
- "Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái"2. Đó
chính là ưu việt của chủ nghĩa xã hội, tất cả cho con người, vì con người và
do con người, trong đó lực lượng đông đảo nhất, nòng cốt là công nhân,
nông dân, trí thức. Từ đó tạo cho công nhân, nông dân, trí thức trực tiếp thể
hiện vai trò chủ thể của mình trong các hoạt động và là chủ thể trong hưởng
thụ thành quả của xã hội.
- Vấn đề xoá đói giảm nghèo cho công, nông, trí thức chủ yếu bằng
tạo việc làm đồng thời kết hợp các giải pháp hỗ trợ, cứu trợ. Giải quyết
được vấn đề này sẽ khắc phục được hạn chế của các chế độ tư hữu trước
đây: con người là vốn quý của xã hội, nhưng người lao động nếu thất
nghiệp thì họ lại trở thành gánh nặng cho xã hội, trở thành một trong các
nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng, đổ vỡ của chế độ xã hội.
- Đổi mới và thực hiện tốt các chính sách xã hội trong điều kiện đại đa
số các gia đình thương binh, liệt sĩ, có công với nước, chịu hậu quả chiến
tranh là một trong những nội dung cơ bản của liên minh. Các chính sách
này để hỗ trợ nông dân, công nhân, trí thức và tạo điều kiện cho họ khắc
phục khó khăn sau chiến tranh, đồng thời nội dung này còn mang ý nghĩa
giáo dục truyền thống, đạo lý, lối sống,... cho toàn xã hội và các thế hệ sau.
- Nâng cao dân trí là nội dung cơ bản lâu dài tạo cho liên minh phát
triển vững chắc. Trước mắt tập trung vào việc củng cố thành tựu xoá mù
chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, tiến hành phổ cập trung học cơ sở và phổ
cập trung học, nâng cao kiến thức về khoa học công nghệ, về chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội. Khắc phục các tệ nạn xã hội, hủ tục lạc hậu, các biểu
hiện tiêu cực như tham nhũng, quan liêu, nhất là ở nông thôn. Dân tộc Việt
Nam vốn có truyền thống tôn sư, trọng đạo, hiếu học và chăm chỉ cần cù
nên việc đầu tư cho giáo dục cả về vật chất lẫn tinh thần là được đặc biệt
chú trọng. Đây vừa là thuận lợi, là yếu tố thúc đẩy tiến bộ xã hội, đồng thời
vừa là yêu cầu nâng cao chất lượng đối với sự nghiệp giáo dục. Vấn đề gắn
bó với trí thức cách mạng, với tầm cao của tri thức của công nhân, nông
dân và các tầng lớp nhân dân lao động là cơ sở vững chắc, có tính truyền
thống được kế thừa trong nhiều đời nay của dân tộc ta.
- Gắn quy hoạch phát triển công nghiệp, khoa học, công nghệ với quy
hoạch phát triển nông thôn, đô thị hoá, công nghiệp hoá những trọng điểm
ở nông thôn với kết cấu hạ tầng ngày càng thuận lợi và hiện đại. Xây dựng
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1996, tr. 72.
119

các cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, các công trình phúc lợi công
cộng một cách tương xứng, hợp lý ở các vùng nông thôn, đặc biệt là ở vùng
núi, vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá nông thôn, khai thác
những tiềm năng của nông lâm ngư nghiệp. Đẩy mạnh việc nghiên cứu,
chuyển giao công nghệ ở khu vực nông, lâm, ngư nghiệp.
Đối với những nước nông nghiệp đi lên chủ nghĩa xã hội như nước ta
thì liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức vừa là vấn đề có tính
quy luật tất yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và vừa là lực
lượng sản xuất, lực lượng chính trị cơ bản và đông đảo nhất của quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Câu hỏi thảo luận và ôn tập
1. Cơ cấu xã hội là gì? Cơ cấu xã hội và cơ cấu xã hội - giai cấp có
mối quan hệ như thế nào?
2. Phân tích những đặc điểm của cơ cấu xã hội - giai cấp và liên minh
công - nông - trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội?
3. Phân tích cơ cấu xã hội - giai cấp và liên minh công - nông - trí thức
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?
120

Chương IX
Vấn đề dân tộc trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội
Vấn đề dân tộc là một nội dung có ý nghĩa chiến lược của chủ nghĩa
Mác - Lênin và của cách mạng xã hội chủ nghĩa; là vấn đề thực tiễn nóng
bỏng đòi hỏi phải được giải quyết một cách đúng đắn và thận trọng.
I. Dân tộc và hai xu hướng khách quan của sự phát
triển các dân tộc
1. Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của dân tộc
Cũng như nhiều hình thức cộng đồng khác, dân tộc là sản phẩm của
một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Trước khi dân tộc
xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến
cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc.
ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa được xác lập và thay thế vai trò của phương thức sản xuất phong
kiến. Chủ nghĩa tư bản ra đời trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao
đổi hàng hoá đã làm cho các bộ tộc gắn bó với nhau. Nền kinh tế tự cấp, tự
túc bị xoá bỏ, thị trường có tính chất địa phương nhỏ hẹp, khép kín được
mở rộng thành thị trường dân tộc. Cùng với quá trình đó, sự phát triển đến
mức độ chín muồi của các nhân tố ý thức, văn hoá, ngôn ngữ, sự ổn định
của lãnh thổ chung đã làm cho dân tộc xuất hiện. Chỉ đến lúc đó tất cả lãnh
địa của các nước phương Tây mới thực sự hợp nhất lại, tức là chấm dứt
tình trạng cát cứ phong kiến và dân tộc được hình thành.
ở một số nước phương Đông, do tác động của hoàn cảnh mang tính
đặc thù, đặc biệt do sự thúc đẩy của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ
nước, dân tộc đã hình thành trước khi chủ nghĩa tư bản được xác lập. Loại
hình dân tộc tiền tư bản đó xuất hiện trên cơ sở một nền văn hoá, một tâm
lý dân tộc đã phát triển đến độ tương đối chín muồi, nhưng lại dựa trên cơ
sở một cộng đồng kinh tế tuy đã đạt tới một mức độ nhất định nhưng nhìn
chung còn kém phát triển và còn ở trạng thái phân tán.
Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất:
121

