Viết lời bình cho mt tác phẩm văn học
Đã tlâu, viết lời bình cho một tác phm văn học đã được nhiều tao nhân
mặc khách sử dụng, để litrang hoa, tờ hoa” diễm lệ.
Người viết lời bình vn am hiểu u sắc từ chương học, lịch lãm cuộc đời và
văn chương, lại rất tài hoa. Tác phm văn chương hay thì người ta mói viết li
bình. Nhng lời bình đặc sắc đã dệt gm thêu hoa cho c phm; i hay của văn
chương như được thăng hoa thm u vào hồn người. Ni viết lời bình qua s
thm bình ca mình mà hướng dẫn người đọc đi sâu vào i u kín của tác phm
để cảm nhn, thưởng thức yêu mến.
Phê bình hin đại còn n ti, chưa đạt đến chỗ thâm hâu, tinh tế và linh diệu
của văn chương. Những bài “giới thiệu ch” đăng tải trên báo, pjhần lớn nhạt
nhẽo, vô vị vì mang tính chất rao hàng!
Những lời bình của một số nhà nho trong thế k XIX vTruyn Kiều”, li
bình ca Mao n Cương về Tam quốc cdin nghĩa”, li bình của Thánh Thán
về Đường thi, về “Hồng lâu mộng”, vừa hay, vừa sâu sắc, đọc lên nghe rất thú vị.
Viết li bình cũng là một kiểu bình giảng đặc biẹt. Người viết lời bình hay
viết ngắn mà thâu tóm được linh hồn áng văn thơ, khen chê cái hay, i đẹp của tác
phm trên những n cứ thi pháp và quan đim thm mỹ tiến bộ.
Trong bài Một đôi điu m strên câu chuyn bình thơ” nhà văn Hoài
Thanh viết:
Làm thơ một cách phát biểu ý kiến, Bình thơ cũng là một ch phát biểu
ý kiến. Không phải chỉ là phát biểu về thơ, mà trước hết là phát biu về những vấn
đề tư tưởng tình cm đang đặt ra trong cuộc sống (…)
Ngưi bình thơ không phải muốn nói gì ti, phi dựa vào thơ nói,
không được mưn cớ bình thơ đểi những chuyện không có gì dính dáng vi thơ.
Cho n trước hết là phi tìm hiu bài thơ, tập thơ cho đúng. Tìm hiu thơ, tìm
hiểu người làm thơ, am hiểu hoàn cảnh ra đời của thơ. Bình thơ đòi hỏi phải có
cm xúc, tình cm nhưng cảm xúc, tình cm trên sở một sự hiểu biết khoa
học, không thể là một thứ cảm tính vu vơ. Điều này khhông dnhất đối với thơ
xưa”.
Cũng như kiểu bài m tắt tác phẩm, Gii thiệu tác giả, kiểu bài Viết lời
bình chưa đề cập đến, chưa được coi trọng thỏa đáng. Chúng tôi hy vọng rằng kiểu
bài Viết lời bình không chlà hình thức tp dượt bình giảng mà còn được đưa vào
bài tập ngắn thường xuyên trong quá trình ging dạy và học tập.
Những li bình - đọc tham kho
Vui buồn, tan hợp, mười mấy m trời, trong cuốn n tả ra như hệt, không
khác một bức tranh vậy. Xem đến chỗ giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy căn
duyên vẫn gỡ chưa rồi, khúc đàn bạc mnh gáy xong, mà oán hận vẫn còn chưa hả,
thì du đời xa người khuất, không được mục kích tận nơi nhưng lời n tỏ ngm
ngùi, đau đớn như đứt ruột. Thế thì gọi tên là “Đoạn trường tân thanh” cũng phải.
Ta lúc nhàn đọc hết cả một lượt, mi lấy làm lrằng: Tó NTử dụg tâm đã
khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có cái con mắt
trong thấu cả 6 cõi, tm lòng nghĩ suốt cnghìn đời, thì i nào cái bút lực y,
bèn vui mà viết bài tựa này”
(Tiên phong Mng Liên Đường chnhân Bùi K dịch)
Tu thân
Thấy người hay thì cmà bắt chước, thấy người dở thì phi tự xét xem có dở
như thế không để mà sửa đổi,
Chính mình điu hay, thì phi cố mà gilấy, chính mình điều dở, thì
pahỉ cố mà trừ đi.
Ngưi chê ta, mà chê phải, tức là thy ta; người khen ta, mà khen phi, tức là
bạn ta; còn người nịnh hót ta li là cu địch, hại ta vậy.
Cho nên người quaan tử trọng thy, quý bạn và rất ghét cừu địch, thích điều
phải mà không chán, nghe lời can mà biết răn… Như thế dù muốn hay không cũng
không đạt.
Ktiu nhân thì kng thế. Cực bậy, mà lại ghét người chê mình; rất dở, mà
li tch người khen mình; bụng da như h lang, ăn như cầm thú, mà thấy ngưi
ta không phục, li không bng lòng; tn với kẻ xiềm nịnh, xa cách kẻ can ngăn,
thấy người chính trực thì cười, thấy người trung tín thì chê… Như thế thì dù mun
không d cũng không được
(Tuân Tử)
* Li bàn của Nguyn Văn Ngọc và Trần Nhân, đồng tác gi cuốn sách
Cổ học tinh hoa” rất ni tiếng, xuất bản từ năm 1925:
i đạo tu thân rút lại chỉ có biết theo điều hay, biết tránh điều dở. Mà
mun tới cái mục đích ấy, thì không những là tmình phải xét mình licòn phải
xét i cách người với mình nữa. Đối với ngưi, cần phi biết hai điều: Ai khen,
chê phi, khen răn hay, thì phục, thì bt chước: ai chiều lòng nịnh hot, thì tránh cho
xa, coi như quân cừu đch. “Nên ưa người ta khuyên mình hơn người ta khe minh”,
có như thế, mình mới tu thân được”.
* Bình 2 câu thơ sau ca Đỗ Phủ:
“Độc thư pá vạn quyển,
Hbút như hữu thn.
(Đọc sách phá vạn quyển,
Hbút (viết) như có thn).
người hỏi: Thơ đã không phi loại kinh điển, cần gì phi nêu i thuyết
Đọc sách phá vạn quyển” ca Thiếu ng? Vậy thì người đó không biết rằng ba
ch phá” và hu thần” toàn phép dy người đọc ch m văn đấy. Đó là
pháquyn sách để tiếp thu lấy i thần” của nó, chứ không phi là hoàn toàn
nhặt nhạnh cả cặn bã ca vậy. Tằm ăn dâu nhưng nhả ra chkhông phải
nhlá u. Ong hút nhuỵ hoa mà y thành mật chứ không phải gây thành nhu
hoa. Đọc ch như ăn cơm vậy, kẻ khéo ăn”, tinh thn xln lê, kkhông khéo
ăn” sinh ra đờm, bướu”.
Viên Mai (Đời Thanh) (“Tuỳ viên thi thoại”)