
Tiếp cận nghĩa của tục ngữ trong
ngữ cảnh
1. Giao tiếp ngôn ngữ là quá trình tương tác lẫn nhau giữa người nói và người nghe. Các
phát ngôn lệ thuộc vào niềm tin và ý định của người nói, vào sự chờ đợi, sự suy luận của
người nghe, vào vốn hiểu biết chung giữa người nói và người nghe. Tuỳ theo ngữ cảnh
mà cùng một phát ngôn có thể được lĩnh hội một cách khác nhau. Cũng tuỳ theo ngữ
cảnh mà những thành tố được vận dụng trong đó sẽ có nội dung ngữ nghĩa xác định. Khi
được vận dụng trong giao tiếp, nghĩa của tục ngữ nói chung sẽ được hiện thực hoá. Điều
này cho thấy khảo sát nghĩa của tục ngữ không chỉ nên dựa vào văn bản mà còn cần phải
tìm hiểu chúng trong ngữ cảnh.
Trong phần “Tiểu luận” của quyển “Tục ngữ Việt Nam”, Chu Xuân Diên có viết:
“Trong sáng tác dân gian của mỗi dân tộc, tục ngữ là thể loại có mối quan hệ hữu cơ hơn
cả với lời ăn tiếng nói của nhân dân. Tục ngữ được sáng tạo ra trước hết nhằm đáp ứng
nhu cầu tổng kết và phổ biến kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử - xã hội của
quần chúng lao động...” [1,11-12]. Chính vì vậy, nghiên cứu nghĩa của tục ngữ cần đi
theo hai hướng: tìm hiểu văn bản và tìm hiểu qua sự vận dụng văn bản đó trong thực tế
giao tiếp. Nếu chỉ dừng ở việc khảo sát nghĩa của văn bản tục ngữ mà chúng ta sưu tầm
được thì sẽ không thể biết được tục ngữ được tái hiện như thế nào trong giao tiếp và với
nghĩa cụ thể ra sao. Tục ngữ được sản sinh ra trong lời ăn tiếng nói và tái hiện không
ngừng trong hoạt động ngôn giao. Chính trong quá trình vận dụng mà nghĩa của tục ngữ
mới được hiện thực hoá; được tồn sinh, tái tạo và thực hiện các chức năng của mình.
Điều này không chỉ phù hợp với đặc trưng thể loại mà còn cho chúng ta thấy người ta đã
tri nhận tục ngữ như thế nào cũng như giá trị sử dụng của chúng trong giao tiếp. Mặt
khác, do sự chi phối của các nhân tố ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ như: hoàn cảnh, đối

tượng, mục đích giao tiếp...mà khi xuất hiện trong chuỗi lời nói, tục ngữ có thể thu nhận
cho mình nét nghĩa mới, nghĩa do ngữ cảnh tạo ra. Đồng thời, các nhân tố ngôn ngữ và
ngoài ngôn ngữ cũng có thể chi phối diện mạo của tục ngữ. Nghĩa là cấu trúc của tục ngữ
có thể được giữ nguyên nhưng cũng có thể bị phá vỡ, cải biến trong từng trường hợp vận
dụng nhất định. Đấy là một thực tế và chúng tôi đã ghi nhận không ít ngữ cảnh trong đó
tục ngữ được vận dụng ở dạng như thế.
1.1. Nói chung, trong xu hướng hiện nay, các nhà nghiên cứu đang tiếp cận văn học dân
gian trong ngữ cảnh, trong diễn xướng. Về vấn đề này, Nguyễn Thị Hiền có viết như sau:
“Cách tiếp cận theo diễn xướng không phải phủ nhận tầm quan trọng của văn bản
folklore được sưu tầm trước đây mà văn bản hoá diễn xướng có thể làm được để giúp
việc nghiên cứu nghệ thuật ngôn từ truyền miệng trong thực tế nó được diễn xướng. Văn
bản có kèm theo những thông tin về nghệ thuật diễn xướng cung cấp tư liệu về người
diễn xướng và khung cảnh văn hoá xã hội. Kinh nghiệm nghiên cứu folklore từ những
thập kỉ gần đây ở Hoa Kỳ về việc thể hiện cả hai yếu tố ngôn từ và phi ngôn từ trong một
chừng mực nhất định đưa ra một khuôn mẫu mới của văn bản. [4, 602- 603]. Điều này,
với tục ngữ có ý nghĩa quan trọng. Bởi vì, tách rời khỏi môi trường vận dụng, tục ngữ chỉ
còn là những văn bản khô cứng, dẫu rất lí thú vì cung cấp cho ta biết được cách nói, cách
nghĩ, dấu ấn văn hoá của thời đại mà tục ngữ đã được sản sinh và tồn tại nhưng vẫn thiếu
đi hơi thở của cuộc sống đời thường vốn rất phong phú, sinh động, muôn hình, vạn vẻ.
