
Trần Tự Khánh
Trần Tự Khánh (1175 - 1223) là tướng nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, người
có công đặt nền móng cho sự thay thế ngôi nhà Lý của nhà Trần. Ông người Tam
Đường, phủ Long Hưng, tỉnh Thái Bình, Việt Nam.[2]
Theo phả hệ họ Trần, Trần Tự Khánh là con thứ của Trần Lý, em[3] của Trần
Thừa - người sau này trở thành thượng hoàng đầu tiên của nhà Trần - và Trần Thị
Dung. Tuy nhiên theo Đại Việt Sử ký Toàn thư thì Trần Tự Khánh là em[4] của Trần
Thừa và là anh của Trần Thị Dung. Cuốn sử này không ghi rõ năm sinh của ông.
Mục lục [xem]
Phò thái tử nhà Lý
Trần Tự Khánh lớn lên khi cơ nghiệp nhà Lý đã suy yếu, vào đầu thế kỷ 13
dưới thời vua Lý Cao Tông. Vua Cao Tông chơi bời vô độ, dân chúng bị cùng khốn,
liên tiếp nổi dậy khởi nghĩa. Các tướng lĩnh địa phương cũng nhân lúc loạn lạc nuôi ý
định xây dựng lực lượng riêng, trong đó có cha Trần Tự Khánh là Trần Lý ở Hải Ấp.
Năm 1209, vua Cao Tông nghe lời gian thần Phạm Du, giết trung thần Phạm
Bỉnh Di. Bộ tướng của Bỉnh Di là Quách Bốc khởi binh báo thù cho chủ, đánh vào
kinh thành, lập con thứ của vua là Lý Thầm[5] làm vua. Vua Cao Tông chạy lên Quy
Hoá, thái tử Sảm chạy về Hải Ấp, nơi Trần Lý cai quản.

Thái tử Sảm lấy con gái của Trần Lý, em Trần Tự Khánh là Trần Thị Dung
(vốn tên là Ngừ) làm vợ. Nhân có chính lệnh của thái tử Sảm [6]. Tô Trung Từ sai
người rồi đến Hải Ấp rước hoàng tử Sảm định đưa về kinh sư. Đàm Dĩ Mông là em vợ
vua Cao Tông, dù đã hàng phục Quách Bốc và hoàng tử Thầm nhưng vẫn được giữ
chức thái sư. Trần Tự Khánh thay cha thống lĩnh binh chúng, được phong là Thuận
Lưu Bá, đóng quân ở Thuận Lưu (miền Hải Ấp, Hưng Hà, Thái Bình) nhưng không
quy phục vua Cao Tông. Ông kéo quân về kinh thành, cướp bóc tài sản của hoàng
cung, nhưng bị dân chúng kinh thành đánh đuổi.
Tháng 10 năm 1210, Cao Tông mất, hoàng tử Sảm lên ngôi vua, tức là Lý Huệ
Tông. Huệ Tông lập Trần Thị Dung làm nguyên phi, Tô Trung Từ được phong làm
thái uý. Để lấy lòng Tự Khánh, Huệ Tông phong ông làm Chương Thành hầu.
Đại chiến quần hùng
Nghe tin vua Cao Tông mất, Trần Tự Khánh đem thủy quân đến bến Tế Giang
(Mỹ Văn, Hưng Yên) xin với cậu là Tô Trung Từ cho cùng dự tang lễ Cao Tông,
nhưng Trung Từ không cho vì sợ Tự Khánh lại làm loạn như lần trước. Tự Khánh
phải đem quân về Thuận Lưu. Cũng tháng đó, Huệ Tông lập em gái Tự Khánh là Trần
Thị Dung làm nguyên phi.
Tháng 7 năm 1211, Trung Từ đang đêm sang Gia Lâm tư thông với công chúa
Thiên Cực, bị quan nội hầu Vương Thượng là chồng công chúa giết chết[7][8].
