án đầu tư như nêu
tại bảng 3.1.
Sản lượng điện sản xuất hàng năm thấp hơn nhiều so với lập báo cáo dự
án: sản lượng năm 2007 là 327 triệu KWh (đạt 69% thiết kế), năm 2008 là
401 triệu KWh (đạt 84% thiết kế), năm 2010 sản lượng đạt 325 triệu KWh
(đạt 68% thiết kế), chỉ có năm 2009, 2011 đạt trên 95% thiết kế (449 triệu
KWh và 470 triệu KWh).
Ngoài ra, dự án còn có mục đích tạo công ăn việc làm cho 150 cán bộ
công nhân viên trong giai đoạn ổn định sản xuất, nhưng bình quân các năm
mới chỉ được 100 cán bộ công nhân viên có công ăn việc làm nhờ dự án.
Trong quá trình vận hành dự án, còn phát sinh rất nhiều chi phí sửa chữa
máy móc thiết bị, chi phí quản lý cao hơn so với dự kiến ban đầu. Tỷ lệ lạm
phát tăng cao, lãi suất ngân hàng tăng lên nhiều nhất là trong năm 2010-2011
làm lãi vay tăng, tỷ suất đồng Việt Nam và Đô la Mỹ cũng tăng. Chính những
lý do trên là chi phí đầu tư ban đầu và chi phí vận hành cao, làm giảm hiệu
quả dự án.
83
Vì dự án mới đi vào vận hành khai thác được 6 năm (thực tế là 5 năm, do
năm 2006 chỉ vận hành được từ tháng 12/2006) nên việc tính hiệu quả dự án
còn chưa thực tế vì thời gian vận hành của dự án thủy điện còn rất dài. Tuy
nhiên, việc đánh giá trên đây mới chỉ mang tính định tính, dựa vào các số liệu
của các năm đã thực hiện. Nếu những năm sau, Công ty Cổ phần Đầu tư và
Phát triển Điện Sê San 3A không có những biện pháp giảm chi phí quản lý,
vận hành và tăng sản lượng cũng như giá bán thì hiệu quả của dự án chắc
chắn sẽ không được như mong muốn của Chủ đầu tư khi lập dự án.
3.3.3. Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư vào dự án thủy
điện Sê San 3A
Từ những phân tích ở trên, và những biện pháp nhằm tăng hiệu quả đầu
tư dự án của Tập đoàn Sông Đà, có thể áp dụng vào dự án thủy điện Sê San
3A như sau:
Phải đấu thầu tư vấn thiết kế ở tất cả các giai đoạn thực hiện đầu tư, -
tránh tình trạng thiết kế chưa sát thực tế, xuất bản thiết kế thi công chậm, làm
chậm tiến độ chung của dự án và làm phát sinh những khối lượng công việc
không đáng có.
Tập đoàn phải sáng suốt lựa chọn những đơn vị thi công có năng lực, -
không để tình trạng thiếu nhân lực, máy móc thiết bị gây ảnh hưởng chung
đến tiến độ của toàn dự án.
Thực hiện tốt công tác giám sát đầu tư, nhật ký công trường phải được -
quan tâm và chính xác, khi có khối lượng phát sinh, phải có xác minh của các
bên, tránh tình trạng gây khó dễ khi quyết toán sau này.
- Nâng cao trình độ bộ máy quản lý của Tập đoàn, cũng công ty, tránh tình
trạng thay đổi kế hoạch đấu thầu liên tục, ảnh hưởng xấu tới hình ảnh của Tập
đoàn.
84
- Đối với thiết bị máy móc, hạn chế việc tách gói thầu gây nên sự không
đồng bộ trong dây chuyền máy móc thiết bị, để việc bảo hành và vận hành
được dễ dàng hơn.
- Việc đánh giá rủi ro phải được quan tâm hơn, tính toán trượt giá, tỷ giá
quy đổi chính xác hơn.
Trong quá trình vận hành, đơn vị cần xây dựng quy trình tổ chức và vận -
hành hợp lý, tổ chức bảo dưỡng định kỳ.
