Vấn đề nghĩa của tục ngữ
1- Một số quan niệm về nghĩa của tục ngữ:
1.1. Tục ngữ là một hiện tượng văn hoá đa diện, đa dạng. Tục ngữ là một hiện tượng
ngôn ngữ, hiện tượng của tư duy và hiện tượng của văn học dân gian. Điều này giải thích
vì sao sự diễn đạt của tục ngữ đã hấp dẫn, lôi cuốn các nhà ngôn ngữ, các triết gia và các
nhà văn hoá dân gian. Điều đó cũng có nghĩa là tục ngữ, từ lâu đã được nghiên cứu
nhiều góc độ khác nhác nhau và góc độ nào cũng đem đến cho chúng ta những điều thú
vị. Một trong những góc độ thu hút sự quan tâm và c bàn cãi của thể loại này đó là nghĩa
của tục ngữ. Đa số các nhà nghiên cứu cho rằng tục ngữ có hai loại nghĩa: nghĩa đen và
nghĩa bóng.u tục ngữ có nghĩa đen là những câu tục ngữ đơn thuần chỉ đúc kết những
kinh nghiệm thuộc về các lĩnh vực như trồng trọt, chăn nuôi, các hiện tượng tự nhiên
hoặc đề cập đến sự tích lịch sử, đặc điểm địa phương.
Trong “Tục ngữ Việt Nam”, khi đề cập về nghĩa của tục ngữ, Chu Xuân Diên viết: “Một
câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng”. Đây là quan niệm được
nhiều người đồng tình. Các tác giả Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ trong
giáo trình Văn học dân gian Việt Nam” thì khẳng định rằng: “ Tục ngữ bao giờ cũng có
hai nghĩa: nghĩa đen (hay là nghĩa gốc) và nghĩa bóng (trường nghĩa)”. [15,197] Quan
niệm này chưa thật sự thuyết phục vì ta thấy có một bộ phận tục ngữ, như chúng tôi đ
cập ở trên, chcó nghĩa đen mà thôi. Có l khi khẳng định như thế, người ta chỉ chú ý đến
bộ phận tục ngữ đúc kết những kinh nghiệm, những quan niệm về triết lí nhân sinh. Còn
những câu tục ngữ đúc kết những quy luật của hiện tượng tự nhiên, những kinh nghiệm
trong lao động, chăn nuôi, trồng trọt hay một số sự tích lịch sử đặc điểm địa phương,
vốn chỉ mang nghĩa đen đã không được đề cập. Một định nghĩa cần phải bao quát được
hết tất cả các hiện tượng.
Có tác giả không dùng khái nim “nghĩa đen”, “nghĩa bóngmà dùng khái nim đơn
nghĩa”, “nhiều nghĩa”, “đa nghĩa” như Hoàng Tiến Tựu. Ông viết: “ Có những câu tục
ngữ chỉ có một nghĩa (Ví dụ: “Khoai ưa lạ, mạ ưa quen”, “Một búi cỏ, một giỏ
phân”,...). Nhưng bộ phận tục ngữ đa nghĩa chiếm tỉ lệ khá lớn, chất lượng khá cao và
bộ phận tiêu biu nhất của thể loại này” [18,132]. Theo ông: “...tục ngữ có thể chia làm
hai loại cơ bản: loại đơn nghĩa và loại đa nghĩa. Những câu tục ngữ thuộc loại đơn
nghĩa là những câu chỉ có thể hiểu theo “nghĩa đen”. Ví dụ:
- Mưa tháng bảy gãy cành trám
- Dao thử trầu héo, kéo thử lụa sô (...)
Những câu tục ngữ thuộc loại đa nghĩa có thể chia thành hai loại: loại thứ nhất
gồm những câu vừa được hiểu theo “nghĩa đen”, vừa có thể (và thường) được hiểu theo
“nghĩa bóng”; ví dụ:
- Qua giêng hết năm, qua rằm hết tháng
- Qua chợ còn tiền, vô duyên càng khỏi nhẵn má (...)
loại thứ hai gồm những câu chỉ được dùng theo “nghĩa bóng”; ví dụ:
- Chết không muốn, muốn ăn xôi
- Có sừng thì đừng hàm trên.
Những câu tục ngữ thuộc loại đa nghĩa chiếm tỉ lệ lớn hơn hẳn so với những câu
đơn nghĩa.” [18, 378- 379]
Ta thy, tuy có sự diễn đạt khác, nhưng về cơ bản, Hoàng Tiến Tựu cũng thống
nhất tục ngữ có hai loại nghĩa và tục ngữ thuộc loại đa nghĩa thực ra là cách gọi khác của
nghĩa bóng mà thôi. Khái niệm “nhiều nghĩa” cũng được Bùi Mạnh Nhị dùng trong
bài viết “Tục ngữ” được in trong quyển “Văn học dân gian- những công trình nghiên
cứu” do ông chbiên:“ Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp
điệu, hình ảnh thường mang nhiều nghĩa...” [16,242] Trong “Từ điển văn học” (B
mới), Chu Xuân Diên cũng nói đến điều này và theo ông tính nhiu nghĩa của tục ngữ là
do được hình thành bằng cách liên tưởng loại suy.”[10,1879]
Khảo sát các ý kiến trên ta thấy, các nhà nghiên cứu dù có sdiễn đạt khác nhau nhưng
có điểm chung là đều cho đại bphận tục ngữ có hai nghĩa: Nghĩa đen và nghĩa bóng hay
còn gọi là nghĩa biểu trưng.
