intTypePromotion=1

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế trong thời kỳ đổi mới ở nước ta

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:30

1
1.437
lượt xem
277
download

Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế trong thời kỳ đổi mới ở nước ta

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chính trị với kinh tế là mối quan hệ cơ bản nhất, quyết định nhất tới sự vận động và phát triển của mọi xã hội. Điều đó đặt ra sự cần thiết phải nhận thức đầy đủ cả về lý luận và những kinh nghiệm lịch sử về sự tác động của chính trị vào phát triển kinh tế nhằm rút ra những giải pháp thiết thực cho công cuộc đổi mới toàn diện theo định hướng XHCN ở nước ta. Trong đời sống chính trị, các giai cấp thống trị đều sử dụng quyền lực nhà nước...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế trong thời kỳ đổi mới ở nước ta

  1. Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế trong thời kỳ đổi mới ở nước ta
  2. Mở đầu Chính trị với kinh tế là mối quan hệ cơ bản nhất, quyết định nhất tới sự vận động và phát triển của mọi xã hội. Điều đó đặt ra sự cần thiết phải nhận thức đầy đủ cả về lý luận và những kinh nghiệm lịch sử về sự tác động của chính trị vào phát triển kinh tế nhằm rút ra những giải pháp thiết thực cho công cuộc đổi mới toàn diện theo định hướng XHCN ở nước ta. Trong đời sống chính trị, các giai cấp thống trị đều sử dụng quyền lực nhà nước để giải quyết các quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích kinh tế. Nhưng khó khăn lớn nhất của sự tác động của chính trị trong việc hình thành và phát triển nền kinh tế thị tr ường định hướng XHCN ở nước ta là nghiên cứu về kinh tế thị trường vẫn chưa làm sáng tỏ câu trả lời về mặt lý luận (về quy luật, cơ cấu, biện pháp thực hiện...). Vì vậy, trước hết cần luận giải vai trò của chính trị với kinh tế làm rõ xu thế biến đổi, phát triển quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở giai đoạn hiện nay. Sự tác động của chính trị vào việc hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường. Trong phạm vi một bài tiểu luận ngắn chỉ nghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực tiễn ngắn gọn mà thôi.
  3. Phần nội dung I. Cơ sở lý luận giữa chính trị và kinh tế 1. Khái niệm "chính trị" và "kinh tế" "Chính trị" theo nghĩa chung nhất được hiểu như hoạt động liên quan đến mối quan hệ giữa các nhóm xã hội lớn, trước hết là giữa các giai cấp, xét rộng hơn nữa là quan hệ giữa các dân tộc, giữa các quốc gia trên thế giới. Xét về thực chất, chính trị là quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc, trong đó trước hết và cơ bản là lợi ích kinh tế trong việc giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước. Ph.Ăngghen khẳng định, chính trị là sự thống trị của giai cấp này đối với các giai cấp khác trong xã hội, là việc một giai cấp hay liên minh giai cấp nào đó nắm quyền lực để cai trị các giai cấp khác, để lãnh đạo các lĩnh vực của đời sống xã hội. Còn theo Lênin, trong chính trị vấn đề cốt lõi nhất là "thiết chế quyền lực nhà nước". Phạm vi của chính trị, trước hết bao hàm "sự tham gia vào các công việc của nhà nước, định hướng hoạt động của nhà nước, xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước". Như vậy, một vấn đề sẽ mang tính chính trị, nếu việc giải quyết nó động chạm đến lợi ích của giai cấp xã hội, đến quyền lực nhà nước. Do chính trị là quan hệ giữa các giai cấp xã hội, tức là sản phẩm của xã hội có giai cấp, gắn liền với sự ra đời, phát triển của nhà nước, nên nó là một hiện tượng lịch sử. Điều đó có nghĩa, nó có quá trình hình thành, phát triển và tiêu vong, như mọi quá trình, hiện tượng lịch sử xã hội khác. Đã có lúc xã hội loài người tồn tại mà không có chính trị, và cũng sẽ có lúc xã hội không cần đến chính trị với tư cách cơ quan quyền lực nhà nước nữa. Trong chính trị, vấn đề nắm quyền lực chính trị (biểu hiện tập trung ở quyền lực nhà nước) là một mục tiêu trọng tâm trực tiếp mà giai cấp, nhóm xã hội nào cũng hướng tới. Bởi vì, giai cấp, lực lượng nắm được quyền lực chính trị cũng đồng nghĩa với việc nắm được công cụ cơ bản để giải quyết quan hệ lợi ích với các giai cấp, nhóm xã hội khác theo hướng có lợi cho giai cấp, nhóm mình. Nắm được quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị có điều kiện thực hiện lợi ích của giai cấp mình bằng cách xây dựng hệ thống
  4. pháp luật phản ánh ý chí nguyện vọng của bản thân, triển khai thực hiện đường lối, chính sách phản ánh quan điểm, lợi ích của chính nó. "Kinh tế" là một phạm trù dùng để chỉ tổ hợp tất cả các quan hệ kinh tế (quan hệ giá trị sức lao động trong quá trình sản xuất) của một xã hội ở thời điểm lịch sử xác định, để chỉ cơ sở kinh tế của xã hội. Trong tổ hợp tất cả các quan hệ ấy thì quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất đóng vai trò quyết định, chi phối các quan hệ kinh tế khác, như quan hệ tổ chức sản xuất xã hội, quan hệ phân phối sản phẩm. Như vậy, lực lượng, giai cấp xã hội nào nắm quyền sở hữu những tư liệu sản xuất cơ bản, thì cũng có quyền quyết định trong tổ chức quản lý sản xuất và phân phối sản phẩm. Khái niệm kinh tế còn được dùng để chỉ toàn bộ các lĩnh vực, các ngành khác nhau của một nền kinh tế quốc dân (như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ...). Ngoài ra, khái niệm kinh tế cũng có thể được dùng ở nghĩa: chỉ một tính chất đặc trưng thể hiện mục tiêu then chốt, đó là tính hiệu quả (năng suất, chất lượng, giảm hao phí...) của mọi quá trình sản xuất kinh doanh. Từ việc phân tích nội hàm của các khái niệm "chính trị" và "kinh tế", khi nghiên cứu vai trò của chính trị đối với kinh tế, chúng ta có thể tiếp cận từ những phương diện sau: Thứ nhất, từ quan hệ của các lĩnh vực cơ bản của chính trị, quyền lực chính trị (đường lối, chính sách; tổ chức, thiết chế chính trị; người lãnh đạo chính trị) với toàn bộ nền kinh tế nói chung. Thứ hai, từ quan hệ của chính trị, quyền lực chính trị nói chung với các lĩnh vực kinh tế cơ bản (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ...) hoặc với các quan hệ kinh tế cơ bản, như quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối, hoặc với các hoạt động kinh tế, như hoạt động kinh tế trong nước, hoạt động kinh tế đối ngoại. Thứ ba, từ cấp độ quan hệ hẹp, cụ thể hơn, như chính sách về nông nghiệp, chính sách về sở hữu... 2. Quan hệ biện chứng giữa chính trị và kinh tế Có thể khẳng định rằng, quan hệ giữa chính trị với kinh tế bao hàm những nội dung và hình thức khác nhau, tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu khác nhau, nhưng đặc