- Đàm phán giá điện và sản lượng điện hợp lý với Tập đoàn điện lực Việt
Nam nhằm tăng được sản lượng và giá bán điện lên mức tối đa cho phép.
Lập biện pháp tích nước hồ chứa trong mùa mưa, phục vụ phát điện cho -
mùa khô nhưng không làm ảnh hưởng đến sản xuất của dân cư quanh khu vực
dự án.
85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, đặc biệt là công trình thủy
điện là vấn đề lớn và rất phức tạp liên quan đến rất nhiều các chủ thể. Để nâng
cao chất lượng công tác quản lý dự án thủy điện bao gồm rất nhiều vấn đề cần
phải giải quyết một cách đồng bộ và bài bản, mỗi vấn đề đều có những tác
động nhất định ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của dự án thủy điện. Nghiên
cứu để tìm ra những nguyên nhân của sự hạn chế, tồn tại từ đó đề xuất những
biện pháp cho vấn đề này là rất khó khăn. Do đặc thù của lĩnh vực xây dựng
thủy điện là các công trình thường được đầu tư xây dựng trong thời gian rất
dài, vốn đầu tư rất lớn, công trình ảnh hưởng đến nhiều ngành kinh tế - xã hội,
trong khi các cơ chế chính sách của nhà nước thường hay thay đổi, vì vậy
công tác phân tích đánh giá các dự án đầu tư công trình thủy điện gặp rất
nhiều khó khăn.
Qua các nội dung nghiên cứu đề tài “Thực trạng đầu tư và biện pháp
nâng cao hiệu quả đầu tư các dự án thủy điện của Tập đoàn Sông Đà” tác
giả đã tập trung giải quyết một số nội dung chính sau đây:
Làm rõ khái niệm, nội dung quản lý nhà nước đối với công tác quản lý
đầu tư và xây dựng nói chung và quản lý các dự án đầu tư xây dựng thủy điện
nói riêng trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp quy hiện hành về quản lý đầu
tư xây dựng của nhà nước Việt Nam, các văn bản của Bộ Xây dựng và các quá
trình của chu kỳ đầu tư để phân tích nhiệm vụ, vai trò, trách nhiệm của Chủ đầu
tư và các chủ thể khác tham gia vào hoạt động đầu tư xây dựng. Thông qua các
tài liệu, các kết quả nghiên cứu để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu.
Trên cơ sở lý luận về quản lý đầu tư để phân tích thực trạng công tác
quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình thủy điện tại Tập đoàn Sông Đà để
thấy được những tồn tại, những vấn đề còn hạn chế về môi trường pháp lý, hệ
86
thống tổ chức, trình độ năng lực chuyên môn cũng như năng lực điều hành dự
án để đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả của công
tác quản lý dự án đầu tư, các biện pháp chủ yếu tập trung vào các vấn đề liên
quan đến quá trình quản lý dự án của Chủ đầu tư. Các biện pháp bao gồm:
- Hoàn thiện môi trường đầu tư, phân cấp, định hướng đầu tư và hoàn
thiện bộ máy quản lý
Các biện pháp tác động vào quy trình dự án -
Các biện pháp khắc phục rủi ro trong đầu tư xây dựng -
KIẾN NGHỊ
Qua quá trình thống kê, phân tích những tài liệu liên quan đến quá trình
quản lý dự án đầu tư công trình thủy điện của Tập đoàn Sông Đà, cũng như
quá trình thực tế triển khai thực hiện, kiến nghị một số nội dung sau:
Đối với nhà nước:
Cần ban hành các văn bản dưới luật một cách cụ thể hơn để hướng dẫn -
các ngành, các doanh nghiệp thực hiện các chủ trương chính sách kinh tế của
Đảng và Nhà nước một cách triệt để; tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh,
chống tham ô, lãng phí nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Cần kiểm soát chặt chẽ mức trần của lãi vay để các doanh nghiệp nhất -
là doanh nghiệp Xây dựng có thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn tốt hơn.
