
U màng não nguyên phát ở phổi: Báo cáo một trường hợp hiếm gặp và hồi cứu y văn
lượt xem 1
download

Bài viết trình bày u màng não nguyên phát ở phổi là loại u hiếm gặp, thường không có biểu hiện lâm sàng hay hình ảnh học đặc hiệu giúp chẩn đoán chính xác trước phẫu thuật. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nam, 74 tuổi, nhập viện với nốt đơn độc ở thùy dưới phổi phải trên CT ngực, không có triệu chứng hô hấp.
Bình luận(0) Đăng nhập để gửi bình luận!
Nội dung Text: U màng não nguyên phát ở phổi: Báo cáo một trường hợp hiếm gặp và hồi cứu y văn
- TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 545 - THÁNG 12 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2024 U MÀNG NÃO NGUYÊN PHÁT Ở PHỔI: BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP HIẾM GẶP VÀ HỒI CỨU Y VĂN Trang Chấn Long1, Hà Kiều Trang1, Thái Anh Tú2, Phan Đặng Anh Thư1, Trần Vũ Thuận2 TÓM TẮT 16 year-old male who was admitted with an incidental U màng não nguyên phát ở phổi là loại u hiếm finding of a solitary nodule in the lower lobe of the gặp, thường không có biểu hiện lâm sàng hay hình right lung on chest CT, with no respiratory ảnh học đặc hiệu giúp chẩn đoán chính xác trước symptoms. The patient underwent complete phẫu thuật. Chúng tôi báo cáo một trường hợp surgical resection of the tumor. A bệnh nhân nam, 74 tuổi, nhập viện với nốt đơn độc histopathological examination was performed to ở thùy dưới phổi phải trên CT ngực, không có identify the tumor characteristics. The tumor triệu chứng hô hấp. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt exhibited classic meningioma histological features, trọn khối u và xác định đặc điểm mô bệnh học. which immunohistochemistry further supported. Trên vi thể, khối u có các đặc điểm điển hình của u Recognizing meningioma's distinctive màng não và sau đó được xác nhận lại bằng hóa histopathological features and mô miễn dịch. Việc nhận biết được các đặc điểm immunohistochemical markers is crucial for đặc trưng cũng như các dấu ấn miễn dịch đặc hiệu accurately diagnosing primary pulmonary của u màng não giúp ích rất nhiều trong chẩn đoán meningiomas. u màng não ở phổi. Keywords: lung tumor, primary meningioma Từ khóa: u phổi, u màng não nguyên phát ở of the lung, immunohistochemistry, solitary phổi, hóa mô miễn dịch, nốt đơn độc ở phổi. pulmonary nodule. SUMMARY I. ĐẶT VẤN ĐỀ PRIMARY PULMONARY U màng não thường gặp nhất là u nguyên MENINGIOMA: A RARE CASE phát ở hệ thần kinh trung ương và chiếm REPORT AND LITERATURE REVIEW Primary pulmonary meningioma is a rare khoảng 1/3 các khối u tân sinh ở hệ thần kinh tumor, often presenting without specific clinical or trung ương [3]. U màng não nguyên phát lạc radiological features that facilitate accurate chỗ hay nằm ngoài hệ thần kinh trung ương là preoperative diagnosis. We present a case of a 74- một khối u rất hiếm gặp, có thể xảy ra ở các vị trí như vùng đầu cổ, da, trung thất, sau phúc 1 Bộ môn Mô phôi – Giải phẫu bệnh, Đại học Y mạc, phổi và chiếm khoảng 2% trong các Dược TP. Hồ Chí Minh 2 Khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Ung bướu TP. trường hợp u màng não [3,8]. Trong đó, u Hồ Chí Minh màng não nguyên phát ở phổi chỉ được báo Chịu trách nhiệm chính: Hà Kiều Trang cáo chưa đến 70 ca trong y văn kể từ khi Email: hakieutrangdhyd@gmail.com Ngày nhận bài: 30/09/2024 trường hợp đầu tiên được mô tả bởi Kemnitz Ngày phản biện khoa học: 12/10/2024 và cộng sự vào năm 1982 [3,8]. Biểu hiện lâm Ngày duyệt bài: 15/10/2024 147