  5. trưng bản chất của quan hệ này được biểu hiện ở quan hệ của việc nắm và thực thi quyền lực chính trị với tính hiệu quả của nền kinh tế. Quan điểm mác-xít về quan hệ biện chứng giữa chính trị và kinh tế là cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu vai trò của chính trị đối với kinh tế. Khi phân tích mối quan hệ này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng, thực chất đây là bộ phận cốt lõi, quan trọng nhất của quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, thể hiện ở vai trò quy định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng và tính độc lập tương đối, sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng. Trong tất cả các bộ phận của kiến trúc thượng tầng, chính trị là yếu tố liên quan, tác động trực tiếp đến hạ tầng cơ sở của xã hội. Trong khi khẳng định kinh tế đóng vai trò cơ sở, nền tảng, cốt vật chất khách quan của chính trị, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá rất cao vai trò của chính trị đối với sự phát triển kinh tế. Sự tác động của chính trị đối với kinh tế được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau, bao hàm cả yếu tố tích cực lẫn tiêu cực, quy lại có ba chiều hướng: thúc đẩy kinh tế phát triển; kìm hãm sự phát triển của kinh tế; thúc đẩy phương diện này, kìm hãm phương diện kia của kinh tế. Kế thừa tư tưởng cơ bản của C.Mác và Ph.Ăngghen về quan hệ của chính trị với kinh tế, trong quá trình trực tiếp lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới ở Liên Xô, V.I.Lênin tiếp tục phát triển những luận điểm lý luận về quan hệ của chính trị với kinh tế. Thống nhất với C.Mác và Ph. Ăngghen, V.I.Lênin cho rằng, phát triển LLSX, phát triển sản xuất là một trong những cơ sở, tiêu chí cơ bản để đánh giá sự tác động của chính trị đối với kinh tế. Với tư cách là một lý luận cách mạng bằng con đường hiện thực, học thuyết mác xít đặt mục tiêu căn bản và quan trọng là giải phóng sức sản xuất. Trong lý luận đó giai cấp tư sản trở thành đối tượng của cách mạng vô sản không phải chỉ do đối lập tình cảm giai cấp, mà căn bản là do trong những điều kiện đương thời, giai cấp tư sản đã trở thành một trong những lực lượng xã hội chủ yếu cản trở sự phát triển của LLSX nói riêng, của toàn bộ nền sản xuất xã hội nói chung. Theo tinh thần đó, nhận thức và giải quyết quan hệ chính trị với kinh tế bên cạnh việc phải ý thức tới vị trí và lợi ích của giai cấp cầm quyền thì yêu cầu cơ bản, nền tảng cần phải tính tới là quan hệ và sự tác
  6. động của chính trị với kinh tế phải vì mục tiêu phát triển sức sản xuất, phát triển sản xuất. Điều này có nghĩa, xét từ phương diện vai trò của chính trị đối với kinh tế thì một giai cấp xã hội, một thiết chế chính trị xã hội, một đường lối chính sách nào đó chỉ được coi là tiến bộ, là phù hợp với xu thế phát triển, khi sự tồn tại và hoạt động của nó tạo điều kiện thúc đẩy và tạo đà cho sức sản xuất phát triển. Sự phát triển, bổ sung của V.I.Lênin vào quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về vai trò của chính trị đối với kinh tế được thể hiện đặc biệt rõ nét ở hai luận điểm kinh điển của Người: "Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế" và "chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế"(1). Về luận điểm thứ nhất: "Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế". Luận điểm này có cơ sở từ chính thực tiễn của quá trình phát triển lịch sử xã hội loài người, nó chỉ rõ nguồn gốc và bản chất của chính trị. Luận điểm này cần được hiểu như sau: Sự hình thành, tồn tại và phát triển của chính trị là trên cơ sở những đồi hỏi khách quan của sự phát triển kinh tế, của thực trạng kinh tế, của sự liên hệ những lợi ích kinh tế căn bản của các giai cấp, tầng lớp khác nhau trong nền kinh tế. Chẳng hạn, phong trào công nhân, công đoàn, các đảng cộng sản... như là sự phản ánh trực tiếp vị trí, những lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân công nghiệp trong thời kỳ cách mạng công nghiệp. Sự phản ánh đó có tính chất tập trung, thông qua việc hình thành những tổ chức chính trị, những chính sách để từ đó giải quyết những vấn đề quyết định mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế, tạo điều kiện, tạo môi trường và bảo đảm cho hoạt động kinh tế diễn ra suôn sẻ. Điều này được thể hiện rõ qua vai trò và tác dụng rất lớn của pháp luật, chính sách kinh tế trong hoạt động kinh tế ở xã hội tư bản hiện đại. Hoặc qua vai trò quyết định, khởi xướng của các quyết sách chính trị đổi mới, cải cách kinh tế ở các nước XHCN. ở đây, sự thay đổi căn bản và đáng kể trong kinh tế bao giờ cũng được bắt đầu bằng những quyết định chính trị. Là "sự biểu hiện tập trung của kinh tế", nên chính trị phải mang trong mình quy định kinh tế khách quan. Nghĩa là, phải phản ánh nó trong cấu trúc, trong phương thức hoạt động của các thành tố cấu thành nên hệ thống chính trị, trong các quyết sách chính (1) V.I.Lênin, Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva,1977, tr.349.