Tuy loạn Quách Bốc bị dẹp nhưng nhiều nơi còn cát cứ chưa hàng phục triều
đình. Con rể của Tô Trung Từ là Nguyễn Ma La (cũng gọi là Nguyễn Đà La) thấy cha
vợ bị giết, triều đình nghiêng ngả, bèn sang nói với anh cả Tự Khánh là Trần Thừa,
xin tiến binh dẹp yên ấp Khoái. Nguyễn Ma La cùng với vợ là Tô thị (em họ Tự

Khánh) lên thuyền sang đạo Thuận Lưu để gặp bộ tướng của Tô Trung Từ là Nguyễn
Trinh thì bị Nguyễn Trinh giết rồi cướp lấy Tô thị đem về. Tô thị sai người tố cáo với
Trần Thừa. Trần Thừa bèn sai Tô thị dụ được Trinh và giết chết.
Trần Tự Khánh nhân lúc Ma La kéo đi, kinh thành bỏ trống, lập tức mang quân
về kinh sư. Theo Việt sử lược, ông an táng người cậu Tô Trung Từ ở làng Hoạch. Các
tướng cát cứ ở Hồng châu là Đoàn Thượng và Đoàn Văn Lôi nói vu Trần Tự Khánh
với vua Huệ Tông rằng: “Trần Tự Khánh đem binh về kinh sư là muốn mưu đồ việc
phế lập”. Vua Huệ Tông tin là thật, nổi giận, tháng 7 bèn hạ chiếu cho các đạo binh
đánh Trần Tự Khánh, và giáng Nguyên phi Trần Thị Dung xuống làm Ngự nữ. Đoàn
Thượng và Đoàn Văn Lôi đem binh về kinh sư. Huệ Tông hạ chiếu tấn phong tước
hầu cho Đoàn Thượng.
Họ Đoàn đem quân đánh anh em họ Trần ở ải Hoàng Điểm. Trần Tự Khánh sai
bộ tướng Lại Linh cùng tướng Khoái Châu là Nguyễn Đường ra chống cự. Nguyễn
Đường bị bắt. Tự Khánh bị thua, giận dữ phá đê cho nước sông chảy tràn vào các ấp
rồi về. Miền Khoái Châu mất tin tưởng ở họ Trần, theo về với họ Đoàn.
Trong khi đó, Tự Khánh vẫn tiếp tục đánh chiếm các miền ở hai bờ sông Hồng
để phát triển thế lực. Hai lần ông đánh bại tướng của Đoàn Ma Lôi là Đinh Cẩm, đóng
ở Đội Sơn (Duy Tiên, HàNam). Họ Trần kiểm soát được cả miền Lý Nhân (HàNam).
Trần Tự Khánh tìm cách liên kết với hào trưởng Nguyễn Tự để tiêu diệt thế lực đối
địch mạnh nhất của mình là họ Đoàn.
Đầu năm 1212, Trần Tự Khánh và Nguyễn Tự họp nhau ở bến Triều Đông, thề
làm bạn sống chết có nhau, tận trung báo quốc, cùng bình họa loạn. Hai người chia
nhau phạm vi chiếm cứ, lấy sông Lô, sông Thiên Đức (sông Đuống) làm giới hạn, mỗi

người thống suất một bên Từ Thượng Khối (Bắc Ninh) đến Na Ngạn (Lục Ngạn, Bắc
Giang), các hương ấp dọc theo sông Đuống và đường bộ là thuộc về Tự Khánh. Từ
Kinh Ngạn bờ sông Hồng, (thuộc Kinh sư) đến Ô Diên (Hoài Đức, Hà Tây) thuộc về
Nguyễn Tự, hẹn đến tháng 3 năm Nhâm Thìn thì họp binh tấn công đất Hồng Châu
của họ Đoàn.
