TP. HỒ CHÍ MINH, 29/7/2024
BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM
ĐỀ TÀI:
BẢN CHẤT CỦA LỢI NHUẬN, CÁC NHÂN TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỈ SUẤT CỦA LỢI NHUẬN,
Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
GVHD: Nguyễn Thanh Long
MÔN: Kinh tế chính trị Mác – Lênin
LHP: 24211802047806
SVTH: Lê Huỳnh Xuân Vi
Nguyễn Thị Ngọc Hà
Cù Nguyễn Thảo Thương
Cao Vũ Hà My
Nguyễn Ngọc Bảo Giang
0
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................................2
I/ Khái niệm lợi nhuận và bản chất của lợi nhuận:.......................................................3
1. Khái niệm lợi nhuận và chi phí sản xuất:...............................................................3
2. Bản chất của lợi nhuận:............................................................................................5
II/ Khái niệm tỷ suất lợi nhuận, các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận:..........6
1. Tỷ suất lợi nhuận:.....................................................................................................6
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận:.......................................................9
3. Biện pháp tăng tỉ suất lợi nhuận:...........................................................................13
III/ Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn:.....................................................................17
1. Ý nghĩa của học thuyết lợi nhuận- lịch sử và hiện tại:.........................................17
2. Ý nghĩa của lợi nhuận đối với quá trình đi lên của Chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam:............................................................................................................................18
LỜI KẾT THÚC............................................................................................................20
1
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thị trường vận hành dựa trên chế tự do cạnh tranh, trong đó các doanh
nghiệp hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. C.Mác khái quát:”Giá trị thặng dư,
được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi
nhuận”. Điều đó có nghĩa, lợi nhuận chẳng qua chỉ là hình thái biểu hiện của giá trị thặng
trên bề mặt nền kinh tế thị trường. Lợi nhuận đóng vai trò như kim chỉ nam cho mọi
hoạt động kinh doanh, mục tiêu, thước đo hiệu quả hoạt động sức khỏe tài chính
của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Còn đối quan niệm của P. Samuelson:
“Lợi nhuận phần thu nhập thặng tính bằng hiệu quả giữa giá trị tổng doanh thu trừ
đi tổng chi phí. Lợi nhuận phần thưởng cho việc gánh chịu rủi ro cho sự đổi mới”.
Doanh nghiệp hiệu quả hoạt động cao s tạo ra lợi nhuận lớn, từ đó nguồn vốn để
tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh và góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của nền
kinh tế thị trường. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là chúng ta phải hiểu rõ bản chất, nguồn gốc của
những yếu tố bên trong nền kinh tế thị trường đặc biệt yếu tố chính quyết thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế. Đó chính lợi nhuận tỷ suất lợi nhuận. Vậy thế nào lợi
nhuận? Quan điểm của P. Samuelson về lợi nhuận Học thuyết lợi nhuận của C. Mác
như thế nào? Bản chất của lợi nhuận là gì? Tỷ suất lợi nhuận là gì? Biện pháp tăng tỷ suất
lợi nhuận? Các nhân tố đã ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận ra sao? Để tìm hiểu những vấn
đề trên nhóm chúng em đã chọn đề tài: “Lợi nhuận: Bản chất của lợi nhuận, nhân tố ảnh
hưởng đến tỉ suất lợi nhuận và ý nghĩa” để phân tích và trả lời cho các câu hỏi trên.
Qua phân tích của nhóm chúng em lợi nhuận tỷ suất lợi nhuận, bài tiểu luận này hy
vọng sẽ cung cấp cho người đọc những kiến thức cơ bản về hai khái niệm quan trọng này,
từ đó giúp các nhà quản doanh nghiệp thể đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh,
đưa ra quyết định đầu tư hợp lý và nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
2
I/ Khái niệm lợi nhuận và bản chất của lợi nhuận:
1. Khái niệm lợi nhuận và chi phí sản xuất:
Lợi nhuận (Profit) chỉ số thể hiện sự chênh lệch giữa doanh thu của doanh nghiệp
các chi phí đầu tư, phát sinh của các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chi phí sản xuất toàn bộ hao phí về lao động vật hóa, lao động sống các chi phí
khác doanh nghiệp cần phải bỏ ra để tạo hàng hóa, sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm thu
về lợi nhuận trong thời kỳ nhất định.