  7. trị. Những yêu cầu, điều kiện của quy luật kinh tế khách quan cần phải được tôn trọng và tuân thủ, kể cả trong trường hợp những điều đó trước mắt có thể mâu thuẫn, trái ngược với mong muốn, mục đích chủ quan của giai cấp, nhóm xã hội cầm quyền. Điều này thường xảy ra ở các nước đang phát triển. Tại đây, nhà nước thông qua các chính sách của mình phải chấp nhận và duy trì sự bất bình đẳng trong thu nhập ở mức độ nào đó để có sự tăng trưởng, phát triển. Bởi vì, sự bất bình đẳng trong kinh tế ở mức nhất định lại là nhân tố thúc đẩy đổi mới sản xuất và công nghệ, tức là có tác dụng thúc đẩy sự phát triển. Do những nguyên nhân khách quan của sự vận động và phát triển kinh tế, sự bất bình đẳng rất có thể lại là bước tất yếu phải qua để đạt tới sự bình đẳng hơn. Hay như ở thực tế nước ta hiện nay, Đảng Cộng sản và Nhà nước CHXHCN Việt Nam chấp nhận, tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh tế phi XHCN (kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nước ngoài...), mặc dù xét về bản chất, các thành phần kinh tế đó không phù hợp với bản chất chế độ chính trị XHCN của chúng ta. Về luận điểm thứ hai: "Chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế". Có được nhận thức đúng "Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế", vì thế cơ bản là có đủ cơ sở để khẳng định "Chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế". Về phương diện nhận thức, việc khẳng định sự ưu tiên của chính trị so với kinh tế là đúng, hợp lý. Bởi vì, ưu tiên cho chính trị là ưu tiên cho những vấn đề căn bản, quyết định đối với sự phát triển của bản thân kinh tế. Về phương diện thực tiễn, giành, nắm quyền lực chính trị là điều kiện cần, có ý nghĩa quyết định để giai cấp cách mạng triển khai xây dựng một chế độ kinh tế - xã hội vì lợi ích của bản thân và những giai cấp, lực lượng xã hội đồng minh với mình. Hơn thế, trong thực tế nếu không có một đường lối chính trị đúng đắn thì một giai cấp nhất định không thể giữ vững được sự thống nhất chính trị của mình và do vậy cũng không thể hoàn thành được nhiệm vụ kinh tế. Như Lênin đã khẳng định: "không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó, không thể nào giữ vững được sự thống
  8. trị của mình, và do đó, cũng không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất"(2). Ưu tiên chính trị còn với nghĩa chính trị là thành quả đạt được, tức là sự vận động phát triển kinh tế phải tính đến việc bảo vệ và phát triển thành quả chính trị đã đạt được, phải chịu sự chi phối của thành quả chính trị. Một lực lượng, giai cấp xã hội khi đã nắm được quyền lực chính trị trong tay, tất yếu phải sử dụng quyền lực đó để điều hành, lái sự phát triển xã hội nói chung, kinh tế nói riêng theo hướng đem lại lợi ích nhiều nhất, tạo ưu thế cho chính bản thân giai cấp, nhóm mình. Đồng thời, mọi hành động, chính sách phát triển kinh tế, xã hội do giai cấp nắm quyền lực chính trị ấy đề xướng và triển khai, xét đến cùng, đều hướng tới mục tiêu củng cố quyền lực chính trị của họ. Rõ ràng, ở đây chính trị, nói cụ thể hơn là duy trì, bảo vệ quyền lực chính trị của giai cấp, lực lượng nắm quyền, luôn là ưu tiên hàng đầu. Hiểu đúng hai luận điểm nêu trên của V.I.Lênin, sẽ giúp chúng ta, trong lý luận và thực tiễn, tránh được cả khuynh hướng tuyệt đối hoá chính trị lẫn khuynh hướng tuyệt đối hoá kinh tế - những sai lầm rất dễ mắc phải trong đổi mới CNXH hiện nay. Có thể khẳng định, các nhà kinh điển mác xít đều thống nhất rằng, quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị được thể hiện ở chỗ, kinh tế và chính trị là hai mặt thống nhất biện chứng trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Trong sự tác động qua lại giữa hai lĩnh vực này của đời sống xã hội thì kinh tế giữ vai trò quy định đối với chính trị; quan hệ kinh tế, quan hệ sản xuất là những quan hệ vật chất quy định quan hệ chính trị. Vai trò quy định của kinh tế được thể hiện ở những điểm sau: Thứ nhất, với tư cách nền tảng vật chất, cơ cấu kinh tế hiện thực của xã hội, kinh tế sản sinh ra một kết cấu, thể chế chính trị tương ứng. Thứ hai, xét đến cùng sự biến đổi căn bản trong kinh tế dẫn đến sự biến đổi căn bản trong chính trị. Với sự biến đổi căn bản của kinh tế, thì trong chính trị trước sau cũng diễn ra những biến đổi tương ứng. Khi trong kinh tế chưa diễn ra những thay đổi căn bản thì trong lĩnh vực chính trị cũng khó xảy ra biến động gì đáng kể. Quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị còn là sự tác động trở lại của chính trị đối với kinh tế. Chủ nghĩa duy vật mác xít chỉ ra rằng, chính trị nảy sinh trên nền tảng (2) V.I.Lênin, Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.350.