Cần thiết phải phân cấp quyết định đầu tư hơn nữa để tăng tính chủ động -
trong công việc của Chủ đầu tư.
Đối với Công ty:
Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý, thường xuyên kiểm tra, giám sát -
các đơn vị thực hiện công tác đầu tư, đặc biệt là đầu tư công trình thủy điện.
Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ, tạo môi trường làm việc chuyên
nghiệp cho cán bộ công nhân viên trong toàn Tập đoàn.
87
Có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng, ban chuyên môn với các đơn -
vị trực thuộc và giữa các đơn vị với nhau phát huy nội lực nhằm phát triển thị
trường, chiếm lĩnh tạo vị thế, thị phần, thương hiệu cho Tập đoàn Sông Đà
trường quốc tế.
Có chính sách khuyến khích lao động nhất là những cán bộ có trình độ, -
có thâm niên trong nghành, kinh nghiệm trong công tác quản lý, kinh doanh
phát huy hết năng lực góp phần vào sự nghiệp phát triển của công ty.
Với thời gian nghiên cứu có hạn, trong khi vấn đề nghiên cứu rộng và
phức tạp. Mặc dù đã được sự tận tình giúp đỡ của các đồng nghiệp và đặc biệt
là sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo, PGS.TS Bùi Văn Vịnh, PGS.TS Nguyễn
Xuân Phú, nhưng sự hiểu biết kiến thức chung của bản thân còn hạn chế, thời
gian công tác chưa dài nên sự nghiên cứu về Tập đoàn chưa rộng, do đó
không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý chia sẻ
của các thầy giáo, cô giáo và những người quan tâm đến lĩnh vực quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình thủy điện để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện.
88
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Công thương (2012), Danh sách các nhà máy điện tham gia
thị trường phát điện cạnh tranh từ ngày 01 tháng 7 năm 2012, Quyết định số
30/QĐ-ĐTĐL ngày 17/5/2012.
2. Bộ Tài chính (2000), Quy chế tổng hợp, phân tích báo cáo tài
chính doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn, Quyết định số 208/2000/QĐ-
BTC.
3. Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam (2009), Thí điểm thành
lập, tổ chức, hoạt động và quản lý Tập đoàn kinh tế Nhà nước, Nghị quyết số
101/2009/NĐ-CP.
4. Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam (2011), Những giải pháp
chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh
xã hội, Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011.
5. PGS.TS Nguyễn Xuân Phú (2010), Giáo trình Kinh tế đầu tư xây
dựng thủy lợi.
6. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam khóa XI (2003), Luật xây
dựng, Số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003.
7. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam khóa XI (2005), Luật Đấu
thầu, Số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005.
8. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam khóa XI (2005), Luật Đầu
tư, Số 59/2005/QH11.
9. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam khóa XII (2009), Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản,
Số 38/2009/QH12.
89
10. Tập đoàn Sông Đà, Báo cáo tổng kết hoạt động sản xuất kinh
doanh các năm 20002011 và Kế hoạch sản xuất kinh doanh các năm
20122015.
11. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quy hoạch phát triển điện lực
quốc gia giai đoạn 2006 – 2015 có xét đến năm 2025, Quyết định số
110/2007/QĐ-TTg ngày 18/7/2007.
12. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quy hoạch phát triển điện lực
quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 có xét đến năm 2030, Quyết định số
1208/QĐ-TTg ngày 21/7/2011.
13. Thủ tướng Chính phủ (2011), Điều lệ tổ chức và hoạt động của
Tập đoàn Sông Đà, Quyết định số 344/QĐ-TTg ngày 08/3/2011.
14. Bùi Ngọc Toàn (2009), Quản lý dự án xây dựng- Quyển 1, 2, 3-
NXB Xây dựng.
15. PGS.TS Nguyễn Bà Uân (2010), Giáo trình Quản lý dự án.
16. Viện NC và đào tạo về quản lý - NXB Lao động và xã hội
(2007), Quản lý dự án Công trình xây dựng.
17. Các văn bản pháp quy về quản lý đầu tư xây dựng công trình.

