
XỬ LÝ NHANH ẢNH SỐ
Với Adobe Photoshop
Đỗ Minh Phương, 10/2006

-2-
MỞ ĐẦU
iệc sử dụng ảnh số đã và đang ngày càng trở nên phổ biến và có xu hướng lấn át xu thế
chụp ảnh sử dụng phim âm bản. Lợi điểm của chụp ảnh số là đơn giản, và cho kết quả
tức thì. Người sử dụng có thể xem kết quả ngay lập tức sau khi chụp. Với những ai yêu
thích xử lý ảnh trên máy tính thì loại hình này tỏ ra vô cùng tiện lợi. Việc trao đổi ảnh hay đăng
tải thông qua Internet hoặc các phương tiện lưu trữ khác cũng trở nên dễ dàng hơn nhiều so với
ảnh chụp bằng phim âm bản. Tuy có nhiều hạn chế so với ảnh chụp bằng phim như độ phân giải,
độ nhạy, sắc màu còn thua kém về mặt chất lượng, trong tương lai không xa, với tiến bộ của
khoa học kỹ thuật, khoảng cách giữa ảnh số và ảnh chụp phim sẽ dần dần bị xóa nhòa. Hiện nay
rất nhiều hãng chế tạo máy ảnh nổi tiếng như Nikon, Canon hay Pentax đã ngưng sản xuất nhiều
loại máy ảnh sử dụng phim để đầu tư vào lĩnh vực ảnh số. Điều đó cũng nói lên xu hướng tất yếu
của việc ứng dụng công nghệ số vào trong lĩnh vực nhiếp ảnh.
Ảnh số có nhiều ưu điểm riêng nhưng cũng còn tồn tại nhiều vấn đề có liên quan tới kỹ thuật.
Phần lớn người chụp ảnh số ít nhiều thường mắc những lỗi cơ bản trong quá trình lấy sáng, chọn
tiêu điểm của ảnh, xử lý độ sâu ảnh hay cắt khung hình. Bên cạnh đó, những hạn chế kỹ thuật
như độ nét, độ nhạy của bộ cảm quang, độ sâu ảnh, mắt đỏ, méo hình, cháy ảnh hoặc ảnh sạn bắt
nguồn từ phần cứng của máy ảnh là những lỗi rất khó khắc phục. Song hành với ảnh số, người sử
dụng cần có một bộ công cụ hữu hiệu để khắc phục và làm đẹp các tấm ảnh số sao cho chúng trở
nên đẹp hơn, thật hơn và cũng nghệ thuật hơn. Đại bộ phận các nhiếp ảnh gia trên thế giới yêu
thích và tán đồng với quan điểm sử dụng phần mềm Photoshop của hãng phần mềm nổi tiếng
Adobe Systems Incorporated phục vụ việc chỉnh sửa và tăng cường chất lượng các tấm ảnh chụp
bằng kỹ thuật số. Phần mềm Photoshop có lịch sử khá lâu đời và nó đã thực sự trở nên một
người bạn lý tưởng cho những ai yêu thích công việc xử lý ảnh số trên máy tính.
Trong phần giáo trình hướng dẫn Xử lý nhanh ảnh số với Adobe Photoshop, chúng tôi muốn
đưa ra những gợi ý cơ bản giúp các bạn đạt được một số mục đích chính sau:
- Xử lý nhanh và đơn giản cân bằng sáng cho các bức ảnh số
- Cân bằng màu sắc và các hiệu ứng màu
- Làm một bức ảnh rõ nét hơn
- Cắt, gọt khung hình một bức ảnh
- Tẩy, xóa những điểm ảnh bị lỗi
- Các thao tác cơ bản khác với ảnh số
- Tạo các hiệu ứng đặc biệt trên ảnh
Các thông tin trong giáo trình này tương đối ngắn gọn và tập trung trực tiếp vào những vấn đề
cần giải quyết. Để có thêm đầy đủ thông tin, các bạn có thể tham khảo một số trang web sau:
http://www.phong.com/
http://www.photoshoptechniques.com/
http://www.planetphotoshop.com/
Các bức ảnh đẹp có thể được tham khảo tại trang web:
http://www.photosig.com/
Chúc các bạn thành công với Photoshop.
Đỗ Minh Phương. Remote Sensing and GIS, AIT Thailand. October 2006.
V

-3-
CÁC NÚT CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA PHOTOSHOP
hần này chúng tôi mặc định là các bạn đã biết cách mở một bức ảnh trong Photoshop. Khi
một bức ảnh đã được mở thì cũng là lúc thanh công cụ (toolbar) phát huy tác dụng.
Cách sử dụng các nút trong hộp công cụ này sẽ được mô tả chi tiết hơn trong các bài tập cụ thể.