  9. kinh tế, chịu sự quy định của kinh tế, song nó lại mang tính độc lập tương đối. Chính trị không phải là sản phẩm thụ động của kinh tế mà nó tác động trở lại rất mạnh đối với kinh tế. Trong hệ thống chính trị của xã hội thì nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự hiện thực hoá các tất yếu kinh tế, vì như Ph.Ăngghen chỉ rõ: "Bạo lực (nghĩa là quyền lực nhà nước) cũng là một tiềm lực kinh tế"(3). Khái quát lại, tác động của chính trị đối với kinh tế được biểu hiện ở hai xu hướng chủ đạo: nếu sự tác động đó phù hợp với quy luật vận động của kinh tế, yêu cầu của LLSX, thì thúc đẩy kinh tế phát triển. Nếu tác động không phù hợp với quy luật vận động của kinh tế, thì sẽ cản trở, kìm hãm sự phát triển kinh tế. Nếu nhận thức đúng và hành động phù hợp với những quy luật kinh tế, thì chính trị thực hiện được vai trò định hướng những hoạt động thực tiễn đưa lại phương án phát triển tối ưu cho kinh tế. Có thể nói, xã hội càng phát triển, thì vai trò của chủ thể xã hội càng tăng. Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, vai trò của chính trị trở nên đặc biệt quan trọng, nếu không nói là quyết định. II. định hướng kinh tế ở nước ta hiện nay Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đưa ra những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là quan niệm về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hoá và thị trường, phê phán triệt để cơ cấu tập trung quan liêu bao cấp và khẳng định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh. Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người, có nhận thức mới về chính sách xã hội. Đại hội VI là một cột mốc đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là kết quả của cả một quá trình tìm tòi, thử (3) C.Mác và Ph.Ăngghen, Tuyển tập, tập 6, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984, tr.739.
  10. nghiệm, suy tư, đấu tranh tư tưởng rất gian khổ, kết tinh trí tuệ và công sức của toàn Đảng, toàn dân trong nhiều năm. Hội nghị thanh niên 6 khoá VI (tháng 3-1989) phát triển thêm một bước, đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội, coi "chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội". Đến Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6-1991) tiếp tục nói rõ hơn chủ trương này và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Cương lĩnh 1991 của Đảng khẳng định: "Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước". Đại hội VIII của Đảng (tháng 6-1996) đưa ra một kết luận mới rất quan trọng: "Sản xuất hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng". Nhưng lúc đó, cũng mới nói nền kinh tế hàng hoá, cơ chế thị trường chưa dùng khái niệm "kinh tế thị trường". Phải đến Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) mới chính thức đưa ra khái niệm "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Đại hội khẳng định phát triển kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổn g quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; và là bước phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam Việt Nam. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Nó là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội mà trong đó quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng gắn với thị trường, được thực hiện thông qua thị trường. Vì vậy kinh tế thị trường không chỉ là công nghệ, là kỹ thuật mà còn là quan hệ xã hội, nó không chỉ bao hàm yếu tố lực lượng sản xuất mà còn quan hệ sản xuất. Kinh tế thị trường gồm nhiều hình thức sở hữu mà trong đó nó phụ thuộc vào chế độ sở hữu thống trị.