- Mối liên hệ của chi phí sản xuất và lợi nhuận:
Chi phí sản xuất càng thấp, lợi nhuận càng cao: Khi chi phí sản xuất được giảm xuống,
doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi phí, dẫn đến lợi nhuận tăng lên.
Chi phí sản xuất càng cao, lợi nhuận càng thấp: Khi chi phí sản xuất tăng cao, doanh
nghiệp sẽ phải bỏ ra nhiều chi phí hơn để sản xuất ra sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ,
dẫn đến lợi nhuận giảm xuống.
- Ví dụ:
Công ty A sản xuất giày dép. Chi phí sản xuất một đôi giày của công ty A 100.000
đồng. Giá bán ra của một đôi giày là 150.000 đồng. Lợi nhuận của công ty A trên mỗi đôi
giày bán ra là 50.000 đồng.
Công ty B sản xuất điện thoại thông minh. Chi phí sản xuất một chiếc điện thoại thông
minh của công ty B là 5.000.000 đồng. Giá bán ra của một chiếc điện thoại thông minh
7.000.000 đồng. Lợi nhuận của công ty B trên mỗi chiếc điện thoại thông minh bán ra
2.000.000 đồng.
3
1.1 Quan điểm của P.Samuelson về lợi nhuận:
Lợi nhuận là phần thu nhập thặng dư tính bằng hiệu quả giữa giá trị tổng doanh thu trừ đi
tổng chi phí.
Lợi nhuận phần thưởng cho việc gánh chịu rủi ro cho sự đổi mới, lợi nhuận lợi
tức độc quyền.
Ông cho rằng phần lớn giá trị lợi nhuận kinh doanh được báo cáo chỉ phần lợi tức của
các chủ sỡ hữu công ty được do lao động của họ hay do vốn đầu của họ mang lại.
Nếu loại bỏ tất cả các lợi tức ẩn thì ta được lợi nhuận thuần túyđó là phần thưởng cho
các hoạt động đầu lợi bất định. Doanh thu của công ty phụ thuộc rất lớn vào thăng
trầm trong chu kỳ kinh doanh. Do các nhà đầu không thích các trường hợp rủi ro nên
họ đòi hỏi phải mức phí dự phòng cho các đầu không chắc chắn nhằm đắp cho
những rủi ro này.
1.2 Học thuyết lợi nhuận của C.Mác:
Để sản xuất hàng hóa, xã hội phải chi phí một số lao động nhất định:
- Lao động quá khứ (lao động vật hóa) tức là giá trị của tư liệu sản xuất.
- Lao động sống (lao động hiện tại) tức là lao động tạo ra giá trị mới (v + m).
Do đó giá trị hội của hàng hóa c + v + m. Nhưng nhà bản chủ lao động, họ
không phải hao phí lao động, họ chỉ quan tâm đến việc đã bỏ chi phí bao nhiêu để sản
xuất hàng hóa (gồm tiền mua liệu sản xuất tiền mua sức lao động). C.Mác gọi chi
phí đó là chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Ký hiệu bằng k (k = c + m).
Như vậy, khi xuất hiện chi phí sản xuất bản chủ nghĩa thì công thức giá trị hàng hóa:
gt = c + v + m sẽ chuyển thành gt = k + m. Sau khi bán hàng hóa, nhà bản không
những đắp đủ số bản đã bỏ ra (c + m) còn thu được số tiền lời ngang bằng với
m. Số tiền này gọi là lợi nhuận.
4