Khi hướng dẫn làm bài tập, chúng tôi sẽ chỉ đề cập tới số thứ tự các nút hoặc tên ngắn gọn bằng
tiếng Anh (như của chương trình) để các bạn tiện theo dõi.
Để thực hành nhanh trên Photoshop, các bạn cũng cần chú ý học thuộc các phím tắt (hot key)
thay vì thao tác với hệ thống menu. Các phím tắt này cũng sẽ được giới thiệu dần dần thông qua
các bài tập trong giáo trình.
P
2
4
1
3
6
5
7 8
9 10
11
12
14
13
15
16
18
17
20
19
22
21
24
23
(1) Nút lệnh lựa chọn vùng ảnh theo hình
chữ nhật hoặc hình tròn (Rectangular
Marquee Tool)
(2) Dịch chuyển vùng lựa chọn hoặc toàn
bộ ảnh từ vị trí này sang vị trí khác (Move
Tool)
(3) Lựa chọn một vùng ảnh bằng cách vẽ
một hình đa giác theo đường biên vùng lựa
chọn (Polygonal Lasso Tool)
(4) Lựa chọn vùng ảnh theo độ tương đồng
về màu sắc (Magic Wand Tool)
(5) Cắt một bức ảnh theo hình lựa chọn
(Crop Tool)
(6) Chia bức ảnh thành nhiều phần (Slice
Tool)
(7) Chép nội dung một vùng ảnh sang một
vùng khác (Patch Tool)
(8) Bút vẽ (Brush Tool)
(9) Chép và hòa trộn 1 vùng ảnh lên vùng
khác (Clone Stamp Tool)
(10) Bút vẽ sử dụng bộ lọc ảnh (History
Brush Tool)
(11) Tẩy ảnh (Eraser Tool)
(12) Hộp phun màu (Paint Bucket Tool)
(13) Bút vẽ mờ (Blur Tool)
(14) Bút làm sáng (Dodge Tool)
(15) Chỉnh sửa đường viền của bút vẽ hình
số 17 (Path Selection Tool)
(16) Thêm chữ vào ảnh (Type Tool)
(17) Bút vẽ hình (Pen Tool)
(18) Vẽ đường thẳng (Line Tool)
(19) Tạo ghi chú trên ảnh (Notes Tool)
(20) Hộp chọn màu trên ảnh (Eyedropper
Tool)
(21) Dịch chuyển ảnh trong cửa sổ (Hand
Tool)
(22) Phóng to/ thu nhỏ ảnh (Zoom Tool)
(23) Chọn chế độ màu mặc định (Default
Foreground and background colors)
(24) Hộp chọn màu nền và màu tiền cảnh
(Foreground/Background color)

-4-
BÀI TẬP 1
Cân bằng sáng cho một bức ảnh
ác máy ảnh số có hiện đại tới đâu thì cũng không thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng
gia tăng của dân chơi ảnh. Những hãng nổi tiếng như Sony, Fuji, Nikon, HP, Olympus
hay Canon luôn đưa ra những tiến bộ mới trong việc thiết kế phần cứng khiến các bức
ảnh có độ chân thực cao hơn. Tuy nhiên, việc xử lý lại bức ảnh bằng một phần mềm chuyên
dụng trên máy tính vẫn là điều rất cần thiết và mang tính chuyên nghiệp hóa cao.
Hiện tại, một trong những "vướng mắc" cơ bản nhất của những bức ảnh số là độ sáng tối và độ
tương phản. Vì một lý do nào đó, bức ảnh chụp bị tối hoặc độ tương phản quá thấp khiến các đối
tượng trên ảnh không hiển thị được như ý muốn.
Một số nguyên nhân chính dẫn đến bức ảnh bị tối:
- Chụp ngược nguồn sáng ở chế độ tự động không có nguồn sáng thứ cấp bổ sung.
- Chụp ở điều kiện thiếu ánh sáng không sử dụng đèn flash.
- Chụp buổi đêm ở chế độ thường nhưng đèn flash quá yếu hoặc vị trí máy ảnh quá xa
đối tượng được chụp.
- Những nguyên nhân khác
Việc chụp lại bức ảnh là điều khó có thể thực hiện được nên khâu chỉnh sửa trở nên vô cùng cần
thiết. Để hiệu chỉnh độ sáng tối của bức ảnh, Photoshop cung cấp hai công cụ chính bao gồm:
- Levels
- Curves
Hai bộ lệnh Levels và Curves có những đặc thù khác nhau và cách sử dụng khác nhau nhưng
chúng cùng chung một mục đích là tăng cường sáng độ cho bức ảnh. So với Levels, Curves đòi
hỏi mức độ hiểu biết về xử lý ảnh số cao hơn. Tuy nhiên, mức độ phức tạp của hai bộ lệnh là
tương đương.