1.2. Tầm quan trọng của việc khảo sát tục ngữ trong ngữ cảnh đã được Alan
Dundes đề cập từ lâu trong tiểu luận “Kết cấu, văn bản và bối cảnh” (Texture, text, and
context). Ông viết: “Ghi bối cảnh là quan trọng cho mọi thể loại Folklore, nhưng nó tuyệt
đối cần thiết cho tục ngữ và điệu bộ. Tuy vậy, đa số các cuộc sưu tầm tục ngữ chỉ cung
cấp văn bản. Đây là sưu tầm tục ngữ không có bối cảnh. Tục ngữ, với tính cách là những
ví dụ của một thể loại folklore có cụm từ cố định, phải được ghi bằng tiếng bản địa gốc
để kết cấu cũng được giữ gìn. Nhưng bối cảnh thì sao? Bối cảnh cũng quan trọng như kết
cấu, thế mà nó hầu như chẳng bao giờ được ghi. (...) Khi đã ghi cả văn bản lẫn kết cấu,
chúng ta có thể nói câu tục ngữ có ý nghĩa gì không? Chúng ta có biết câu tục ngữ có thể

được dùng lúc nào, như thế nào và tại sao không? Nên coi văn bản của tục ngữ là hơi
giống phần của một tảng băng nổi trên mặt nước và mắt thường có thể dễ nhìn rõ. Cái mà
câu tục ngữ lấy làm cơ sở có thể không nhìn thấy hoặc chìm dưới bề mặt, nhưng nhà
nghiên cứu folklore có kinh nghiệm biết cách dò đến điểm thấp nhất. Đặt vấn đề theo
cách khác, một tục ngữ có thể ví với “từ tương liên khách quan” của T.S. Eliot ở chỗ nó
thường là biểu hiện riêng hoặc chuỗi sự kiện dùng để gợi ra một cảm xúc hay thái độ nào
đó. Do đó, thảo luận về một tục ngữ mà không nói đến điều mà tục ngữ gợi ra thì cũng vô
bổ như nghiên cứu các ám chỉ văn học mà chẳng hiểu điều mà các ám chỉ nói bóng gió.
Nếu có văn học truyền miệng, thì cũng có phê bình văn học truyền miệng hoặc bản địa.
Các nhà nghiên cứu folklore sai lầm khi chỉ ghi văn bản và cho rằng họ sẽ tiến hành tất cả
việc phân tích (hoặc phê bình văn học) cần thiết.“ [8, 515- 516].
Theo Alan Dundes, kết cấu, văn bản và bối cảnh đều phải được ghi lại. Quan hệ
qua lại giữa ba cấp của chúng đều phải được xem xét toàn diện. Thay đổi trong bối cảnh
rõ ràng có thể làm thay đổi trong kết cấu. Rất tiếc điều này đã không được thực hiện
trong quá trình sưu tập về tục ngữ trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Và chính vì thế,
hiện nay chúng ta chỉ có văn bản tục ngữ, còn cả quá trình hình thành nên nó, từ một phát
ngôn tự nhiên phản ánh những quan niệm nhân sinh hay đúc kết những vấn đề trong xã
hội, những kinh nghiệm về các hiện tượng tự nhiên, chăn nuôi hay trồng trọt...cho đến lúc
cố định hoá bằng những khuôn hình và được ghi lại ngày nay chúng ta không thể biết
được. Ngay từ lúc sinh thành, một câu tục ngữ nào đó được dùng để biểu trưng điều gì
trong cuộc sống? Người ta vận dụng nó trong những hoàn cảnh giao tiếp gì? Nhằm mục
đích gì, tác động như thế nào?...Các câu hỏi đó gần như chúng ta khó trả lời chính xác vì
thiếu ngữ cảnh vận dụng chúng. Và, như thế, văn bản tục ngữ giống như chú cá bị lưới
giăng câu bắt khi đang tung tăng bơi lội giữa sông nước bao la rồi được đưa đem về khảo
sát. Chúng ta chỉ thấy được nó ở trạng thái bất động, vô hồn, khô héo. Khi đắm mình giữa
sông nước hay đại dương mênh mông, chú cá kia sẽ bơi lội như thế nào, dáng vẻ ra sao?
Chúng sinh sống ra sao?...Chắc chắn nó sẽ muôn hình, vạn trạng và đầy bất ngờ lí thú.
