
Dương Đức Huy
– Lớp 001 – K33 Trang 1
Trường : Đại Học Kinh TếTPHCM
Lớp : 001 – K33
Giảng viên hướng dẫn: Tiến Sĩ HOÀNG TRUNG
Họ& tên sinh viên :
Dương Đức Huy
(12)
Bài thu hoạch môn Tư Tưởng HồChí Minh
BẢO TÀNG HỒCHÍ MINH
(Chi nhánh TPHCM – Bến Nhà Rồng)
I - Vài nét vềBảo Tàng HồChí Minh (chi nhánh TPHCM - Bến Nhà Rồng) :
Bảo tàng HồChí Minh - Chi nhánh TP.
HồChí Minh (còn được biết đến với tên gọi
Bến Nhà Rồng) tọa lạc tại số1 đường Nguyễn
Tất Thành, phường 12, quận 4. Đây là một
đơn vị thuộc Sở Văn Hóa Thông Tin TP. Hồ
Chí Minh và là một chi nhánh nằm trong hệ
thống các Bảo tàng và Di tích lưu niệm vềChủ
tịch HồChí Minh trong cả nước.
Trước đây là trụsởcủa Tổng công ty
vận tảiHoàng Đế (Messageries Impériales) -
một trong những công trình đầu tiên do thực
dân Pháp xây dựng sau khi chiếm được Sài
Gòn. Ngôi nhà được xây dựng từgiữa nǎm 1862 đến cuối nǎm 1863, được hoàn thành với
lối kiến trúc phương Tây nhưng trên nóc nhà gắn hai con rồng châu đầu vào mặt trǎng
theo kiểu"lưỡng long chầu nguyệt", một kiểu trang trí quen thuộc của đền chùa Việt Nam.
Với kiến trúc độc đáo đó nên tòa nhà được gọi là Nhà Rồng và bến cảng mang tên Bến
Cảng Nhà Rồng. Nǎm 1955, sau khi thực dân Pháp thất bại, thương cảng Sài Gòn được
chuyển giao cho chính quyền miền Nam Việt Nam quản lý, họ đã tu sửa lại mái ngói ngôi
nhà và thay thếhai con rồng cũ bằng hai con rồng mới với tư thế quay đầu ra ngoài.
Nơi đây, vào ngày 05/06/1911, người thanh niên Việt Nam yêu nước Nguyễn Tất
Thành đã xuống tàu Amiral Latouche Tréville (với tên Văn Ba) ra đi tìm đường cứu nước.
Sau hơn 30 năm bôn ba ở nước ngoài với biết bao gian khổ khó khăn, nhưng với sựquyết
tâm cùng với một tấm lòng nồng nàn yêu nước, Nguyễn Tất Thành đã tìm thấy con đường
sẽ giúp nước nhà tìm thấy độc lập tựdo – con đường cứu nước theo ChủNghĩa Mác-Lênin
- từ đó Hồ Chí Minh đã trởthành nhà cách mạng lỗi lạc, lãnh đạo nhân dân Việt Nam
đứng lên làm cuộc Cách Mạng Tháng Tám thành công, lập ra nhà nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa.
Trong hơn 20 nǎm hoạt động, Bảo tàng HồChí Minh - Chi nhánh TP. HồChí Minh
đã đón tiếp gần 20 triệu lượt khách trong và ngoài nướcđến tham quan. Đặc biệt có hàng
trǎm đoàn nguyên thủquốc gia và đoàn cao cấp các nước đến thǎm viếng, tìm hiểu,
nghiên cứu vềChủtịch HồChí Minh. Từ 400 tư liệu, hiện vật (nǎm 1980) đến nay đã có
11.372 tư liệu, hiện vật và 3300 đầu sách chuyên đề vềChủtịch HồChí Minh.
