Amip và bệnh amip ở ruột
Amip những nguyên sinh động vật, chỉ là mt tế bào nhưng khả
năng di chuyển định hướng nhờ chân giả. Đa số các amip sống tự do môi
trường bên ngoài, mt số ít sống ký sinh. Trong ruột già của người có khoảng
6-7 loài amip sống sinh, trong đó Entamoeba histolytica là tác nhân gây
bệnh quan trọng.
Amip tồn tại dưới 2 dạng:
Dạng hoạt động (thtự dưỡng), đây là dạng gây bệnh trong thể người
nhưng không lây bệnh được vì chúng nhanh chóng btiêu dit khi tiếp xúc với
không khí hoặc dịch vị dạ dày.
Dạng kén nhỏ hơn dạng hoạt động, được bọc trong một màng bền vững,
đây tác nhân lây bệnh vì khnăng tồn tại nhiều tuần ngoại cảnh, những
vùng khí hậu nhiệt đới hay nhiều ngày những vùng khí hậu lạnh. Kén bị
hủy hoại bằng cách nấu chín.
Nguồn lây:
Người bệnh mắc phải E.histolytica do ăn các kén sống từ nước, thực phẩm
hoặc bàn tay bvấy phân, phổ biến nhất ăn những loại rau mọc chỗ đất nhiễm
phân người hoặc rau người trồng dùng phân người để bón hoặc tưới nước
nhiễm phân. Nguồn lây ít gặp hơn truyền qua nước, qua giao hợp đường miệng
qua hậu môn và hiếm hoi qua các dụng cụ bơm rửa ruột già.
Khi kén xâm nhập vào cơ thể con người qua đường miệng, đến ruột non thì
vbao sẽ bị dịch tiêu hóa phá vtrthành amip dạng hoạt động, đây chúng
tồn tại vô hại trong ruột phần lớn bệnh nhân. Khoảng 10% số người bị nhiễm
amip thì các thể hoạt động này xâm nhập vào niêm mạc ruột gây viêm ruột hoặc đi
vào máu ti các quan gây áp - xe như gan, phổi, não... nhưng thường gặp bệnh
amip đường ruột.
Vậy ở ruột, amip gây bệnh như thế nào?
Viêm đại tràng do amip triệu chứng t2-6 tuần sau khi ăn phải kén lây
nhiễm. Đau bụng dưới và tiêu chảy là triệu chứng có sớm, sau đó thì mệt mỏi và
chán ăn, đau lan tỏa bụng dưới hoặc ra sau lưng. Trong thời kỳ toàn phát, người
bệnh có thể đi đại tiện từ 10-15 lần/ngày, cảm giác mót rặn muốn đi đại tiện
mãi. Phân chyếu là máu nhầy nhớt. Bệnh nhân bị lamip thường không sốt,
đây là điểm để phân biệt với lỵ trực khuẩn (shigella) thường sốt nhiều, sốt cao.
Diễn tiến của đợt cấp tính kéo dài tvài ngày đến vài tuần tùy theo việc
điều trị được tiến hành sm hay muộn. Bệnh lỵ amip dbị tái nhiễm và cẩn thận
dè chừng khả năng bệnh tiến triển thành mn tính.
Viêm đại tràng mạn tính do amip thường dai dẳng với những biểu hiện đau
bụng, phân sệt, bóng, cứ vài tuần hoặc vài tháng lại xảy ra một đợt cấp tính. Trong
các trường hợp đau bụng, đi ngoài phân nhầy nhớt và máu, nhất thiết người
bệnh phải vào nm viện để được theo dõi điều trị kịp thời. Người bệnh sẽ được
soi phân tươi (soi phân vừa mới đi ngoài xong) để tìm amip dạng hoạt động trong
phân, đây cách để chẩn đoán c định. Ngoài ra còn th nội soi đại tràng
hoặc Xquang đại tràng, hay xét nghiệm máu để tìm nguyên nhân gây bệnh.
Bệnh amip ruột hoàn toàn thđiều trị được bằng thuốc thích hợp. Tỷ
li phát khá cao (35%) sau mỗi đợt điều trị, do đó cần phải được xét nghiệm
phân để theo dõi sau điều trị. Thuốc thường được sử dụng là metronidazol, đây
một loại thuốc rất đắng, cần phải uống sau khi ăn no để tránh những cảm giác khó
chịu do thuốc như cảm giác đắng miệng khi uống nước, cảm giác chóng mặt nhẹ,
buồn nôn... Trong thời gian điều trị tuyệt đối không được uống rượu bia.
Phòng bệnh bằng cách nào?
Bệnh nhiễm amip lây lan do ăn hoặc uống nước đã nhiễm phải kén. Một
người mang ký sinh trùng amip mà chưa có triệu chứng hằng ngày thải tới 15 triệu
kén nên việc dự phòng phải tuân thủ các nguyên tắc vệ sinh:
- Phải ăn chín, uống sôi.
- Rửa rau nhiều nước và kỹ dưới vòi nước chảy.
- Rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, nên cắt móng tay ngắn.
- Hạn chế tối đa ăn hàng quán vỉa hè, bất đắc thì ăn tại những hàng ăn
giấy chứng nhận của sở y tế đảm bảo đủ 10 tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực
phẩm.