- HỘI THẢO KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH GIẢI PHẪU BỆNH CÁC TỈNH PHÍA NAM LẦN THỨ 14 sàng, hình ảnh học của u thường không đặc xương bình thường. Chẩn đoán sơ bộ của hiệu do đó thường khó có chẩn đoán chính bệnh nhân là u ác thứ phát của phổi. xác trước phẫu thuật [3,8]. Đặc điểm trên mô Bệnh nhân được tiến hành phẫu thuật mở bệnh học của u màng não là yếu tố quan trọng lồng ngực kèm sinh thiết lạnh để đánh giá bản giúp định hướng và chẩn đoán chính xác bản chất khối u. U nằm ở thùy dưới phổi phải, chất khối u. Trong báo cáo này, chúng tôi bàn nằm trong nhu mô phổi, chưa xâm nhiễm luận một ca bệnh u màng não nguyên phát ở màng phổi tạng, giới hạn rõ, tương đối tròn, phổi, giúp hiểu biết thêm về u màng não kích thước khoảng 2x2 cm, mô u trắng vàng nguyên phát ở phổi từ đó nhấn mạnh các đặc hơi sượng và tương đối đồng nhất. Sinh thiết điểm điển hình của u màng não để có thể dễ lạnh cho thấy u trung mô loại tế bào hình thoi, dàng chẩn đoán các trường hợp u màng não nghĩ lành tính. Bệnh nhân được cắt trọn u phổi ngoài hệ thần kinh trung ương và các dấu ấn phải, bờ phẫu thuật không có tế bào u. Sau miễn dịch hỗ trợ trong những trường hợp khó phẫu thuật, tình trạng sức khỏe bệnh nhân ổn khăn. định, vết mổ lành tốt. Đặc điểm vi thể cho thấy mô u có ranh II. BÁO CÁO CA giới rõ, bờ đẩy so với mô phổi bình thường Bệnh nhân nam, 74 tuổi, nhập viện vì tình xung quanh (Hình 13A). Mô u có cấu trúc cờ phát hiện khối u ở phổi phải 1 tháng trước. tiểu thùy được tạo bởi các tế bào dạng biểu Trong khoảng 1 tháng nay bệnh nhân không mô sắp xếp tạo thành cấu trúc cuộn tròn có các triệu chứng hô hấp. Tiền căn không ghi (whorl), ranh giới các tế bào không rõ (giống nhận hút thuốc lá, xạ trị vùng ngực, hay khối u hợp bào), bào tương hơi ái toan, nhân tròn ở phổi và hệ thần kinh trung ương trước đây. hoặc oval, chất nhiễm sắc mịn, có khoảng Khám lâm sàng không phát hiện bất thường. sáng trong nhân và thể giả vùi. Xen kẽ các Hình ảnh chụp CT ngực cho thấy tổn tiểu thùy hoặc cấu trúc xoáy lốc là các bó thương mô kẽ rác 2 bên phổi, có nốt đơn độc dạng sợi được tạo bởi các tế bào hình thoi, ở thùy dưới phổi phải, giới hạn tương đối rõ, ranh giới các tế bào không rõ, bào tương ái đậm độ mô, kích thước khoảng 15 mm; kèm toan, nhân hình thoi thuôn dài hoặc oval, chất nhiều hạch trung thất, rốn phổi phải, hạch nhiễm sắc mịn, ít thấy có khoảng sáng và thể nách 2 bên không điển hình viêm; nhu mô giả vùi trong nhân, với mô đệm có chất nền phổi hai bên còn lại trong giới hạn bình sợi collagen ít, không có thấm nhập tế bào thường. Sinh thiết hạch bằng lõi kim dưới viêm. Phân bào rất ít, không xâm nhập mạch hướng dẫn siêu âm cho thấy đều là hạch viêm. máu hay mạch lympho (Hình 13B-D). Nội soi khí phế quản bình thường, xạ hình 148
- TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 545 - THÁNG 12 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2024 A B C D Hình 13: (A) U màng não (dấu sao) ở phổi có giới hạn rõ (đường đứt nét) với mô phổi (dấu vuông) xung quanh (độ phóng đại 40x), (B) Tế bào u dạng biểu mô sắp xếp thành các cấu trúc dạng tiểu thùy (độ phóng đại 100x), (C) Tế bào u hình thoi tạo thành các bó xen lẫn giữa các cấu trúc tiểu thùy (độ phóng đại 200x), (D) Các cấu trúc cuộn tròn (dấu mũi tên) đặc trưng của u màng não (độ phóng đại 400x) Kết quả hóa mô miễn dịch cung cấp thông dương tính khu trú trong các cấu trúc xoáy lốc; tin bổ sung quan trọng cho chẩn đoán. Các tế dấu ấn vimentin dương tính mạnh, lan tỏa bào u cho thấy âm tính hoàn toàn với các dấu trong bào tương ở cả 2 thành phần hợp bào ấn DOG1, desmin, SMA, CD34 và panCK; dạng biểu mô và tế bào hình thoi định hướng loại trừ các chẩn đoán phân biệt tương ứng như đến khả năng u có nguồn gốc từ trung mô u mô đệm đường tiêu hóa, u cơ trơn, u sợi đơn (Hình 14B-C). Dấu ấn CD56 dương tính khu độc, u trung biểu mô màng phổi trú trong các thành phần tế bào hình thoi (Hình (mesothelioma) và các loại u xuất phát từ biểu 14E). Dấu ấn PR dương tính (Hình 14D). Chỉ mô. Trong khi đó, dấu ấn EMA cho thấy số Ki67 khoảng 2% (Hình 14F). 149
- HỘI THẢO KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH GIẢI PHẪU BỆNH CÁC TỈNH PHÍA NAM LẦN THỨ 14 A B C D E F Hình 14: Hóa mô miễn dịch điển hình của u màng não: (A) Đặc điểm vi thể trên tiêu bản H&E, (B) EMA biểu hiện khu trú quanh các cấu trúc tiểu thùy hay cuộn tròn, (C) Vimentin biểu hiện mạnh và lan tỏa, (D) PR dương tính với nhân tế bào u, (E) CD56 dương tính chủ yếu ở thành phần tế bào u hình thoi, (F) Ki67 biểu hiện khoảng 2% Sau khi có kết quả hóa mô miễn dịch, bệnh chụp MRI sọ não để loại trừ di căn từ não, kết nhân được chẩn đoán là u màng não, chưa rõ quả ghi nhận không có khối u bất thường ở nguyên phát hay di căn. Bệnh nhân được cho não. Tổng hợp các đặc điểm lâm sàng, hình 150
- TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 545 - THÁNG 12 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2024 ảnh học và các kết quả mô bệnh học, khối u hạn rõ, kích thước thay đổi từ 4-150 mm với được chẩn đoán xác định là u màng não, dạng trung vị khoảng 24 mm [7,8]. Hình ảnh trên chuyển tiếp, độ I theo phân loại WHO năm CT ngực của bệnh nhân này cho thấy các đặc 2021, nguyên phát ở phổi. điểm điển hình theo y văn ghi nhận, tuy nhiên nhiều báo cáo trước cũng cho thấy nhiều III. BÀN LUẬN trường hợp có hình ảnh tổn thương rải rác U màng não nguyên phát ở phổi là khối u hoặc giới hạn không rõ, cho thấy hình ảnh học của mô lạc chỗ ở phổi, rất hiếm gặp, do đó khá thay đổi và không đặc hiệu cho u màng khó có thể chẩn đoán chính xác trước mổ [8]. não, do đó khó có thể định hướng được là u U thường rất ít biểu hiện triệu chứng lâm màng não trên CT ngực [8]. sàng, chủ yếu phát hiện tình cờ qua các xét Trên đại thể, u là một khối tổn thương giới nghiệm hình ảnh học [4,7]. Một số trường hợp hạn rõ, mặt cắt màu trắng hoặc xám vàng, mật có thể có các triệu chứng như đau ngực, khó độ chắc. Khối u của bệnh