HuyKoD
http://ueh.vn

Dương Đức Huy
– Lớp 001 – K33 Trang 2
II - Sơ lược vềthời niên thiếu của Bác :
Chủtịch HồChí Minh tên gọi thời niên thiếu là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày
19/05/1890 tại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh NghệAn. Song thân
của Người là cụPhó Bảng Nguyễn Sinh Sắc và cụbà Hoàng ThịLoan. Chịgái Bác là bà
Nguyễn ThịThanh và anh trai là ông Nguyễn Sinh Khiêm.
CụPhó Bảng Nguyễn Sinh Sắc và cụbà Hoàng ThịLoan
Người sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước. CụPhó Bảng Nguyễn Sinh Sắc
vừa là cha, vừa là người thầy đầu tiên dạy chữ Hán cho Bác. Quê hương Nghệ An – Hà
Tĩnh của Bác vốn là một vùng đất anh dũng, có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm,
là quê hương của nhiều nhà yêu nước, nhà văn hóa vĩ đại như Mai Thúc Loan, Nguyễn
Biểu, Đặng Dung, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu …, đặc biệt là danh nhân văn hóa
Nguyễn Du.
“Vào trạc tuổi 13, tôi được nghe những từPháp : Tựdo – Bình đẳng – Bác ái, và
từthuở ấy tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem có gì ẩn giấu
đằng sau những từ ấy”
.
Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên
thiếu và thanh niên của Người đã chứng kiến nỗi khổcực của đồng bào và sựthất bại của
những phong trào đấu tranh chống thực dân (phong trào Cần Vương, phong trào Đông
Du của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh …), Người sớm có chí
đuổi thực dân, giành độc lập cho đất nước, đem lại tựdo, hạnh phúc cho đồng bào.
“Nhân dân Việt Nam, trong đó có cụ thân sinh ra tôi lúc này thường hỏi nhau ai là
người giúp mình thoát khỏi ách thống trịcủa Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác
nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi
xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trởvề giúp đồng bào tôi”.
Với suy nghĩ đó, Bác đã quyết tâm sẽ ra nước ngoài tìm một con đường cứu nước
cho dân tộc Việt Nam.
III - Quá trình tìm đường cứu nước của Bác :
Ngày 05/06/1911, tại bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành với tên gọi Văn Ba đã
xuống tàu Amiral Latouche Tréville của Pháp để sang phương Tây tìm đường cứu nước.
Người ra đi chỉ mang theo hành trang là đôi bàn tay trắng, một bầu nhiệt huyết của tuổi
trẻmuốn cống hiến cho Tổquốc và một tấm lòng nồng nàn yêu nước.
HuyKoD
http://ueh.vn

Dương Đức Huy
– Lớp 001 – K33 Trang 3
Nhà thơ Chế Lan Viên đã có những vần thơ rất hay, gắn liền với sự ra đi của
Bác vào ngày 05/06/1911 (bài thơ
Người đi tìm hình của Nước
) :
. . .
Đất nước đẹp vô cùng, nhưng Bác phải ra đi
Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác
. . .
Đêm xa nước đầu tiên ai nỡngủ
Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương
. . .
Trời từ đây chẳng xanh màu xứsở
Xa nước rồi càng hiểu nước đau thương
. . .
Từ năm 1912 - 1917, Nguyễn Tất Thành đã đến nhiều nước ởchâu Á, châu Âu,
châu Mỹ, châu Phi, sống hoà mình với nhân dân lao động, Người thông cảm sâu sắc cuộc
sống khổcực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng
thiêng liêng của họ. Người sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của
nhân dân Việt Nam là một bộphận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thếgiới.
Người đã hoạt động tích cực nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc giành tự do, độc lập.
Sau chiến tranh thếgiới thứnhất (1914 - 1918), các nước thắng trận họp Hội nghị
ởVéc-xây (Pháp) chia lại thị trường thuộc địa thếgiới, Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt Hội
những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghịbản
"Yêu sách 8 điểm"
đòi
quyền dân chủ cơ bản cho nhân dân các nước Đông Dương. Tuy Bản yêu sách không
được bọn đế quốc thừa nhận nhưng đã gây tiếng vang lớn và đã ảnh hưởng rộng rãi
trong quần chúng Pháp. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc rút ra bài học, để giải phóng dân tộc
mình, phải do chính mình quyết định chứkhông phải chủyếu dựa vào nước ngoài.
