Triu chứng thực thể bệnh xương khớp
(Kỳ 3)
2.4. Khớp gối:
Khớp gối là khớp lớn được bảo đảm bằng hệ thống dây chằng chắc chắn.
Khớp gối được bao bọc bởi những túi hoạt dịch. Bình thường, khớp gối duỗi 0o,
gấp 135o. Khám khớp gối phát hiện sưng, biến dạng như vòng kiềng (genu varum)
hoặc chữ bát (genu valgum) hạn chế gấp, kẹt khớp, túi phình baker nếp gấp
khoeo.
Khám khp gối ở tư thế bệnh nhân nằm ngửa, chân duỗi thẳng, xương bánh
chè thdi chuyển dễ dàng vào trong hoặc sang bên và khớp gối thể sưng to
nếu tràn dịch nhiều. Tràn dịch ít cách tốt nhất để phát hiện là dồn dịch xuống túi
bao thanh dịch dùng tay bên đối diện ấn nhxuống bánh chè thấy dấu hiệu bập
bềnh xương bánh chè.
- Khám dây chằng bên: bệnh nhân nằm ngửa, chân duỗi thẳng. Một tay c
định xuống đùi, tay kia giphần gót hoặc cẳng chân, đưa cẳng chân vào trong
hoặc ra ngoài, khi có tổn thương dây chằng bên trong hay bên ngoài s có dấu hiệu
há khớp ra ngoài hoặc vào trong.
- Tổn thương dây chằng chéo: bệnh nhân tư thế nằm, háng gấp 45o, gối
gấp 90o. Thầy thuốc cố định bàn chân của bệnh nhân, hai tay nắm chặt phần trên
của cẳng chân chkhoeo. Dùng hai tay đẩy ra sau, sau đó kéo ra phía trước. Khi
tăng cđộng ra trước chứng tỏ tổn thương dây chằng chéo trước. Khi tăng c
động ra sau chứng tỏ tổn thương dây chằng chéo sau. Dấu hiệu này còn gọi là
dấu hiệu rút ngăn kéo”.
- Các triệu chứng khác liên quan đến khớp gối như: teo tđầu, tiếng lắc
rắc khi cđộng khớp do thoái hsụn khớp gần vùng lồi cầu trong xương chày,
điểm bám gân cơ chân ngỗng...
2.5. Khám khớp cổ chân-bàn chân:
Khớp cổ chân được tạo bởi khớp giữa đầu xa của xương chày, xương mác
xương sên. Khớp này phm vi cđộng là gấp vphía bàn chân 50o, gấp về
phía mu chân 20o. Khớp sên-gót có thnghiêng vào trong hoặc ra ngoài khoảng 5o
vmỗi phía. Bàn chân gm các tụ cốt, khớp bàn ngón chân, khớp giữa ngón chân.
Xương bàn chân và xương gót phần chịu lực của bàn chân. Đánh gcđộng
khớp bàn chân bằng ch cđịnh xương gót, sau đó bàn chân gấp vào trong hoặc
ra ngoài. thđánh giá cử động của bàn chân trước bằng cách bảo bệnh nhân
gấp hoặc duỗi các ngón chân.
- Quan t bàn chân cchân khi chịu lực hoặc không chịu lực, hoặc
cả hai, có hoặc không đi giầy.
- Khám khớp cổ chân, bàn chân phát hiện các triệu chứng: sưng, biến dạng,
các hạt dưới da, hạt Tophi, biến đổi của móng chân, chai chân. Sưng khớp cổ chân
đôi khi khó phân biệt với phù lan toả. Tràn dịch khớp cổ chân phát hiện được do
lấp đầy c hố lõm phía trước hoặc phía sau mắt cá. Viêm màng hoạt dịch gây
đau khi cđộng. Bàn chân ngón chân thưng bị tổn thương khi bị viêm khớp
dạng thấp, thoái hoá khớp hoặc Gút, biến dạng ngón cái thường ngả ra phía ngoài,
khớp đốt bàn ngón duỗi quá mức, bán trật khớp về phía mu chân của khớp đốt-
bàn-ngón. Chai chân hoặc các bất thường khác khi đi giầy thể giúp đánh giá
tình trạng của bàn chân.
2.6. Khám cột sống:
Cột sống giúp cho tư thế đứng thẳng của thể. Phạm vi cđộng của cột
sống đảm bảo động tác cúi của thân người. Cột sống thể gấp tối đa 90o. Thân
người (trừ đoạn cột sống cổ) ưỡn 30o, nghiêng phải hoặc nghiêng trái 50o. Vi cột
sống cổ: cúi được 45o, ngửa 50 - 60o, xoay 60 - 80oo nghiêng phi 40o, nghiêng
trái 40o.
- Khám cột sống cần phải quan sát toàn thể, sau đó khám từng đoạn. Khi
khám toàn diện, yêu cầu bệnh nhân thế đứng, bộc lộ lưng, vai, khớp háng và
chân. Quan sát scân đối của cột sống, những bất thường về các đường cong sinh
(gù, vẹo, ưỡn quá mức) và co các cơ cạnh sống. Sờ lần lượt từ trên xung, từ
bên phải qua bên trái so sánh đối chiếu 2 bên. Viêm cột sống dính khớp thường
btổn thương đoạn cột sống lưng cột sống thắt lưng gây tình trạng đầu cúi về
phía trước, giảm độ giãn lồng ngực, lưng, mất đường cong sinh đoạn cột
sống thắt lưng.
- Nghiệm pháp Wright-Schober đo đdãn ct sống thắt lưng: mốc thứ nhất
là đường ngang gai chậu sau trên, mốc thứ 2 đo lên 10 cm kể từ đường ngang mốc
thnhất, khoảng cách giữa 2 mốc tăng lên > 3 cm trong tình trng bình thường.
Khi < 2,5 cm là giảm độ dãn cột sống [nghiệm pháp (+)].
Xương cùng được tạo bởi 5 đốt sống cùng, 2 bên tạo bởi xương cánh chậu.
Khám khớp cùng chậu tư thế bệnh nhân nằm nghiêng, ép mạnh vào mào chậu (dấu
hiệu ép khung chậu), khi bệnh nhân nằm ngửa hai tay đặt trên gai chậu trước trên
ấn mạnh (dấu hiệu bửa khung chậu), bệnh nhân đau khu trú tại vùng khớp cùng
chậu chứng tỏ viêm khớp cùng chậu hay gặp trong bệnh viêm cột sống dính
khớp.
Dấu hiệu Lasegue (+) là biểu hiện của tổn thương thần kinh cột
sống thắt lưng. Khám bệnh nhân tư thế nằm ngửa chân duỗi thẳng, nâng dần lên
cho đến khi xuất hiện đau dọc mặt sau đùi. Đau thường tăng lên khi gấp mu chân
và giảm đi khi gấp gối.
* Tóm lại:
Hỏi và khám tmỉ hệ xương một số quan khác rất quan trọng
trong việc đánh giá tình trạng bệnh khớp, cần kết hợp phân tích các kết quả t
nghiệm, X quang và các kthuật thăm dò khác để giúp cho chẩn đoán bệnh khớp
một cách chính xác, đôi khi lâm sàng kết quả xét nghiệm thể không php
làm cho chẩn đoán bệnh trở nên khó khăn, khi đó cần phải kỹ các triệu chứng chủ
quan, kim tra lại các triệu chứng khách quan và các kết quả xét nghiệm để thể
đưa ra chẩn đoán phù hp.