nhân này cũng có thở, ho ra máu, ho khạc đàm, sụt cân và các các đặc điểm tương tự như y văn mô tả. Tuy triệu chứng không đặc hiệu khác [2,5,6]. U có nhiên những đặc điểm này không đặc hiệu và khuynh hướng gặp ở nữ hơn, độ tuổi từ 10 cũng rất khó để định hướng tới u màng não. đến 108 tuổi với trung vị là 56 tuổi. U có thể U màng não nguyên phát ở phổi cũng biểu gặp ở bất kì phân thùy phổi nào, không có vị hiện các đặc điểm mô học và hóa mô miễn trí đặc hiệu cho u [7,8]. Trong ca bệnh của dịch khá tương tự với u màng não ở hệ thần chúng tôi, bệnh nhân lớn tuổi (74 tuổi) phát kinh trung ương hay ở các vị trí khác [7]. Với hiện khối u tình cờ qua xét nghiệm hình ảnh một nốt u phổi đơn độc trên bệnh nhân lớn học, không có bất kỳ triệu chứng hô hấp nào tuổi, rất nhiều khả năng đây là một khối u ác khá phù hợp với đặc điểm lâm sàng được ghi tính. Việc tiếp cận và đánh giá bản chất khối u nhận trong y văn. Tuy nhiên, bệnh nhân là là rất quan trọng trong việc điều trị và tiên nam giới, cũng đã được báo cáo trước đây, lượng cho bệnh nhân. Tuy nhiên, việc đánh giá nhưng với tỉ lệ thấp hơn so với nữ giới. Vị trí bản chất khối u dựa vào lâm sàng, xét nghiệm khối u nằm ở thùy dưới phổi phải, cũng đã sinh hóa và hình ảnh học đôi khi gặp chút khó được ghi nhận trong các báo cáo trước đây khăn do các biểu hiện thường không đặc hiệu. [8]. Dù cơ chế bệnh sinh của u màng não Do đó, đánh giá trên giải phẫu bệnh trên mẫu nguyên phát ở phổi vẫn chưa được hiểu rõ, y mô phổi sinh thiết hoặc phẫu thuật lấy được là văn đã ghi nhận được một số giả thuyết giải đặc biệt quan trọng trong chẩn đoán xác định thích cho sự tồn tại của thực thể này. Giả bản chất u. Phổi là vị trí có thể gặp rất nhiều thuyết thứ nhất cho rằng u màng não nguyên loại mô học u nguyên phát khác nhau; bao gồm phát ở phổi có thể là kết quả của sự tăng sản cả u lành và u ác như u biểu mô, u trung mô, u đám tế bào dạng màng nhện phôi thai lạc chỗ hệ tạo huyết-lympho và u của mô lạc chỗ. hoặc nốt nhỏ thượng mô màng não ở phổi [4- Ngoài ra đây còn là một trong những vị trí di 6]. Giả thuyết thứ hai lại cho rằng những khối căn xa nhiều nhất của u từ các cơ quan khác. u này xuất phát từ các tế bào gốc trung mô Do có đa dạng kiểu hình mô học như thế nên vạn năng nằm ngay dưới màng phổi [2]. có thể rất khó để xác định bản chất u trên vi thể Biểu hiện trên hình ảnh học thường không đối với những nhà giải phẫu bệnh mới hoặc đặc hiệu, chủ yếu là nốt phổi đơn độc, giới chưa có nhiều kinh nghiệm. Trong đó có rất 151
- HỘI THẢO KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH GIẢI PHẪU BỆNH CÁC TỈNH PHÍA NAM LẦN THỨ 14 nhiều khối u rất hiếm gặp, khi đối mặt có thể mô miễn dịch để hỗ trợ chẩn đoán. Hóa mô gây khó khăn cho nhà giải phẫu bệnh khi lần miễn dịch điển hình biểu hiện dương tính với đầu nhận diện. Nhờ vào việc nhuộm hóa mô vimentin, EMA, PR, SSTR2A, S100 và CD56; miễn dịch hoặc sinh học phân tử có thể giúp âm tính với các dấu ấn như cytokeratin, ích rất nhiều trong việc xác định bản chất u. HMB45, synaptophysin, chromogranin [7]. Trong đó u màng não nguyên phát ở phổi là Trong trường hợp ca này, trên vi thể chúng khối u rất hiếm