Một là, chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có
sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hoá đặc thù;
xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa, phát triển cao hơn những nhân tố tộc
người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư
cộng đồng đó.Theo nghĩa thứ nhất, dân tộc được hiểu như một tộc người
hay một dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc. Với nghĩa hiểu này, Việt
Nam gồm 54 dân tộc hay 54 tộc người.
Hai là, chỉ một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một
nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có
ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích
chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung
trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Theo nghĩa thứ
hai, dân tộc đồng nghĩa với quốc gia - dân tộc. Theo nghĩa này, có thể nói
dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa, v.v..
Với nghĩa thứ nhất, dân tộc là một bộ phận của quốc gia; với nghĩa
thứ hai, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó - quốc gia dân tộc.
Dưới giác độ môn học chủ nghĩa xã hội khoa học, dân tộc được hiểu theo
nghĩa thứ nhất. Tuy nhiên, chỉ khi đặt nó bên cạnh nghĩa thứ hai, trong mối
liên hệ với nghĩa thứ hai thì sắc thái nội dung của nó mới bộc lộ đầy đủ.
Dân tộc thường được nhận biết thông qua những đặc trưng chủ yếu
sau đây:
+ Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng quan
trọng nhất của dân tộc. Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ
phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng
dân tộc.
+ Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia,
hoặc cư trú đan xen với nhiều dân tộc anh em. Vận mệnh dân tộc một phần
rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước.
+ Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ
chung của quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn
hoá, tình cảm...
+ Có nét tâm lý riêng (nét tâm lý dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền
văn hoá dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hoá dân tộc, gắn bó
với nền văn hoá của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân tộc).
Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có đủ các
đặc trưng trên, các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn bó chặt chẽ
với nhau, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định. Sự tổng hợp các
122

đặc trưng nêu trên làm cho các cộng đồng dân tộc được đề cập ở
đây - về thực chất là một cộng đồng xã hội - tộc người, trong đó những
nhân tố tộc người đan kết, hoà quyện vào các nhân tố xã hội. Điều đó làm
cho khái niệm dân tộc khác với các khái niệm sắc tộc, chủng tộc - thường
chỉ căn cứ vào các đặc điểm tự nhiên, chẳng hạn màu da hay cấu tạo tự
nhiên của các bộ phận trong cơ thể để phân loại cộng đồng người.
Nghiên cứu khái niệm và các đặc trưng của dân tộc cần thấy rằng:
khái niệm dân tộc và khái niệm quốc gia gắn bó chặt chẽ với nhau. Bởi vì,
dân tộc ra đời trong một quốc gia nhất định, thông thường thì những nhân
tố hình thành dân tộc chín muồi không tách rời với sự chín muồi của những
nhân tố hình thành quốc gia – chúng bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau.
Nếu như cộng đồng thị tộc (trong xã hội nguyên thuỷ) mang tính
thuần tuý tộc người, trong đó quan hệ huyết thống còn đóng vai trò chi phối
tuyệt đối, thì ở cộng đồng bộ lạc và liên minh bộ lạc (xuất hiện vào cuối xã
hội nguyên thuỷ) đã xuất hiện dưới dạng đầu tiên những thiết chế chính trị
– xã hội, trong đó những quan hệ tộc người xen với những quan hệ chính
trị – xã hội. Cộng đồng bộ tộc xuất hiện vào thời kỳ xã hội có sự phân chia
rõ rệt hơn về giai cấp và sau đó là sự xuất hiện nhà nước – quốc gia. Từ
đây, sự cố kết bộ tộc là nhân tố quan trọng trong sự hình thành và củng cố
quốc gia; ngược lại, sự hình thành, củng cố quốc gia là điều kiện có ý nghĩa
quyết định sự củng cố và phát triển của cộng đồng bộ tộc, là sự chuẩn bị
quan trọng nhất để cộng đồng bộ tộc chuyển lên một hình thức cao hơn –
tức là dân tộc.
Tính tộc người và tính chính trị - xã hội đó ghi đậm vào tâm trí của
đông đảo dân cư ý thức gắn bó quyền lợi và nghĩa vụ của mình với dân tộc,
với nhà nước, quốc gia. Tình cảm đối với dân tộc hoà nhập vào tình cảm
đối với Tổ quốc và trở thành một trong những giá trị thiêng liêng, bền vững
của nhiều thế hệ con người ở nhiều dân tộc, quốc gia. Tình cảm ấy xuất
hiện và được củng cố trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước lâu
dài, trở thành nét truyền thống đặc sắc của các dân tộc, quốc gia đó.
Nhận thức vấn đề này không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý
nghĩa thực tiễn quan trọng. Bởi vì, công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã
hội mới – từ cơ sở kinh tế đến kiến trúc thượng tầng và các quan hệ xã hội
không thể thiếu nội dung cải tạo, xây dựng cộng đồng dân tộc và các mối
quan hệ dân tộc. Ngược lại, việc cải tạo, xây dựng cộng đồng dân tộc và
các mối quan hệ dân tộc không thể tách rời công cuộc cải tạo, xây dựng
toàn diện xã hội mà trước hết là xây dựng chế độ chính trị - xã hội, xây
dựng nhà nước theo con đường tiến bộ.
123