Khi bàn về nguồn gốc của tục ngữ, Chu Xuân Diên có dẫn ra trường hợp sau: “Khi dẫn

câu “Bè ai nấy chống” thì ý ta muốn nói rằng “ai có phận người nấy”, “việc của ai người
nấy làm”! Nhưng tại sao lại “Bè ai nấy chống”? Theo nhân dân vùng Đồng Nai (Nam
bộ) thì cách đây khoảng 300 năm, đất vùng này còn hoang vu. Những người đến khai
phá, sinh cơ lập nghiệp đầu tiên ở đây thường tập hợp sống thành từng bè với nhau trên
sông nước, nương tựa vào nhau mà sống, có việc gì thì chèo chống với nhau. Câu tục ngữ
nói về cái nếp sống vốn rất cụ thể của những người dân Đồng Nai đầu tiên ấy, về sau
được dùng để nói về cái nếp sống “việc ai người nấy làm” phổ biến trong xã hội phong
kiến với nền sản xuất nhỏ có nhiều phần mang tính chất tự cấp tự túc. Cùng với quá trình
biến nghĩa đó, hiện tượng đời sống cụ thể làm cơ sở cho nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của
câu tục ngữ cũng lui vào quá khứ và trở thành một hiện tượng xã hội chỉ có ý nghĩa đánh
dấu một đặc điểm giai đoạn đã qua của đời sống nhân dân, đời sống dân tộc.” [1, 68]. Cứ
tạm cho rằng nguồn gốc của câu tục ngữ “Bè ai nấy chống” của tác giả sách “Tục ngữ,
cổ ngữ, gia ngôn” đưa ra (mà Chu Xuân Diên dẫn lại) là chính xác thì chúng ta cũng
thấy một điều thiếu ngữ cảnh vận dụng sẽ gây khó khăn như thế nào trong việc tìm hiểu
tục ngữ. Ta vẫn có thể khảo sát chúng nhưng chẳng khác gì các nhà cổ sinh vật học
nghiên cứu hoá thạch. Tất nhiên, không thể trả tục ngữ về căn nhà xưa, chốn quê cũ nơi
nó đã sinh thành và phát triển vì đã có quá nhiều “thương hải tang điền” nhưng có thể
khảo sát chúng ở môi trường vận dụng mới để tìm hiểu nghĩa của chúng (và cả những vấn
đề khác nữa) một cách sinh động, “đời thường” hơn.
2. Chu Xuân Diên có viết: “Tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội. Mỗi người
dân trong một xã hội nhất định đều có thể ít hay nhiều tích luỹ trong trí nhớ và hay dùng
đến một số câu tục ngữ nhất định phù hợp với kinh nghiệm sống và lí tưởng sống của
người ấy, còn toàn bộ những câu tục ngữ được nhân dân một dân tộc sáng tạo, tích luỹ,
lưu truyền và dùng đến trong đời sống hàng ngày thì hợp thành vốn tục ngữ của dân tộc,
vốn tục ngữ này phản ánh khá trung thành những kinh nghiệm sống và lí tưởng của nhân
dân, dân tộc ấy trong một thời kì lịch sử nhất định. [1, 52-53]

Về việc vận dụng tục ngữ ông cũng có viết như sau: “... về phía người nghe, tuỳ theo
từng thời đại khác nhau và cả từng hoàn cảnh khác nhau trong một thời đại nhất định, có
thể đồng ý hoặc phản đối những “phương châm xử thế” mà người nói nêu ra qua các câu
tục ngữ. Còn về phía người nói thì với tư cách là những “phương châm xử thế”, những tư
tưởng của các câu tục ngữ mà họ sử dụng rõ ràng là những tư tưởng nằm trong hệ thống
quan niệm của họ, hay ít nhất cũng phù hợp với hệ thống quan niệm của họ về cuộc
sống.” [1, 52]
2.1. Trong “Tục ngữ Việt Nam- cấu trúc và thi pháp” [5], Nguyễn Thái Hoà đã có
những lời bàn lí thú về vấn đề vận dụng của tục ngữ. Vềhoàn cảnh vận dụng, ông cho
rằng nó thường xuất hiện trong những trường hợp sau:
- Khi cuộc giao tiếp có vấn đề gay cấn, phải thương lượng, thuyết phục đối tượng,
hoặc là những trường hợp tế nhị, khó thiết lập quan hệ, nói năng trở thành không dễ dàng.
Đó là những trường hợp: đi ăn hỏi (hỏi vợ), trò chuyện giữa nhà trai và nhà gái; thuyết
phục những người nặng óc bảo thủ thay đổi ý kiến trong sự vận động sinh đẻ có kế
họach; quảng cáo hàng hóa, thuyết phục người mua khó tính...
- Có những hiện tượng khó gọi tên cho thật đúng, thật sát bằng một từ, thậm chí
bằng một câu hay một đoạn nhiều câu, trong khi người nói lại muốn tránh bày tỏ thái độ
một cách lộ liễu. Những tình thái của phát ngôn hoặc hàm ý do người nghe tự suy ra mà
hiểu, nên phải dùng tục ngữ.
- Thông thường nhất là dùng tục ngữ để lập luận, lí giải. Ông cho rằng, chức năng
lập luận là một chức năng chủ yếu của tục ngữ. Nhưng cách thức sử dụng rất đa dạng,
hoặc có thể chỉ là một hàm ngôn giao tiếp, hoặc là sử dụng nguyên vẹn, hoặc dùng một
phần để gợi ý cho người nghe, hoặc biến đổi theo cách diễn đạt của mình.
Như vậy, giữa văn bản tục ngữ và ngữ cảnh vận dụng có mối quan hệ gắn chặt với
nhau. Giống như các thể loại khác của văn học dân gian, tục ngữ có thể phục vụ như một
phương tiện truyền bá tư tưởng khách quan cho sự giao tiếp cá nhân, tức chủ quan của
người nói.

