Vai trò của xét nghiệm trong điều trị bệnh sốt rét
Một hội nghị tư vấn kỹ thuật đã được Tổ Chức Y Tế Thế Giới (TCYTTG) triệu
tập vào các ngày 25-26 tháng 10 m 2004 đ thảo luận về vai trò của xét nghiệm
trong điều trị bệnh sốt rét (SR), và báo cáo ca hội nghị này đã được công bố m
2006 trong một tài liệu dầy 40 trang có tựa là The role of laboratory diagnosis to
support malaria disease management Focus o*n the use of rapid diagnostic tests
in areas of high transmission(WHO/HTM/MAL/2006.1111).
Nhằm mục đích phổ biến ý kiến của các chuyên gia đã tham gia hội nghị, chúng
tôi xin trích dịch một số khuyến cáo và kết luận của hội nghị.
Trong tình hình hiện nay các tỉnh thuộc khu vực phía Nam, các que thử chẩn
đoán nhanh đã được triển khai tuy chưa rộng rãi vai trò của xét nghiệm phát
hiện SR qua kính hiển vi phần nào gim vì nhiều nguyên nhân (biến động xét
nghiệm viên, trang thiết bị thiếu và cũ, kết quả xét nghiệm dương tính giảm…), hy
vọng những khuyến cáo và kết luận của hội nghị này sgiúp cho nhng người làm
công tác phòng chống SR hiện nay quan m hơn đến vai trò của xét nghiệm trong
bệnh SR.
Một số khuyến cáo của hội nghị:
1. Chn đoán ký sinh trùng các tuyến khác nhau trong hệ thống y tế:
Việc chẩn đoán nhanh chóng và chính xác bnh SR chìa khóa cho việc
điều trị hiệu quả, hướng dẫn xử trí các trường hợp sốt và m gim sử dụng
không cần thiết các thuốc SR. Việc chẩn đoán bệnh SR với độ nhạy cao là quan
trọng mọi tuyến, và cn thiết cho những đối tượng dễ mắc SR nhất, một bệnh
cấp tính có thể nhanh chóng dẫn đến tử vong.
Khẳng định chẩn đoán m sàng vmặt sinh trùng phải là một phần của
thực hành lâm sàng tốt nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc y tế.
Các phòng xét nghim soi tìm SR bằng kính hiển vi hiện đang cần được
củng cố. Khi không thể soi kính hiển vi thì phải sử dụng các que thử chẩn đoán
nhanh và phải có các hệ thống đảm bảo chất lượng thích hợp.
Việc đảm bảo chất lượng của soi kính hiển vi và que thchẩn đoán nhanh
cần được đẩy mạnh ở mọi cấp của hệ thống y tế.
2. Các yêu cầu về chất lượng xét nghiệm để hỗ trợ cho việc điều trị bệnh SR:
·Các que th chẩn đoán SR nhanh phải độ nhạy cao trong mọi tình huống.
Trước đây TCYTTG đã khuyến cáo một độ nhạy 95% mật độ 100 ký sinh trùng
/ml. Để giảm nguy bỏ sót các trường hợp bệnh thật, c que thử chẩn đoán
nhanh phải khả năng phát hiện sinh trùng một cách đáng tin cậy gần với
mật độ nói trên.
·Các que thchẩn đoán SR nhanh phải tính ổn định cao, nghĩa là một thời
hạn sử dụng dài. Phải duy trì chuẩn mực trong chẩn đoán ở mọi tuyến bằng một hệ
thống đảm bảo chất lượng. Chất lượng của que thử chẩn đoán nhanh tại thực địa
phải được so sánh thường xuyên với kết quả soi ở kính hiển vi.
·Các que thchẩn đoán nhanh nào phát hiện kháng nguyên thi gian hiện diện
ngắn trong máu thì li thế trong việc theo dõi diễn tiến bệnh và sđáp ứng với
các thuốc SR.