gặp, nhưng rất dễ nhận diện tôi thấy được u có các đặc điểm điển hình của trên mô học vì có các đặc điểm vi thể đặc một u màng não: tế bào u dạng hợp bào tạo trưng, hoặc trong một số trường hợp khó khăn, thành từng đám có cấu trúc tiểu thùy, bào nhuộm hóa mô miễn dịch có thể hỗ trợ cho tương ái toan, có khoảng sáng trong nhân, có việc chẩn đoán xác định. Theo bảng phân loại các cuộn tròn, nhưng rất ít thể cát (Hình 13). WHO 2021 [7], các yếu tố thiết yếu để chẩn Với những đặc điểm như thế có thể hướng đến đoán u màng não nguyên phát ở phổi là: (1) chẩn đoán u màng não và làm thêm hóa mô các khối u đặc có giới hạn rõ với kiểu tăng sinh miễn dịch hoặc xét nghiệm hình ảnh học từ đó tạo thành các cấu trúc dạng cuộn tròn và tiểu đưa ra chẩn đoán xác định nhanh chóng để có thùy, (2) không có u màng não ở hệ thần kinh hướng điều trị thích hợp và tiên lượng cho trung ương, (3) các tế bào u không tăng sinh bệnh nhân. Tuy nhiên, với vài nhà giải phẫu trong mô kẽ phổi hoặc quanh tiểu tĩnh mạch, bệnh ít tiếp cận với các khối u thuộc hệ thần (4) kích thước thường >4mm. Có thể thấy rằng kinh, đặc biệt là u màng não, có thể khó nhận trong các yếu tố chẩn đoán của WHO thì yếu ra các đặc điểm đặc trưng nhất là khi u có các tố đầu tiên là quan trọng nhất, là các đặc điểm vùng kiểu hình dạng sợi, tạo thành các bó hay mô học đặc trưng và giúp định hướng đến u dải tế bào giống như tế bào hình thoi làm nhận màng não. Sau đó, cần phải đi loại trừ u ở hệ định nhầm đây có thể là u cơ trơn, u mô đệm thần kinh trung ương di căn đến phổi bằng có đường tiêu hóa, u sợi đơn độc, u tế bào bao sợi xét nghiệm hình ảnh học. thần kinh hoặc u tuyến ức dạng tế bào hình Đặc điểm mô học giúp chúng tôi nhận diện thoi. Trong đó u cơ trơn có các đặc điểm đặc và hướng đến u màng não như: đặc điểm tế trưng như các sợi cơ trơn hình thoi xếp thành bào là các tế bào thượng mô màng não tạo từng bó dọc hoặc cắt ngang xếp đan xen nhau, thành cấu trúc dạng hợp bào, màng bào tương với ranh giới giữa các tế bào không rõ, bào không rõ giới hạn từng tế bào và bào tương ái tương ái toan, nhân tế bào hình điếu xì gà và có toan, chất nhiễm sắc mịn và có khoảng sáng hạt nhân nhỏ. Đặc điểm giúp có thể phân biệt trong nhân hoặc thể giả vùi; u thường tạo thành với u màng não dạng sợi là không có các bó các đám hợp bào cuộn tròn giống cấu trúc hạt sợi collagen ái toan đan xen giữa các bó sợi cơ màng nhện, và thể cát. Đây là những đặc điểm trơn. Ngoài ra, dấu ấn desmin và SMA âm tính mô học điển hình của u màng não và khi thấy cũng giúp loại trừ u cơ trơn trong trường hợp có những yếu tố này nên hướng đến u màng này. Đối với u mô đệm đường tiêu hóa với chủ não để loại trừ di căn từ hệ thần kinh trung yếu là thành phần tế bào hình thoi đôi khi có ương trước khi chẩn đoán là nguyên phát tại thể giống với u màng não dạng sợi, với các đặc phổi. Tuy nhiên trong một số trường hợp có điểm như các bó tế bào hình thoi đan xen nhau thể không gặp các đặc điểm đặc trưng nêu trên theo kiểu hình xoáy lốc (storiform), với nhân của u màng não, có thể cần phải thực hiện hóa hình oval hoặc thuôn dài hai đầu tù, bào tương 152
- TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 545 - THÁNG 12 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2024 ái toan, và có không bào sáng ở cạnh nhân. vimentin là 2 dấu ấn đáng tin cậy giúp hướng Tình huống trên với đặc điểm vi thể có các đến u màng não [3]. SSTR2A là một dấu ấn thành phần hình thoi xen kẽ giữa các đám tế miễn dịch mới được chứng minh gần đây cho bào dạng tiểu thùy tuy nhiên có nhiều đặc điểm thấy có độ nhạy và độ đặc hiệu cao cho u màng không điển hình của u mô đệm đường tiêu hóa não ở hệ thần kinh trung ương cũng có thể sử như tạo thành cấu trúc tiểu thủy và cuộn tròn. dụng để chẩn đoán u màng não nguyên phát tại Khi này có thể cần hóa mô miễn dịch để hỗ trợ phổi [1]. Một dấu ấn khác là PR có độ nhạy cho việc chẩn đoán như DOG1, có độ nhạy thấp hơn nhưng mức độ biểu hiện có vẻ như cao, khi âm tính giúp loại trừ u mô đệm đường tương quan nghịch với độ mô học của u màng tiêu hóa. Còn u sợi đơn độc gồm các tế bào não ở hệ thần kinh trung ương [1]. Nhưng hình thoi với ranh giới giữa các tế bào không trong u màng não nguyên phát tại phổi vẫn rõ, bào tương ít, sắp xếp một cách vô tổ chức chưa có nhiều dữ liệu để chứng minh mối và tạo thành các bó sợi ngắn, bờ thường rõ, các tương quan này. mạch máu dạng sừng hươu. Mặc dù trong ca Sau khi đã chẩn đoán u màng não trên mô này không có các mạch máu dạng sừng hươu học, cần xác định xem đây là u màng não di và các cấu trúc tiểu thùy với tế bào dạng biểu căn từ hệ thần kinh trung ương hay nguyên mô có cấu trúc giống hợp bào, nhưng không phát tại phổi bằng các xét nghiệm hình ảnh học thể loại trừ các thành phần không điển hình và như CT hoặc MRI sọ não. Trên MRI sọ não ca đang chuyển dạng ác tính của u sợi đơn độc, bệnh này cho thấy không có u và tiền căn cũng nên cần dấu ấn CD34 âm tính để loại trừ. Một chưa từng ghi nhận u màng não, không có các chẩn đoán phân biệt cần phải nghĩ đến, đặc biệt triệu chứng đau đầu, rối loạn tri giác hay dấu khi trên vi thể có 2 thành phần tế bào dạng biểu thần kinh định vị; qua đó chẩn đoán xác định mô và tế bào hình thoi, đó là u trung biểu mô đây là u màng não nguyên phát ở phổi. màng phổi. Hóa mô miễn dịch đặc biệt quan U màng não nguyên phát ở phổi được phân trọng trong việc phân biệt với loại u trung biểu độ mô học tương tự như ở hệ thần kinh trung mô này, bằng một bộ ít nhất có 2 dấu ấn trung ương [7]. Dựa vào đặc điểm tế bào đồng nhất biểu mô (như calretinin, WT1, podoplanin, and và lành tính, giới hạn khá rõ với nhu mô phổi CK5/6) và 2 dấu ấn ung thư biểu mô (như xung quanh, phân bào rất ít, không hoại tử u, claudin-4, BerEP4, MOC31, B72.3, CEA, mật độ tế bào u không nhiều, tỉ lệ nhân trên CD15, và BG8). Dù ca bệnh này không được bào tương thấp, không có hạt nhân rõ; do đó ca làm các dấu ấn nêu trên, nhưng với dấu ấn này được phân độ I theo phân loại WHO 2021. panCK âm tính cũng giúp hướng đến chẩn Đây là một loại u thường tăng sinh tương đoán khác hơn là u trung biểu mô màng phổi. đối chậm, nhất là khi không có các đặc điểm Ngoài ra, đặc điểm vi thể các tế bào dạng biểu không điển hình hoặc thoái sản của u màng mô có cấu trúc cuộn tròn hoặc dạng hợp bào có não theo phân loại của WHO [7]. Phẫu thuật thể cần chẩn đoán phân biệt với carcinom kém vẫn là phương pháp điều trị được khuyến cáo biệt hóa do đó dấu ấn panCK âm tính giúp loại đối với u màng não nguyên phát ở phổi [3]. trừ loại tổn thương từ biểu mô. Các báo cáo trên thế giới ghi nhận sau khi phẫu Trong trường hợp ca bệnh này, các dấu ấn thuật hầu hết không cho tái phát hay di căn, với hóa mô miễn dịch cơ bản có thể giúp phân biệt thời gian theo dõi sau khi xuất viện trung vị là và hướng đến u màng não, trong đó EMA và 24 tháng [8]. 153
- HỘI THẢO KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH GIẢI PHẪU BỆNH CÁC TỈNH PHÍA NAM LẦN THỨ 14 IV. KẾT LUẬN 3. Liu X, Xu X, Zou Y. Pulmonary primary Tóm lại, u màng não nguyên phát ở phổi là meningioma: A report of two cases and review khối u rất hiếm gặp nên khi tiếp cận một khối u of the literature. Heliyon. 2023;9(6):e16705. ở phổi trên lâm sàng và hình ảnh học có thể 4. Marchevsky AM. Lung tumors derived from không định hướng được đến chẩn đoán này. ectopic tissues. Semin Diagn Pathol. Các đặc điểm mô học của u màng não nguyên 1995;12(2):172-84. phát ở phổi rất tương tự với u màng não ở hệ 5. Masago K, Hosada W, Sasaki E, et al. Is thần kinh trung ương, có các đặc trưng vi thể primary pulmonary meningioma a giant form điển hình giúp hướng chẩn đoán đến u màng of a meningothelial-like nodule? A case report não nhanh chóng. Bên cạnh đó, hóa mô miễn and review of the literature. Case Rep Oncol. dịch cũng giúp ích rất nhiều trong định hướng 2012;5(2):471-8. u màng não, trong đó các dấu ấn SSTR2A, 6. Spinelli M, Claren R, Colombi R, Sironi M. EMA, vimentin và PR là quan trọng nhất, khi Primary pulmonary meningioma may arise dương tính sẽ giúp chẩn đoán u màng não dễ from meningothelial-like nodules. Adv Clin dàng. Path. 2000;4(1):35-9. 7. Tsao MS, Znaor A, Travis WD, et al. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tumours of the lung. In: WHO Classification 1. Boulagnon-Rombi C, Fleury C, Fichel C, et of Tumours Editorial Board, editor. Thoracic al. Immunohistochemical Approach to the tumours. Lyon (France): International Agency Differential Diagnosis of Meningiomas and for Research on Cancer. 2021. Their Mimics. J Neuropathol Exp Neurol. 8. Zhang DB, Chen T. Primary pulmonary 2017;76(4):289-98. meningioma: A case report and review of the 2. Incarbone M, Ceresoli GL, Di Tommaso L, literature. World J Clin Cases. et al. Primary pulmonary meningioma: Report 2022;10(13):4196-206. of a case and review of the literature. Lung Cancer. 2008;62(3):401-7. 154

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD
-
Não và các loại u não (2)
6 p |
131 |
17
-
Phát hiện sớm u não ở trẻ nhỏ
3 p |
141 |
9
-
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng u lympho nguyên phát thần kinh trung ương được xạ trị toàn não tại Bệnh viện K
9 p |
3 |
1
-
Kết quả xạ trị toàn não u lympho nguyên phát thần kinh trung ương tại Bệnh viện K
10 p |
2 |
1


Chịu trách nhiệm nội dung:
Nguyễn Công Hà - Giám đốc Công ty TNHH TÀI LIỆU TRỰC TUYẾN VI NA
LIÊN HỆ
Địa chỉ: P402, 54A Nơ Trang Long, Phường 14, Q.Bình Thạnh, TP.HCM
Hotline: 093 303 0098
Email: support@tailieu.vn
