
BỆNH GIUN MÓC CHÓ MÈO
PGS. TS. TRẦN THỊ HỒNG

MỤC TIÊU HỌC TẬP
1. Trình bày phương thức lây nhiễm các loại giun
móc chó mèo
2. Mô tả các triệu chứng bệnh đặc thù do giun
móc chó mèo
3. Nêu các phương pháp chẩn đoán, nguyên tắc
điều trị và các biện pháp dự phòng

MỞ ĐẦU
Ký chủ vĩnh viễn của các loại giun này là các loại thú ăn thịt:thú nuôi
hay thú hoang như:chó,chó sói,cáo,gấu trúc…
Nhiễm các loài này qua người ở giai đoạn ấu trùng gây hội chứng ấu
trùng di chuyển dưới da.
Hai tác nhân thường được đề cập là Ancylostoma caninum và
Ancylostoma braziliense. Ngoài ra còn có thể gặp Ancylostoma
ceylanicum.
Bệnh do giun móc chó mèo được xếp vào nhóm bệnh động vật ký sinh.

HÌNH THỂ GIUN TRƯỞNG THÀNH
GTT cái dài 14 mm, ngang 0,6 mm.
Miệng rộng có ba cặp răng sắc
nhọn, trứng rất giống trứng giun
móc người nhưng kích thước nhỏ
hơn: 64 x 40 µm.
Ancylostoma caninum Ancylostoma braziliense
Giun cái dài 10 mm, ngang 0,3 mm.
Bộ phận miệng có cặp răng nhỏ khó
thấy, bên ngoài có cặp răng lớn hơn.
Trứng giống trứng Ancylostoma
duodenale ở người

CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN
GTT sống ký sinh trong ruột non chó mèo, giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, trứng
nở ra ấu trùng giai đoạn 1 sau 24-48 giờ. Trong điều kiện môi trường nóng ẩm, sau đó nở thành
ấu trùng giai đoạn 2(AT2) gây nhiễm, AT2 có thể sống sót hơn 1 tuần ở môi trường
Khi chó hay Ký chủ vĩnh viễn tiếp xúc với AT2, AT2 sẽ xuyên qua nang lông và xâm nhập
vào dòng máu. Chó cũng có thể nhiễm khi nuốt phải ấu trùng. Khi vào dòng máu AT về phổi
xâm nhập phế nang, lên khí quản và nuốt xuống ruột non và phát triển thành GTT tương tự như
giun móc người. Từ khi AT xâm nhập đến khi thành GTT ở ruột non, mất khoảng 1 tuần. GTT
sống khoảng 6 tháng, mỗi ngày đẻ 28.000 trứng, quá trình giun cái đẻ khoảng 2 tháng.
Khi người tiếp xúc với đất ô nhiễm có AT(tiếp xúc đất, đi chân đất, trẻ em nghịch, ăn đất, mút
tay…),AT tiếp xúc da người, chui qua nang lông, xâm nhập vào mô liên kết bên dưới da. Do
men collagenase không tiêu được vách tĩnh mạch của người nên AT không vào dòng máu và về
phổi, AT chỉ bò ở lớp dưới da gây hội chứng AT di chuyển ngoài da