Năm 1917, Cách Mạng Tháng Mười Nga thành công cùng với sự ra đời của Quốc Tế
III là những sựkiện trọng đại tác động mạnh đến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc. Tháng
07/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được Luận Cương của Lênin vềvấn đề dân tộc và thuộc địa
và Người đã tìm thấy ởChủNghĩa Mác-Lênin con đường giải phóng dân tộc và giải phóng
giai cấp.
“Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, tin tưởng biết bao. Tôi
vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như nói với
quần chúng đồng bào : Hỡi đồng bào bị đày đọa đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng
ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” (HồChí Minh).
. . .
Luận cương đến với Bác Hồ, và Người đã khóc
LệBác Hồ rơi trên chữ Lênin
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
Tưởng bên ngoài đất nước đợi mong tin
HuyKoD
http://ueh.vn

Dương Đức Huy
– Lớp 001 – K33 Trang 4
. . .
Bác reo lên 1 mình như nói cùng dân tộc
“Cơm áo là đây, hạnh phúc đây rồi !”
Hình của Đảng lồng trong hình của Nước
Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười
. . .
(Người đi tìm hình của Nước – ChếLan Viên)
Tháng 12 năm 1920, tại Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã Hội Pháp họp ởthành phốTua,
Nguyễn Ái Quốc đã bỏphiếu tán thành gia nhập Quốc TếIII (Quốc TếCộng Sản), trở
thành một trong những thành viên sáng lập Đảng Cộng Sản Pháp. Đây là hành động đánh
dấu sự trưởng thành quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, từchủnghĩa
yêu nước đến chủnghĩa Lênin, từmột người yêu nước trởthành một chiến sĩ cộng sản.
Người đã khẳng định một chân lý : “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con
đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Người đã nói :
“Đảng phải tuyên truyền chủnghĩa xã hội trong tất cả các nước
thuộc địa, chúng tôi thấy rằng việc Đảng Xã Hội gia nhập Quốc TếIII có nghĩa là Đảng
hứa một cách cụthểrằng từ nay Đảng sẽ đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề”.
Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái
Quốc sáng lập Hội Liên Hiệp Các Dân Tộc Thuộc Địa. Tháng 4-1922, Hội xuất bản báo
“Người cùng khổ” (Le Paria)
nhằm đoàn kết, tổchức và hướng dẫn phong trào đấu tranh
giải phóng dân tộc ởcác thuộc địa.
“Báo Le Paria là vũ khí để chiến đấu, sứmạng của nó
đã rõ ràng : Giải phóng con người”
Người còn viết một số bài đăng trên báo
“Đời sống công nhân”
, đặc biệt tác phẩm
"Bản án chế độ thực dân Pháp"
lên án mạnh mẽchế độ thực dân, thức tỉnh lòng yêu nước
của nhân dân các nước thuộc địa. Tất cảcác bài viết của Người đều được bí mật chuyển
về nước và lưu truyền trong mọi tầng lớp nhân dân.
Năm 1923 tại Liên Xô, Người hoạt động trong Quốc TếCộng Sản, tham gia nhiều
hội nghịquan trọng, tìm hiểu xã hội Xô Viết, nghiên cứu kinh nghiệm tổchức Đảng kiểu
mới của Lênin, tiếp tục tuyên truyền các quan điểm của Lênin vềcác vấn đề dân tộc và
thuộc địa. Đặc biệt trong báo cáo tại Đại Hội Quốc TếCộng Sản lần thứ V, Người đã phác
họa phương hướng chiến lược trong cách mạng giải phóng dân tộc.