  11. Vì vậy không có kinh tế thị trường chung chung, thuần tuý, trừu tượng, tách khỏi các hình thái kinh tế - xã hội, tách rời chế độ xã hội. Trong các chế độ xã hội khác nhau, kinh tế thị trường mang tính chất xã hội khác nhau, có những hậu quả xã hội khác nhau. Tác động tích cực và tiêu cực của kinh tế thị trường đến đâu còn phụ thuộc vào chế độ xã hội, vào đường lối của đảng cầm quyền, vào chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam có hai đặc điểm cơ bản: Một là, đây là nền kinh tế thị trường mới bước đầu hình thành, còn sơ khai, còn ở trình độ thấp, các loại thị trường chưa hình thành đầy đủ, đồng bộ. Hai là, kinh tế thị trường mang tính định hướng xã hội chủ nghĩa, nó khác với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, nó do Đảng Cộng sản lãnh đạo và Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và vai trò quản lý của Nhà nước đối với kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là tất yếu, bởi vì: - Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một đặc điểm bản chất của kinh tế thị trường định hướng XHCN. Không có Đảng Cộng sản lãnh đạo và Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý thị trường không thể có kinh tế thị trường định hướng XHCN mà đó sẽ là kinh tế thị trường định hướng tư bản chủ nghĩa. Kinh tế thị trường vốn có xu hướng tự phát tư bản chủ nghĩa. Nhờ có Đảng Cộng sản lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương đúng đắn, phù hợp và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa bằng chính sách, pháp luật, bằng các công cụ quản lý vĩ mô (tài chính, tín dụng, kế hoạch, quy hoạch...) sẽ hạn chế tính tự phát tư bản chủ nghĩa, đảm bảo được định hướng XHCN cho sự phát triển của kinh tế thị trường, thực hiện được sự kết hợp giữa kế hoạch và thị trường, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Kinh tế thị trường vốn có hai mặt: mặt phải (tích cực) như thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh, chú trọng lợi ích và hiệu quả kinh tế... và mặt trái (tiêu cực) như thúc đẩy phân hoá giàu - nghèo, khuyến khích lối sống thực dụng vị kỷ, chạy theo đồng tiền, hạ thấp giá trị đạo đức...; mặt trái của kinh tế thị trường mâu thuẫn với bản chất của chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ phát huy được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường.
  12. Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa là những lực lượng lãnh đạo và quản lý xã hội. Những lực lượng này có khả năng nhận thức và vận dụng các quy luật kinh tế khách quan, chuyển hoá chúng thành đường lối, chính sách, pháp luật, kế hoạch... để tổ chức thực hiện, đưa vào cuộc sống, nâng cao đời sống của quần chúng nhân dân đông đảo nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa là những nhân tố cơ bản của hệ thống chính trị, của kiến trúc thượng tầng chính trị. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước chính là tăng cường sự tác động của chính trị đối với kinh tế thị trường để thúc đẩy kinh tế phát triển và giữ vững định hướng XHCN của kinh tế thị trường; ngược lại, sự phát triển của kinh tế thị trường sẽ buộc Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nhất là đổi mới phương thức lãnh đạo, còn Nhà nước phải đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, phải cải cách hành chính cho phù hợp với yêu cầu, quy luật của kinh tế thị trường. Như vậy, trong công thức do Đảng Cộng sản Việt Nam nêu lên "phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" đã phản ánh một tư tưởng biện chứng rất quan trọng của Lênin - tư tưởng về sự tự giác kết hợp giữa mặt đối lập biện chứng: chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường, những mặt đối lập tưởng chừng không thể kết hợp được như đất với trời, như nước với lửa, như người cộng sản với người buôn xỉ. Vấn đề là ở chỗ kết hợp như thế nào để tạo ra những "âm thanh du dương êm tai" chứ không phải những "điệu nhạc chói tai" như Lênin đã từng nói một cách hình ảnh. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa có ý nghĩa quyết định trong sự kết hợp đó. 2. Thực chất của đổi mới kinh tế vừa qua ở Việt Nam chính là thừa nhận sự tồn tại khách quan của quan hệ hàng hoá - tiền tệ và cơ chế thị trường dựa trên tư duy lý luận mới về quan hệ giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội. Từ đó vai trò của Nhà nước đối với kinh tế cũng có sự thay đổi căn bản. Đó là quá trình chuyển Nhà nước từ độc quyền sang quan hệ mới giữa Nhà nước và thị trường ("bàn tay hữu hình" - "bàn tay vô hình"), giữa Nhà nước và doanh nghiệp, giữa Nhà nước và dân trong hoạt động kinh tế. Nhà nước trước đây là chủ thể của chế độ sở hữu, bây giờ đang chủ đạo trong hệ thống đa sở hữu; trước đây là trực tiếp kinh doanh bây giờ sang thiết kế "luật chơi", hỗ trợ và tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, trước đây là kế hoạch hoá trực tiếp bây giờ sang điều tiết bằng công cụ
  13. kinh tế vĩ mô. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, ở Việt Nam, chức năng cơ bản của Nhà nước về kinh tế bao gồm: - Định hướng phát triển nền kinh tế thông qua chiến lược, chính sách, kế hoạch, quy hoạch và các công cụ quản lý vĩ mô. - Phát triển tất cả các thành phần kinh tế trên cơ sở đa dạng hoá các quan hệ sở hữu, lấy kinh tế Nhà nước làm chủ đạo; thực hiện chế độ phân phối lợi ích một cách hợp lý thông qua việc sử dụng các công cụ ngân sách, thuế, tín dụng, tạo động lực phát triển mạnh mẽ cho kinh tế thị trường định hướng XHCN. - Tạo lập môi trường pháp lý lành mạnh về kinh tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, tạo mọi thuận lợi cho các chủ thể kinh tế hoạt động bình đẳng, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. - Thực hiện tốt chức năng kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế theo đúng pháp luật và chính sách. Nghiêm trị các hoạt động buôn lậu, gian lận, trốn thuế, tham nhũng, quan liêu, sách nhiễu phiền hà... Sau 18 năm đổi mới, nền kinh tế thị trường ở nước ta bước đầu được hình thành sự quản lý nhà nước về kinh tế đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, kinh tế thị trường còn sơ khai, sự quản lý nhà nước về kinh tế còn nhiều yếu kém, hiệu lực và hiệu quả quản lý còn thấp. Hệ thống luật pháp, chính sách chưa đồng bộ và chưa nhất quán, kỷ cương pháp luật chưa nghiêm. Công tác tài chính, ngân hàng, giá cả, kế hoạch, quy hoạch xây dựng, quản lý đất đai... còn nhiều yếu kém, sơ hở; thủ tục hành chính rườm rà, cải cách hành chính còn chậm và chưa kiên quyết. Do đó việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với kinh tế thị trường ở Việt Nam là một yêu cầu khách quan, cấp bách. Để thực hiện yêu cầu này, cần thực hiện một số giải pháp sau đây: a. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế để tạo ra khuôn khổ pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị trường. Hệ thống pháp luật này là công cụ chủ yếu để Nhà nước quản lý kinh tế.
