
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. Hố Chí Minh
------------
Môn: Tài chính quốc tế
Đề tài:
ĐỘNG LỰC CÂN BẰNG THƯƠNG MẠI
VÀ TỶ LỆ MẬU DỊCH - ĐƯỜNG CONG J?
GVHD: GS. TS. TRẦN NGỌC THƠ
Thực hiện: Nhóm 15
Lớp: Ngân hàng Đêm 1 – Khóa 22
Danh sách nhóm
1. Nguyễn Thị Nhật Vy
2. Vương Thị Thùy Linh
3. Phạm Thành Đạt 0903.100721
4. Nguyễn Thanh Phong
TPHCM, tháng 07 năm 2013.

2
Mục lục
Tóm tắt (Abstract) ...................................................................................................... 3
1. GIỚI THIỆU .......................................................................................................... 3
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................................... 5
3. NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.................................................. 7
3.1. Nghiên cứu những biến động mang tính chu kỳ của xuất khẩu ròng, và
mối tương quan giữa xuất khẩu ròng và đáp số của mậu dịch của 11 quốc gia
phát triển. ................................................................................................................ 7
3.2. Nghiên cứu mô tả một lý thuyết kinh tế mà ở đó hai quốc gia có những
sản phẩm tạo ra khác nhau về vốn và lao động, và sẽ đối mặt với cú sốc năng
suốt và chi tiêu Chính phủ ..................................................................................... 13
3.3. Các tác giả thảo luận về sự lựa chọn các giá trị của tham số và phương
pháp tính toán lộ trính cân bắng của xuất khẩu ròng, đáp số của mậu dịch, và
những nhân tố khác ............................................................................................... 16
3.4. Bài nghiên cứu đưa ra tiêu chuẩn của mô hình, bao gồm sự tương quan
giữa xuất khẩu ròng và tỷ lệ mậu dịch ................................................................... 18
3.5. Hai thí nghiệm đặc biệt: Nền kinh tế không có vốn và đầu tư ; Và nền
kinh tế chỉ có chi tiêu của Chính phủ ..................................................................... 28
3.6. Phần nghiên cứu thêm một số đặc trưng của lý thuyết, bao gồm hai phần
mà các tác giả cho là bất thường............................................................................ 30
4. KẾT LUẬN .......................................................................................................... 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 34

3
ĐỘNG LỰC CÂN BẰNG THƯƠNG MẠI VÀ TỶ LỆ
MẬU DỊCH: LÝ THUYẾT ĐƯỜNG CONG J
Tóm tắt (Abstract)
Các tác giả đưa ra một sự giải thích mang tính lý thuyết của hai hiện
tượng quốc tế: xu hướng vận động ngược chu kỳ trong xuất khẩu ròng và
khuynh hướng của cán cân thương mại không quan hệ với những thay dổi trong
hiện tại và tương lai của tỷ lệ mậu dịch, nhưng lại có quan hệ với những thay
đổi trong quá khứ của chỉ số này.
Các tác giả cũng cho rằng quan điểm về sự cân bằng tổng thể là tất yếu.
Mối quan hệ giữa cán cân thương mại và tỷ lệ mậu dịch phụ thuộc vảo nguồn
gốc của sự thay đổi. Các tác giả đã chứng minh những đặc trưng của lý thuyết
trong nền kinh tế vì cú sốc chi tiêu của chính phủ hơn là vì năng suất. Trong
trường hợp này, mối tương quan chéo giữa các yếu tố xuất khẩu ròng và tỷ lệ
mậu dịch là hình tháp hơn là hình chữ S. Sự khác biệt giữa mối quan hệ chéo
giữa các yếu tố cú sốc năng suất và chi tiêu chính phủ làm rõ rằng không có
một cấu quan hệ đơn giản trong nền kinh tế của chúng ta giữa cán cân thanh
toán và đáp số của mậu dịch và gợi ý rằng không thể mô tả quan hệ giữa
thương mại và giá mà không đề cập rõ nguyên nhân của sự biến động.
1. GIỚI THIỆU
Các tác giả đưa ra một sự giải thích mang tính lý thuyết của hai hiện
tượng quốc tế: sự vận động ngược chu kỳ của xuất khẩu ròng và khuynh hướng
của cán cân thương mại không quan hệ với những thay đổi trong hiện tại và
tương lai của tỷ lệ mậu dịch, nhưng lại có quan hệ với những thay đổi trong quá
khứ của chỉ số này. Các tác giả gọi hình dạng bất cân xứng của tương quan
chéo giữa xuất khẩu ròng và tỷ lệ mậu dịch là đường cong S, vì những biến đổi
này giống hình chữ S nằm ngang. Đây chính là tiền thân của đường cong J.