Năm 1924 Người vềTrung Quốc tham gia thành lập nhiều tổchức cách mạng như:
Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội (1925), Hội Liên hiệp các dân tộc bịáp bức
Á Đông (1925). Người đã xuất bản tuần báo
“Thanh Niên”
- tờbáo cách mạng đầu tiên
của Việt Nam nhằm truyền bá chủnghĩa Mác - Lênin vềViệt Nam, chuẩn bịthành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam ; ngoài ra còn có tác phẩm
“Đường kách mệnh”
- một văn kiện
lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam.
Mùa xuân năm 1930, Người chủtrì Hội nghịthành lập Đảng họp tại Cửu Long,
thuộc Hồng Kông. Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ
vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân và toàn thể
dân tộc Việt Nam.
HuyKoD
http://ueh.vn

Dương Đức Huy
– Lớp 001 – K33 Trang 5
“Hỡi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh, anh chịem bịáp bức,
Đảng Cộng Sản Việt Nam đã được thành lập, đó là Đảng của giai cấp vô sản, Đảng sẽdìu
dắt giai cấp vô sản, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh nhằm giải phóng cho toàn
thểanh chịem bịáp bức bóc lột chúng ta”.
1930 là cột mốc đánh dấu quá trình ra nước ngoài tìm con đường cứu nước cho
dân tộc Việt Nam đã thành công. Đến lúc này, Bác đã tìm được câu trảlời đúng đắn nhất
cho câu hỏi thời niên thiếu của mình vềcách thức giúp nước nhà thoát khỏi thân phận
thuộc địa. Người đã từng khẳng định trong
“Đường kách mệnh”
:
“Bây giờhọc thuyết
nhiều , chủnghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất , chắc chắn nhất và cách mạng
nhất là chủnghĩa Mác-Lênin”.
Con đường đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin chính là con đường
duy nhất có thểmang lại cho Việt Nam sự độc lập, tựdo.
Bác đã nói vềvai trò của chủnghĩa Mác-Lênin nói chung cũng như vai trò của Lênin
vĩ đại đối với cách mạng Việt Nam :
“Khi còn sống, Người là người cha, thầy học, đồng chí
và cốvấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới
cách mạng. Lênin bất diệt sẽsống mãi trong sựnghiệp chúng ta”.
IV - Bác lãnh đạo nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp và làm
cuộc Cách Mạng Tháng Tám thành công :
Ngay sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cao trào cách mạng
1930 - 1931, đỉnh cao là Xô Viết Nghệ- Tĩnh, cuộc tổng diễn tập đầu tiên của Cách Mạng
Tháng Tám năm 1945.
Tháng 6 năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bịchính quyền Anh bắt giam tại Hồng Kông.
Mùa xuân năm 1933, Người được trảtựdo.
Từ 1934 đến 1938, Người nghiên cứu tại Viện
Nghiên cứu các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Mátxcơva.
Kiên trì con đường đã xác định cho cách mạng Việt Nam,
Người tiếp tục theo dõi chỉ đạo phong trào cách mạng
trong nước.
Tháng 10/1938, Người rời Liên Xô vềTrung Quốc,
bắt liên lạc với tổchức Đảng chuẩn bịvề nước.
28/01/1941, Người về nước lần đầu tiên sau hơn 30 năm
xa Tổquốc.
Tháng 05/1941, Người triệu tập Hội nghịlần thứ
VIII Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng, quyết định đường
lối cứu nước trong thời kỳmới, thành lập Việt Nam độc
lập đồng minh (Việt Minh), tổchức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa
cách mạng.
Tháng 08/1942, Người sang Trung Quốc tìm sựliên minh quốc tế, cùng phối hợp
hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bịchính quyền
Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian 1 năm
14 ngày bịgiam trong tù, Người đã viết tập thơ “Nhật ký trong tù” với 133 bài thơ chữ
Hán. Tháng 9-1943, Người được trảtựdo.
HuyKoD
http://ueh.vn