1.2. Ngoài ra, còn có tác giđề cập đến một loại nghĩa thứ ba của tục ngữ là nghĩa khái
quát. Trong bài viết Đạo lí trong tục ngữ”, Nguyễn Đức Dân chỉ ra quá trình tạo nghĩa
khái quát này trên sở suy luận chặt chẽ. Ví dụ:
“Một người biết lo bằng kho người hay làm(1)
một người + biết lo = kho người + hay làm
kho người > một người
--------------------------------------------------------------------
---> biết lo > hay làm (a)
---> trí tu > sự cần cù (b)
(a) và (b) là hai nghĩa khái quát của (1), và bậc của (a) thấp hơn bậc của (b). [2,64]
Nghĩa khái quát cũng được Phan Thị Đào đề cập trong công trình Tìm hiu thi pháp
tục ngữ Việt Nam”. Theo tác giả, tục ngữ có ba nghĩa: nghĩa đen, nghĩa bóng (nghĩa
hình tượng) và nghĩa khái quát. Về nét nghĩa khái quát này, tác giả viết: “... ta có những
câu tục ngữ mà ở đó mỗi vế tồn tại như một tiền đề mang ý nghĩa khái quát cao, còn kết
đề là một phán đoán mang ý nghĩa khái quát cao hơn, nhưng không phải tồn tại trên văn
bản mà được rút ra từ tư duy của người tiếp nhận”:
Thợ may ăn giẻ,
TIỀN thợ vẽ ăn hồ
ĐỀ thbồ ăn nan
thhàn ăn thiếc
_______________________________________________________
KẾT
LUẬN (Làm nghgì ăn nghề ấy) [ 6, 122]
Triều Nguyên cũng thống nhất tục ngữ có ba loại nghĩa và theo ông: “nếu phân
loại tục ngữ theo hình thức tạo nghĩa, thì có bảy dạng tục ngữ sau:
+ Những câu tục ngữ chỉ có một nghĩa đen. VD: Tháng bảy nước nhảy lên b.
+ Những câu tục ngữ chỉ có nghĩa khái quát. VD: Cái sảy nảy cái ung.
+ Những câu tục ngữ chỉ có nghĩa bóng. VD: Nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp
vung méo.
+ Những câu tục ngữ vừa có nghĩa đen vừa có nghĩa khái quát. VD: Trâu he hơn
bò khỏe.
+ Những câu tục ngữ vừa có nghĩa đen vừa có nghĩa bóng. VD: Ngựa hay chạy
đường dài mới biết.
+ Những câu tục ngữ vừa có nghĩa khái quát vừa có nghĩa bóng. VD: To thuyền
thì to sóng.
+ Những câu tục ngữ vừa có nghĩa đen vừa có nghĩa khái quát, lại vừa có nghĩa
bóng. VD: kđầu, rau kể mớ. [ lược trích 14,8-9]
Và theo tác giả, bảy dạng tục ngữ này có thể gộp làm hai nhóm ln: nhóm những
câu tục ngữ chỉ có một nghĩa (ba dạng đầu), và nhóm những câu tục ngữ có nhiều loại
nghĩa (bốn dạng còn lại).
Việc nêu ra thêm nghĩa khái quát của tục ngữ cho thấy sự cố gắng của các nhà nghiên
cứu trong việc giải mã” tục ngữ. Ngoài ra, còn cho chúng ta thấy, cùng một tư duy
logic, cùng một nội dung biểu đạt nhưng có nhiều cách diễn đạt khác nhau, những chất
liệu tạo nghĩa khác nhau. Do vậy, dù đề cập đến một triết lí nhân sinh nào đó, vốn khô
khan nếu được diễn đạt bằng cách nói thông thường, cách nói của tục ngữ vẫn tạo nên s
hấp dẫn đối với chúng ta là như thế. Tuy nhiên, sự phân giới giữa hai loại nghĩa: biểu
trưng và khái quát vẫn chưa thật sự rõ ràng. Trong bài đã dẫn, Triều Nguyên cho rằng:
Nghĩa khái quát được rút ra trên sở những hình ảnh, khái niệm cụ thể của câu tục
ngữ, sao cho ý nghĩa được rút phải bao hàm ý nghĩa của câu tục ngữ[14,11]. Điều đó
cũng không khác gì với cơ chế tạo ra nghĩa biểu trưng. Và theo chúng tôi, nghĩa bóng và
nghĩa khái quát mà tác giả đề cập cũng chỉ là nghĩa biểu trưng mà thôi. Có tục ngữ có
nghĩa biểu trưng mang tính khái quát cao, có tục ngữ có nghĩa biểu trưng mang tính khái
quát thấp.
1.3. Gần đây, Nguyễn Xuân Đức cho rằng tục ngữ chỉ có một nghĩa mà thôi và nghĩa đó
do hoàn cảnh nói năng, do môi trường vận dụng quy định. Trong Tạp chí Văn hoá dân
gian” s4 năm 2000, ông viết: Tục ngữ nói riêng, văn học dân gian nói chung bao giờ
cũng gắn với môi trường ứng dụng, cho nên chúng ta không thể xét nghĩa của nó trên văn
bản chết như đối với tác phẩm truyền bằng chữ viết. Mỗi lần ứng dụng, như đã nói