  14. Trong thời gian qua, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều luật, pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu đổi mới kinh tế. Tuy nhiên đến nay hệ thống pháp luật kinh tế của Việt Nam còn thiếu và chưa đồng bộ, nhanh bị thay đổi. Vì vậy, cần phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế để thể chế hoá Cương lĩnh, đường lối, các chủ tr ương, chính sách của Đảng. Cần sửa đổi, bổ sung các luật, pháp lệnh hiện hành và ban hành các luật mới như luật cạnh tranh, luật chống độc quyền, luật chứng khoán và thị trường chứng khoán, luật bảo hộ quyền sở hữu tư nhân... Cần cải tiến công tác làm luật, tăng cường vai trò của Quốc hội, các uỷ ban của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội chuyên trách trong việc đưa ra và xem xét các dự án luật. b. Hình thành tương đối đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chủ nghĩa Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường bao gồm thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường lao động, thị trường khoa học và công nghệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm, thị trường tiền tệ, thị trường bất động sản. Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển. Thông qua chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách kết hợp sử dụng lực lượng vật chất của Nhà nước để định hướng phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo cân đối vĩ mô nền kinh tế, điều tiết phân phối và thu nhập. Tăng cường sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước theo quy định của pháp luật, kiên quyết đấu tranh chống buôn lậu, làm hàng giả, gian lận thương mại, tham nhũng, lãng phí... tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh. Thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng sở hữu tài sản công của Nhà nước, phân định rõ quản lý hành chính nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh. c. Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với kinh tế Đổi mới công tác kế hoạch hoá tập trung trong nền kinh tế thị trường. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường thông tin kinh tế, công tác kế toán, thống kê.
  15. Giải quyết mối quan hệ giữa thu và chi ngân sách. Bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong chi ngân sách nhà nước. Tiếp tục cải cách hệ thống thuế phù hợp với tình hình đất nước và cam kết quốc tế. Nâng cao hiệu quả đầu tư vốn và sử dụng vốn, chống lãng phí thất thoát. Gắn cải cách ngân hàng với cải cách doanh nghiệp nhà nước. d. Đẩy mạnh cải cách hành chính Trong những năm qua ở Việt Nam đã tiến hành một bước cải cách hành chính, tuy nhiên như Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: "Cải cách hành chính tiến hành chậm, thiếu kiên quyết, hiệu quả thấp. Tổ chức bộ máy nhà nước cồng kềnh, trùng lặp chức năng với nhiều tầng nấc trung gian và những thủ tục hành chính phiền hà, không ít trường hợp trên và dưới, Trung ương và địa phương hành động không thống nhất, gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế - xã hội và làm giảm động lực phát triển"(1). Vì vậy cấp bách phải đẩy mạnh cải cách hành chính theo chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 do Chính phủ phê duyệt nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nhiệm vụ chủ yếu của cải cách hành chính bao gồm: - Cải cách tổ chức bộ máy các cấp từ Trung ương đến địa phương theo hướng tinh gọn, có hiệu lực, hiệu quả, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm. - Cải cách công cụ và chế độ công chức, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong sạch, có năng lực. - Cải cách thủ tục hành chính theo hướng thống nhất, công khai, minh bạch, đơn giản, xoá bỏ các thủ tục hành chính gây phiền hà, sách nhiễu cho nhân dân và các doanh nghiệp. Việc cải cách hành chính nhằm xây dựng một nền hành chính nhà nước trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực, hiệu quả theo hướng xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. (1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr.77.