Bấy giờ Huệ Tông thấy thế lực họ Trần mạnh lên, bèn truyền cho văn võ bá
quan đều phải nghe mệnh lệnh Trần Tự Khánh. Mặt khác, Huệ Tông lại cùng với thái
hậu Đàm thị và một số cận thần vẫn ngầm mưu diệt họ Trần. Đầu năm 1213, thái hậu
sai người đi với bọn tướng sĩ ở đạo Phù Lạc và đạo Bắc Giang, hẹn ngày cùng phát
binh đánh Tự Khánh. Đúng ngày đã định, các tướng Phan Thế ở Phù Lạc, Ngô Mãi ở
Bắc Giang tiến đến cửa Đại Hưng (cửa nam thành Thăng Long). Tự Khánh đang ở
bến Đại Thông, nghe tin đó liền kéo quân lên kinh sư, vào cấm thành, đốt cầu Ngoạn
Thiềm rồi lại trở về Đại Thông.
Sau khi chiếm được đồng bằng hạ lưu sông Hồng và sông Đáy (trừ miền Đại
Hoàng), Tự Khánh phát triển thế lực lên Quốc Oai. Vùng Quốc Oai vốn thuộc phạm
vi kiểm soát của Nguyễn Tự. Khi đó Tự chết, phó tướng là Nguyễn Cuộc thay thế. Tự
Khánh tiến quân lên Quốc Oai, dụ hàng được Nguyễn Cuộc, thanh thế thêm mạnh.
Lý Huệ Tông bèn cùng thái sư Đàm Dĩ Mông tự làm tướng, hẹn với quân Hồng
châu đi đánh Tự Khánh, đến Mễ Sở gặp quân của họ Trần do Vương Lê, Nguyễn Cải
chỉ huy. Hai bên chưa giao chiến, quân của Lê, Cải mới hò reo tiến lên, quân triều
đình đã tự tan vỡ. Vương Lê, Nguyễn Cải bắt được thuyền rồng. Cánh quân đạo Bắc
Giang do thái sư Đàm Dĩ Mông thống xuất tới bến An Diên (Thường Tín, Hà Tây) thì
bị quân của Trần Thừa tiến đánh.

Em họ Trần Tự Khánh là Trần Thủ Độ cùng Trần Hiến Sâm ở tả ngạn cũng
tiến đánh thắng quân triều đình. Các tướng họ Trần khác là Phan Lân, Nguyễn Nộn từ
Quốc Oai tiến đến chợ Dừa đánh thắng các tướng ở Hồng châu là Đoàn Cấm, Vũ Hốt.
Lý Huệ Tông thất thế phải chạy lên Lạng Châu.
Tự Khánh chiếm được kinh đô. Vài ngày sau, ông sai người đem thư lên Lạng
Châu gặp Huệ Tông và nói rõ ý mình rằng:
"Dân tình uất ức, không thấu được lên trên. Cho nên, nhân lòng giận dữ của
người trong nước, thần khởi binh dẹp lũ đó, cắt trừ gốc họa, để yên lòng dân mà thôi.
Đến như thân phận vua tôi, thần không dám phạm đến một chút nào. Ngờ đâu, phải
gánh lấy tội chuyên quyền đánh dẹp, để khiến cho xa giá phải long đong, tự xét tội của
thần thật đáng vạn lần chết. Xin bệ hạ nguôi cơn giận dữ, quay xa giá về kinh sư để
thỏa lòng người mong muốn"
Nhưng vua Huệ Tông từ chối không theo Tự Khánh.
Dựng vua khác
Không đón được Huệ Tông về kinh, Tự Khánh triệu tập các vương hầu, bá
quan bàn việc cải lập, sai người đón một người con của vua Lý Anh Tông là Huệ Văn
vương[9] đến Hạc Kiều, lập làm vua mới.
Tháng 3 năm Giáp Tuất (tháng 4 năm 1214), Huệ Văn vương lên ngôi ở điện
Đại An, cải nguyên là Càn Ninh, hiệu là Nguyên Vương.
Anh em họ Đoàn tấn công đất Bắc Giang do tướng của Tự Khánh là Nguyễn
Nộn đóng giữ. Hai bên đánh nhau ở núi Đông Cứu (Gia Lương, Bắc Ninh), Nguyễn
Nộn giết chết được Đoàn Nguyễn. Tuy nhiên lúc đó nội bộ phe Tự Khánh xảy ra phản