A – trước khi hiệu chỉnh độ sáng
B – Sau khi hiệu chỉnh độ sáng
Bộ lệnh Levels
Thao tác bắt đầu bằng lệnh mở một bức ảnh ra để chỉnh sửa. Trong Photoshop, chọn File -->
Open... hoặc nhấn Ctrl+O, lựa chọn bức ảnh cần chỉnh sửa và nhấn OK để mở ảnh.
Để có được cái nhìn tổng thể về độ sáng cũng như mức độ tương phản giữa các vùng trong bức
ảnh, bức ảnh cần được hiển thị hết trong khung cửa sổ của chương trình. Bảng công cụ Tool của
Photoshop cung cấp nhiều chức năng quan trọng phục vụ việc chỉnh sửa bức ảnh được nhanh
chóng. Để phóng to/thu nhỏ bức ảnh, công cụ Zoom Tool (Z) có hình kính lúp cần được kích
C

-5-
hoạt (như hình minh họa). Chế độ mặc định của Zoom Tool là phóng to với biểu tượng con trỏ
là kính lúp có dấu (+) ở bên trong. Để phóng to một phần của bức ảnh, người sử dụng cần nhấp
chuột vào vùng đó trên ảnh khi đang ở chế độ Zoom (+). Ngược lại, để thu nhỏ lại bức ảnh, chế
độ Zoom cần kết hợp với việc bấm phím Alt trên bàn phím. Lúc này con trỏ chuột sẽ hiện dấu
(-). Nhấp chuột khi Zoom (-) lên ảnh sẽ thu nhỏ bức ảnh lại. Như vậy, với Zoom, người sử dụng
có thể nhìn một phần phóng to hoặc toàn cảnh bức ảnh.
Trở lại với bộ lệnh Levels, sau khi mở ảnh, lựa chọn Levels bằng cách kích hoạt menu
Image --> Adjustments --> Levels... chương trình hiện ra hộp thoại Levels như trên hình minh
họa.
Biểu đồ tần suất xám độ được Photoshop vẽ ra trong hộp thoại Levels cho phép người sử dụng
thấy được sự phân bố màu sắc của bức ảnh. Như đã đề cập ở phần trước, phân tích hình minh
họa này cho thấy phần lớn cấp độ sáng của R-G-B tập trung trong dải từ 0 tới 150. Phần trục
hoành (từ trái sang phải) biểu diễn miền giá trị của R-G-B từ 0 tới 255 là giá trị cực đại của
miền. Phần trục tung (từ dưới lên trên) biểu diễn số lần xuất hiện điểm ảnh có màu sắc trong
miền từ 0 - 255. Có thể lấy ví dụ ở cấp độ sáng 16, số điểm ảnh có cùng cấp sáng là 715 điểm.
Cứ như vậy có thể thấy phần cấp độ sáng trên 150 rất ít và chúng phân bố tương đối đều từ
khoảng 150 tới 255.
1
2
3
1
2
3
Sử dụng con trỏ chuột để di chuyển các mốc điều khiển độ sáng (3 mốc hình tam giác nằm phía
dưới của biểu đồ xám độ) theo như hình vẽ. Mốc số 1 nằm ngoài cùng bên trái cho phép làm sắc
nét hơn phần màu tối trong bức ảnh. Ví dụ màu nền ảnh hay màu tóc, màu mắt. Thông thường
các vùng này có màu xám hoặc tối mờ. Di chuyển một chút mốc số 1 sang bên phải sẽ làm cho
chúng trở nên đen và sắc nét hơn.
Mốc điều khiển số 3 nằm ngoài cùng bên trái (hình vẽ) cho phép tăng cường phần ảnh có màu
sáng. Một bức ảnh số khi chưa hiệu chỉnh thường có hiện tượng như bị một lớp sương mù nhẹ
bao phủ toàn bức ảnh. Bên cạnh đó, màu trắng của nền trời, tường vôi, hoặc áo sơ mi trắng lại
không thực sự trắng mà thường ngả sang màu xám trắng hoặc ngà vàng. Hiệu chỉnh sao cho mốc
số 1 di chuyển ngược sang bên trái một chút. So sánh 2 hình minh họa ở trang trước ta có thể
thấy mốc số 1 đã di chuyển khá xa vị trí ban đầu sang phía bên trái. Lúc này màu trắng sẽ thực
sự trắng và màn sương mù nhẹ kia cũng biến mất.
Mốc điều khiển số 2 nằm giữa hai mốc 1 và 3. Chức năng của mốc này là hiệu chỉnh độ sáng của