  16. III. Phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường vai trò của chính trị trong hội nhập kinh tế ở nước ta Để tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế thành công, tức là để quá trình đó đi đúng theo định hướng của Đảng, Nhà nước ta; để nó có thể phục vụ đắc lực cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN, trước mắt là phục vụ cho việc thực hiện "Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước giai đoạn 2001-2010" và "Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010", cần xác định những phương hướng chủ yếu, triển khai thực hiện một số giải pháp cấp bách để tăng cường, phát huy vai trò của chính trị đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta trong những thập niên đầu thế kỷ XXI. 1. Phương hướng 1.1. Tăng cường lãnh đạo chính trị đảm bảo định hướng XHCN trong quá trình hội nhập Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với các hoạt động hội nhập kinh tế là một phương hướng mang tính chiến lược, lâu dài, có ý nghĩa quyết định, đảm bảo hội nhập đúng hướng và thành công. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là đảm bảo định hướng XHCN trong hội nhập kinh tế quốc tế. Để củng cố, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, của Nhà nước đối với các hoạt động hội nhập thì cần phải coi hội nhập là một trong những lĩnh vực then chốt trong hoạt động của các tổ chức Đảng, chính quyền ở mọi cấp. Từ đó xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành trong việc hoạch định chủ trương, chính sách, biện pháp và thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Điều quan trọng là phải duy trì được sự ồn định chính trị xã hội trong nước để tập trung sức cho phát triển kinh tế và hột nhập có hiệu quả. Các cam kết mở cửa chỉ có thể thực hiện được khi chúng phù hợp với thực tế phát triển trong nước và có đủ các điều kiện khả thi, đặc biệt là sự tồn tại của một khuôn khổ pháp lý cần thiết và thực sự có hiệu lực. Giữ vững ấn định chính trị xã hội trong nước tạo điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài an tâm bỏ vốn vào làm ăn lâu dài ở nước ta, đồng thời cho phép Đảng, Nhà nước
  17. và cơ quan chính quyền các cấp rảnh tay, tập trưng trí tuệ, sức lực để lãnh đạo kinh tế và các hoạt động hội nhập. Đảm bảo định hướng XHCN trong hội nhập cũng có nghĩa là quán triệt sâu sắc và tuân thủ nghiêm ngặt một nguyên tắc chỉ đạo cơ bản là: hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, trong quá trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Thành phần kinh tế nhà nước là một trong những nhân tố quan trọng nhất đảm bảo cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta giữ được định hướng XHCN. Quá trình hình thành và lãnh đạo thực hiện chiến lược đổi mới toàn diện đất nước của Đảng ta cho thấy, một trong những phương hướng đổi mới cơ bản của Đảng ta về vấn đề quan hệ sản xuất là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần dựa trên chế độ sở hữu đa dạng, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Trong nền kinh tế đa thành phần như vậy, mỗi thành phần kinh tế đều có một vị trị vai trò nhất định đối với việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước, thúc đẩy sự phát triển của LLSX. Tuy nhiên, khi khẳng định và triển khai xây dựng một nền kinh tế đa thành phần ở nước ta hiện nay, Đảng và Nhà nước ta không coi mọi thành phần kinh tế đều có vị trí và vai trò ngang nhau trong nền kinh tế quốc dân. Thừa nhận rằng mỗi thành phần kinh tế trong nền kinh tế đa thành phần ở nước ta đều có vị trí, vai trò tích cực nhất định, song Đảng ta khẳng định thành phần kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, đầu tàu, đồng thời kinh tế nhà nước kết hợp với kinh tế tập thể phải trở thành nền tảng, cột trụ của nền kinh tế quốc gia. Đây chính là nhân tố thể hiện tính định hướng XHCN của nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ. Nếu kinh tế nhà nước không đảm bảo được vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế quá độ đa thành phần này thì sẽ ảnh hưởng không những tới tính chất của nền kinh tế quá độ lên CNXH mà còn tạo ra nguy cơ đi chệch hướng, không thực hiện được mục tiêu chiến lược là đi lên CNXH. Bởi vì, nền tảng kinh tế của CNXH, sức mạnh kinh tế của CNXH chích là kinh tế nhà nước kết hợp với kinh tế tập thể. Do vậy, việc duy trì vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần ở thời kỳ quá độ hiện nay không chỉ đảm bảo đi đúng hướng mà còn dần thiết lập, củng cố sức mạnh kinh tế của chế độ xã hội mới - xã hội
  18. XHCN. Tương tự như vậy, phát huy vai trò đầu tàu, chủ đạo của kinh tế nhà nước kết hợp với kinh tế tập thể trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay của nước ta là nhân tố quan trọng nhất đảm bảo định hướng XHCN của quá trình hội nhập. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần giữ vững nguyên tắc: hợp tác, hội nhập phải đảm bảo lợi ích dân tộc chân chính, lợi ích của CNXH. Trong hội nhập, một mặt chúng ta chủ động hợp tác với các nước trên thế giới nhằm khai thác tối đa các lợi thế, song mặt khác, không ngừng nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng đối phó với những tình huống xấu, ảnh hưởng tiêu cực tới ổn định chính trị và sự vững chắc của chế độ XHCN. Bởi lẽ, chúng ta thừa hiểu ràng, các thế lực thù địch không khi nào chịu từ bỏ âm mưu tiêu diệt CNXH. Tổ chức Đảng các cấp, từ Trung ương tới địa phương cần thường xuyên quan tâm chỉ đạo công tác hội nhập kinh tế quốc tế, định hướng để các hoạt động hội nhập vì lợi ích dân tộc, phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đất nước theo định hướng XHCN. Chính phủ cần xây dựng chiến lược, lộ trình cụ thể về hội nhập kinh tế quốc tế và tổ chức bộ máy hữu hiệu để triển khai hoạt động hội nhập. Quốc hội có chương trình xây dựng và điều chỉnh luật pháp vừa bảo đảm định hướng XHCN của ta vừa phù hợp với thông lệ quốc tế. Các cơ quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các địa phương, các doanh nghiệp có chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện các nghị quyết của Đảng, tạo thành sức mạnh tổng hợp bảo đảm thực hiện nghiêm túc những nguyên tắc mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế. Tăng cường.g sự gắn kết, phối hợp đồng bộ giữa các bộ, các ngành, các địa phương, gắt kết các ban của Đảng với các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể quần chúng, dưới sự Lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ về các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế. Trong triển khai thực hiện mục tiêu, nguyên tắc hội nhập thì sự lãnh đạo của Đảng và tổ chức thực hiện của Chính phủ có ý nghĩa quyết định, sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành các cấp đóng vai trò then chốt. Sự tham gia của các cơ quan Quốc hội, các ban của Đảng sẽ góp phần tăng cường sự chỉ đạo, giám sát việc hội nhập ở tầm vĩ mô.
