VIÊM PHỔI THÙY DO PHẾ CẦU KHUẨN
1. VI KHUẨN HỌC:
Phế cầu là vi khuẩn gram dương, vỏ bọc, có thể phân lập được người khoẻ
mạnh (người lành mang trùng), chyếu trẻ trước tuổi đi học, vào mùa Xuân.
84 typ huyết thanh, nhưng chỉ một số gây bệnh như typ 1,3,4,6,7,8,9,12,14,19
23. Typ 3 có độc tính cao nhất.
2. SINH LÝ BỆNH:
- Phế cầu là nguyên nhân chyếu của viêm phổi thuỳ. Chúng phát triển niêm
mạc hầu họng bằng cách gắn với nhóm đường đôi N-axetylglucozamin beta 1-3
galactoza của tế bào biểu đường hấp trên. Viêm phổi thường xảy ra
những người số lượng cao phế cầu niêm mạc hầu họng. Vpolysaccarid của
vi khuẩn ức chế khả năng thực bào của bạch cầu thông qua hiện tượng opsonin.
Glycopeptid màng vi khuẩn thu hút bạch cầu N đến. N tiết ra cytokin và yếu t
hoạt hoá tiểu cầu khởi đầu cho quá trình viêm. Một số protein vỏ phế cầu như
protein A, pneumolysin... cũng quyết định độc tính của vi khuẩn.
- Bệnh nhân viêm phổi phế cầu thường suy giảm cơ chế bảo vệ đường thở tạm thời
hoặc mạn tính, là yếu tố thuận lợi để phế cầu bị hút từ họng vào phế nang. Các phế
nang chứa đầy dịch tiết, tạo điều kiện cho phế cầu nhân lên và qua lKohn để lan
rộng ra những phế nang xung quanh. Sự lan rộng của phế cầu bị màng phổi tạng,
màng ngoài tim giới hạn lại. Trong vòng vài giờ, các phế nang bị đông đặc và
chứa đầy N, hồng cầu. Sau cùng, đại thực bào sxâm nhập vào dọn sạch phế
nang. thành phế nang còn nguyên vẹn nên cấu trúc phổi luôn khôi phục bình
thường sau khi khỏi bệnh.
Viêm phổi chủ yếu xảy ra một thuỳ. Tổn thương nhiều thuỳ xảy ra khi phế cầu
theo dịch viêm lan đến thuỳ phổi khác theo đường phế quản. Viêm th lan trực
tiếp đến màng phổi, màng tim gây mmàng phổi, màng ngoài tim.
Phế cầu lan theo đường bạnh huyết giai đoạn sớm của bnh. Nếu hạch bạch
huyết khu vực không ngăn chặn được, vi khuẩn vào máu gây vãng khuẩn huyết.
Biến chứng xa liên quan đến những typ độc tính cao.
Kháng thđặc hiệu đối với kháng nguyên vphế cầu xuất hiện 5 -10 ngày sau khi
mắc bệnh, làm tăng mạnh mẽ quá trình thực bào vi khuẩn, gây nên n "bệnh
biến".
3. GIẢI PHẪU BỆNH LÝ:
3.1. Đại thể:
Tổn thương thường chiếm cả một thùy phổi, phần phổi còn lại hoàn toàn bình
thường.
3.2. Vi thể:
Hình ảnh phế nang viêm fibrin bạch cầu với các giai đoạn như sau:
- Giai đoạn xung huyết (ngày đầu tiên): xung huyết các mao quản phổi và xuất tiết
dịch tơ huyết chứa ít bạch cầu vào trong lòng phế nang.
- Giai đoạn “can hoá đỏ” (ngày th2, 3): mặt cắt vùng phổi viêm đỏ xẫm giống
màu của gan. Lòng phế nang đầy dịch tiết keo đặc với nhiều fibrin, hồng cầu, phế
cầu khuẩn, số lượng vừa phải bạch cầu N và một ít bạch cầu M. Màng phổi vùng
tổn thương bị viêm cấp tính với những mảng fibrin ở lá tạng.
- Giai đoạn "can hoá m" (ngày th4, 5): mặt cắt phổi màu m nhạt. Lòng
phế nang chứa ít hồng cầu, nhưng rất nhiều bạch cầu N. Giai đoạn này kéo dài
3 - 4 ngày, sau đó chuyển sang giai đoạn hấp thu. Dịch tiết fibrin được hoá lỏng
bởi các enzym giải phóng ra từ bạch cầu hạt. Chất lỏng này được thực bào bởi đại
thực bào phế nang. Tchức phổi được khôi phục lại hoàn toàn.
4. LÂM SÀNG:
4.1. Diễn biến lâmng đặc trưng.
Bệnh xuất hiện đột ngột sau cảm lạnh, viêm đường hấp trên, n rét run d
dội. Ngay sau đó sốt cao 390 - 410C, thnhanh, mạch nhanh, ho khan, đau ngực,
buồn nôn, nôn. Bệnh đến cao điểm vào ngày thhai, ba với biểu hiện rất mệt, ho
khạc đờm mầu rỉ sắt do chảy máu trong phế nang, Herpes môi, thở nhanh nông, vã
mồ hôi. Cử động lồng ngực bên tổn thương giảm, rung thanh tăng, đôi khi sờ thấy
cmàng phi. đục khi vùng đông đặc rộng. Rì rào phế nang giảm, ran nổ, thổi
ống, tiếng ngực (pectoriloquy), cọ màng phổi.
thời đại kháng sinh, triệu chứng không điển hình như trên, đôi khi chỉ đau
ngực, thậm chí không sốt và khạc đờm. ở người già, có khi không thấy triệu chứng
thực thể, nhưng triệu chứng loạn thần nhiễm khuẩn lại nổi bật.
4.2. Tiến triển của bệnh:
- Theo kinh điển (khi Penixilin chưa ra đời), cơn bệnh biến xuất hiện sau 5 - 10
ngày: nhiệt độ giảm nhanh vbình thường hoặc dưới mức bình thường, đái nhiều,
vã mồ hôi, có thể trụy tim mạch đưa đến tử vong. Bệnh có thể giảm từ từ và không
có cơn bệnh biến.
- Nếu dùng penixilin G: bệnh đỡ nhanh, thường hết sốt sau 24 - 36 giờ. thể sốt
kéo dài hơn nhưng không cần thay đổi kháng sinh. Sốt tái lại liên quan đến các
nhiễm trùng ngoài phổi, chít hẹp phế quản do ung thư hoặc dị vật, dị ứng thuốc,
viêm tắc tĩnh mạch ở vị trí truyền dịch hoặc do bội nhiễm khác.
4.3. Biến chứng:
4.3.1. Biến chứng tại chỗ:
- Tràn dịch màng phổi: dịch tiết, số lượng dịch ít. Mmàng phổi chủ yếu gặp khi
điều trị kháng sinh muộn hoặc không đúng. Nghi mủ màng phổi khi sốt kéo dài,
bạch cầu tăng cao.
- Tràn dịch màng ngoài tim hiện nay ít gặp: sốt kéo dài, mạch nhanh, đau ngực, cọ
màng ngoài tim; xquang thấy bóng tim to.
4.3.2. Biến chứng xa:
- Viêm màng não: biến chứng nguy hiểm tính mạng, đặc biệt đối với bệnh nhân
già yếu.
- Viêm màng trong tim.
- Viêm khớp nhiễm khuẩn.
- Viêm nội nhãn.
- Viêm phúc mạc.