4
Mục tiêu của bài nghiên cứu là cung cấp một giải thích cân bằng chung
của những thuộc tính này. Trong nền kinh tế của chúng ta, hai quốc gia sẽ sản
xuất những hàng hóa mang tính không thể thay thế một cách hoàn hảo hoàn
hảo với vốn và lao động, và sự biến động bắt nguồn từ những cú sốc về tổng
năng suất và việc chi tiêu của chính phủ vào hàng hóa và dịch vụ. Các tác giả
thấy những yếu tố hợp lý của lý thuyết kinh tế này phát triển từ tính không theo
chu kỳ của thương mại kết hợp với đường cong S. Phản ứng của việc biến động
năng suất là câu trả lời trực tiếp cho cả hai đặc tính trên. Một thuận lợi của việc
biến động năng suất trong nước là có thể dẫn đến một sự tăng trong sản xuất
trong nước, sự sụt giảm của giá thành có liên quan, và sự suy giảm trong tỷ lệ
mậu dịch.
Các tác giả cho rằng các quan điểm về cân bằng chung là điều cần
thiết, điều đó nghĩa là sự tương quan giữa thương mại và giá cả tương đối phụ
thuộc rất nhiều vào nguồn gốc của sự biến động..Trong nền kinh tế chuẩn mà
chúng ta xem xét thì biến động được điều khiển bởi cú sốc năng suất và chi tiêu
của chính phủ. Đây là hai biến độc lập tác động tới tỷ lệ mậu dịch và cán cân
thương mại.
Trước hết là cú sốc năng suất, khi có sự thuận lợi trong cú sốc năng
suất,sản lượng trong nước tăng và do đó làm giảm giá tương đối của nó dẫn tới
làm tăng tỷ lệ mậu dịch để từ đó ảnh hưởng tới cán cân thương mại. Đối với cú
sốc năng suất, kèm theo sau một cú sốc năng suất là sự bùng nổ đầu tư, điều
này làm cho tổng đầu tư và tiêu dùng tăng nhiều hơn sản lượng tăng do vậy làm
cho xuất khẩu ròng bị xấu đi. Điều này có thể giải thích như sau: trong thời kỳ
bùng nổ kinh tế, sản lượng tăng , thu nhập của người dân cũng tăng lên và do
đó họ có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn và đầu tư tăng. Tiêu dùng và đầu tư
tăng nhiều hơn sản lượng sẽ hấp thụ sản lượng tăng trong nước và tăng nhập
khẩu. Điều này sẽ làm cho xuất khẩu ròng xấu đi.
Trong nền kinh tế chỉ có cú sốc chi tiêu của chính phủ chúng ta nhận
thấy hàm tương quan chéo giữa cán cân thương mại và tỷ lệ mậu dịch là hình
tháp. Điều này là do không có sự bùng nổ đầu tư theo sau một cú sốc chi tiêu
của chính phủ. Chi tiêu chính phủ tăng sẽ làm cho sản lượng tăng nhiều hơn và

5
từ đó làm cho xuất khẩu ròng được cải thiện . Tức là chúng không có hình dạng
chữ S như chúng ta đã nhận thấy khi nghiên cứu ở 11 nước phát triển và trong
mô hình nền kinh tế chuẩn của chúng ta. Như vậy tương quan giữa cán cân
thương mại và tỷ lệ mậu dịch là tương quan cùng chiều. Tương tự như vậy
trong nền kinh tế không có vốn , cán cân thương mại chỉ đơn giản là một sự
phản ánh của biến động sản lượng và tiêu dùng đồng nhất thì một cú sốc lên
năng suất , sản lượng tăng thì tiêu dùng tăng song độ lệch chuẩn của tiêu dùng
nhỏ hơn so với sản lượng điều này làm cho cán cân thương mại cải thiện. Khi
đó đường biểu diễn tương quan giữa cán cân thương mại và tỷ lệ mậu dịch là
hình tháp giống như trong trường hợp nền kinh tế chỉ có cú sốc chi tiêu của
chính phủ.
Như vậy trong ngắn hạn, nền kinh tế tạo ra một đường cong chữ S khi
vốn hình thành là một phần của cơ chế lan truyền và tạo ra biến động được điều
khiển bởi các cú sốc năng suất. Muốn xác định được mối tương quan giữa xuất
khẩu ròng và tỷ lệ mậu dịch, cần phải biết được động lực tạo ra nó và sự phối
hợp giữa các động lực như thế nào để đem ra dự báo hợp lý.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm và bối cảnh nghiên cứu: Số liệu thống kê về tình hình thương
mại hàng quý sau chiến tranh cho 11 nước phát triển Australia (1960-1990), Áo
(1964-1990), Canada (1955-1990), Phần Lan (1975-1990), Pháp (1970-1990),
Đức (1968-1960), Ý (1970-1990), Nhật Bản (1955-1990), Thụy Điển (1970-
1990), Vương quốc Anh (1955-1990), Hoa Kỳ (1950-1990).
Qui trình nghiên cứu
Mô tả về dữ liệu hang quý sau chiến tranh, bao gồm các hành vi có tính
chu kỳ của xuất khẩu ròng và mối tương quan giữa xuất khẩu ròng và các điều
khoản của thương mại, trong 11 nước phát triển
Mô tả một nền kinh tế lý thuyết với hai nước sản xuất hàng hoá có vốn
đầu tư và lao động khác nhau cái này tác động đến năng suất và chi tiêu của
chính phủ