  19. Sự tham gia của các phương tiện thông tin đại chúng sẽ bảo đảm cho hội nhập kinh tế quốc tế được quán triệt sâu rộng trong các tầng lớp xã hội, giúp cho dư luận xã hội nhận thức rõ hơn thời cơ, cũng như thách thức trong hội nhập kinh tế. Từ đó hiểu đúng để hành động đúng, không mất cảnh giác trước âm mưu (diễn biến hoà bình", "bạo loạn lật đổ" của các thế lực thù địch, vững vàng đi vào hội nhập kinh tế quốc tế. tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của nhân loại, nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc, phân biệt đúng bạn - thù, đối tác thực giả. 1.2. Tiếp tục đổi mới tư duy chính trị phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Như trên đã phân tích, những thành công và tồn tại, cũng như những vấn đề đã và đang nảy sinh liên quan đến vai trò của chính trị trong quá trình triển khai hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta đều gắn với tư duy, nhận thức của Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền, các doanh nghiệp và toàn thể xã hội. Do vậy, một trong những phương hướng chủ yếu nhằm phát huy vai trò của chính trị trong hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta là phải tiếp tục đổi mới tư duy chính trị cho phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cụ thể là cần nhận thức đúng, chính xác yêu cầu khách quan về hội nhập, thấy rõ cơ hội và thách thức. Phải làm cho toàn Đảng, toàn dân ý thức rõ rằng, hội nhập kinh tế quốc tế của chúng ta là một yêu cầu tất yếu khách quan, phù hợp với sự phát triển của thời đại ngày càng có xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá mạnh mẽ. Đồng thời, trong điều kiện của nước ta, hội nhập quốc tế không chỉ là quá trình diễn ra dưới sức ép của xu hướng tất yếu của thời đại, mà điều quan trọng hơn, đây còn là một quá trình mang tính chủ động, đáp ứng lợi ích nhu cầu phát triển nội tại của đất nước chúng ta. Sự chủ động này xuất phát không chỉ từ việc thừa nhận lợi ích to lớn do hội nhập đem lại, mà còn từ ý thức về những thách thức gay gắt phát sinh do hội nhập. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương rất đúng đắn, kịp thời của Đảng, Nhà nước ta. Nước ta không thể CNH - HĐH, không thể thoát cảnh nghèo nàn lạc hậu nếu đứng ngoài, biệt lập với thế giới. Đi lên CNXH càng không thể đóng cửa mà đi lên. Nếu không có LLSX phát triển mà nói CNXH thì hoàn toàn là ảo tưởng. Nhưng trong thế giới ngày nay, LLSX hiện đại lấy đâu ra nếu không phải từ thế giới, thông qua hội nhập quốc tế trao đổi, buôn bán, thu hút đầu
  20. tư nước ngoài, thông qua đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá, biết lợi dụng khôn khéo những mâu thuẫn giữa các nước. Cùng với ý thức về tính tất yếu khách quan phải hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta cũng cần nhận thức đầy đủ những thời cơ và nguy cơ, thách thức sẽ nảy sinh trong quá trình tham gia hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, từ đó có chính sách, hành động thích hợp kịp thời phát huy lợi thế tận dụng thời cơ, ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ thách thức. Về cơ hội và thuận lợi: Không phải chúng ta tiến hành hội nhập với hai bàn tay trắng, mà đất nước ta có tiềm năng to lớn cả về tài nguyên thiên nhiên lẫn vốn con người để đi vào hội nhập với một vị thế xứng đáng. Những lợi thế gồm có: tài nguyên thiên nhiên phong phú, chưa khai thác đáng kể; vị trí địa - chính trị quan trọng, nước ta vừa nằm trong một khu vực phát triển năng động nhất của thế giới hiện nay, vừa là điểm giao cắt của những tuyến đường hàng hải quan trọng ở châu á - Thái Bình Dương, vì vậy đây là một yếu tố chiến lược quan trọng đối với hoạt động kinh tế, giao lưu, trao đổi buôn bán của khu vực và thế giới; lực lượng lao động của nước ta trẻ, cần cù, chịu khó, khéo léo; nước ta là một thị trường tiêu thụ tiềm tàng với gần 80 triệu dân có sức mua ngày càng tăng. Đó là những yếu tố nội lực quyết định, những lợi thế rất lớn trong phân công lao động quốc tế hiện nay. Thêm vào đó, với chính sách đối ngoại đổi mới, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ quốc tế, chúng ta đã tạo dựng được một sự tuỳ thuộc lẫn nhau đáng kể với nền kinh tế thế giới và khu vực về thị trường nông sản và thị trường năng lượng. Chúng ta bước vào hội nhập khi đã và đang thực hiện thành công quá trình đổi mới. Hai quá trình này gắn bó, bổ trợ cho nhau, bởi vì những cam kết quốc tế về hội nhập kinh tế không trái với những chủ trương đổi mới của ta, ngược lại phần nào có tác dụng xúc tác, thúc đẩy quá trình đổi mới. Thực hiện thành công đổi mới là tạo điều kiện cho ta hội nhập hiệu quả nhất. Nhịp độ phát triển kinh tế tương đối cao và sự ổn định về chính trị mà nước ta duy trì được trong hơn 5 năm đổi mới vừa qua đã tạo thế và đà cho Việt Nam hội nhập. Đặc biệt, những thành tựu chúng ta đạt được trong quá trình xây dựng một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2