·Khi Plasmodium falciparum loài chiếm ưu thế (> 90%) thì các que thchẩn
đoán nhanh nào chỉ phát hiện P. falciparum thích hợp. những vùng P.
vivaxmột tỷ lệ bệnh đáng kể thì nên sử dụng các que thử chẩn đoán nhanh phát
hiện được cả falciparum và không phải falciparum.
3. Các lợi ích của chẩn đoán ký sinh trùng vmặt lâm sàng:
·Việc chẩn đoán dựa trên sinh trùng giúp loại trừ bệnh SR khi chẩn đoán phân
biệt các nguyên nhân sốt, thể góp phần cải thiện việc xử trí các bệnh không do
SR. Các li ích này th thay đổi tùy theo t lệ mắc, mức tác động trên sức khỏe
và việc thực hành điều trị của các bệnh có sốt khác.
·Qua việc làm gim chẩn đoán quá mức bệnh SR và sdụng không cần thiết các
thuốc SR, sự khẳng định về sinh trùng trong chẩn đoán thể m tăng stuân
thủ điều trị (vì dùng ít thuốc hơn) và làm giảm nguy cơ tác dụng phụ do thuốc.
4. Chẩn đoán sinh trùng những nhóm khác nhau trong vùng SR lan
truyền mạnh:
·Trem dưới 5 tuổi biểu hiện lâm sàng bệnh SR cần được điều trị SR: chưa
đầy đủ chứng cớ để khuyên không điều trị SR khi kết quả sinh trùng âm tính
(qua kính hiển vi hay que thử chẩn đoán nhanh).
·Đối với trẻ trên 5 tuổi nời lớn, việc chẩn đoán SR phải được khẳng định về
mặt ký sinh trùng.
·Đối với phụ nữ thai, phải đẩy mạnh việc chẩn đoán sinh trùng, như một
phần của thực hành lâm ng tốt nhằm cải thiện chẩn đoán phân biệt trong trường
hp sốt. Điều này cũng giúp làm giảm việc sử dụng không cần thiết các thuốc SR,
mà trong đó nhiều thuốc có vấn đề về an toàn khi dùng lúc có thai. Cần nghiên cứu
thêm vlợi ích lâm sàng thcủa các que thử chẩn đoán nhanh nhằm phát
hiện kháng nguyên của các sinh trùng ẩn tại nhau thai mà xét nghiệm máu
ngoại biên qua kính hiển vi không phát hiện được.
5. Các lợi ích kinh tế của việc chẩn đoán ký sinh trùng:
·Các ước tính dựa trên giá thành hiện tại và vic dự kiến sử dụng đồng thời các xét
nghiệm thuốc SR cho thấy là có thtiết kiệm được chi phí do sdụng thuốc ít
hơn. Giá thành của các phác đồ điều trị phối hợp artemisinin càng cao, tlệ
càng nhiều SR chẩn đoán quá mức phát hiện được qua chẩn đoán ký sinh trùng, thì
càng tiết kiệm được chi phí, với điều kiện là các bệnh nhân kết quả âm tính
không được điều trị.
·Việc áp dụng rộng rãi chẩn đoán sinh trùng, qua h thống thông tin y tế được
củng cố, sẽ giúp việc làm kế hoạch nhu cầu thuốc SR hiệu quả hơn.
·Cần thêm chứng cqua việc áp dụng trên diện rộng để xác định các lợi ích về
kinh tế và sức khỏe của việc chẩn đoán ký sinh trùng.
6. Kinh nghim sử dụng que thử chẩn đoán nhanh trên diện rộng:
·Que thử chẩn đoán nhanh có thể được sử dụng một cách có hiệu quả bởi các nhân
viên y tế, kể cả nhân viên y tế cộng đồng, sau khi được huấn luyện.
·Việc khẳng định SR m sàng bởi que thử chẩn đoán nhanh thể thực hiện được
trên diện rộng, nhưng cần xem xét đến các nhu cầu vphân phối, chuyên chvà
bảo quản.