
3. Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc
Liên hiệp công nhân của tất cả các dân tộc là tư tưởng cơ bản trong
cương lĩnh dân tộc của các đảng cộng sản: nó phản ánh bản chất quốc tế
của phong trào công nhân, phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải
phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Nó bảo đảm cho phong trào dân tộc
có đủ sức mạnh để giành thắng lợi.
Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc quy định mục tiêu hướng tới;
quy định đường lối, phương pháp xem xét cách giải quyết quyền dân tộc tự
quyết, quyền bình đẳng dân tộc. Đồng thời, nó là yếu tố sức mạnh đảm bảo
cho giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức chiến thắng kẻ thù của
mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng
dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở vững chắc để đoàn
kết các tầng lớp nhân dân lao động rộng rãi thuộc các dân tộc trong cuộc
đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Vì
vậy, nội dung liên hiệp công nhân các dân tộc đóng vai trò liên kết cả ba
nội dung của cương lĩnh thành một chỉnh thể. Đoàn kết giai cấp công nhân
các dân tộc là sự thể hiện thực tế tinh thần yêu nước mà thời đại ngày nay
đã trở thành sức mạnh cực kỳ to lớn. Nội dung đó phù hợp với tinh thần
quốc tế chân chính đang lên tiếng kêu gọi các dân tộc, quốc gia xích lại gần
nhau.
Cương lĩnh dân tộc của đảng cộng sản là một bộ phận trong cương
lĩnh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong sự
nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp; là cơ sở lý luận
của đường lối, chính sách dân tộc của các đảng cộng sản và nhà nước xã
hội chủ nghĩa.
III. Đặc điểm quan hệ dân tộc Việt Nam và chính sách
dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay
1. Đặc điểm quan hệ dân tộc ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc thống nhất gồm 54 dân tộc. Dân
tộc Kinh chiếm 87% dân số; 53 dân tộc còn lại chiếm 13% dân số, phân bố
rải rác trên địa bàn cả nước. 10 dân tộc có số dân từ dưới 1 triệu đến 100
ngàn người là: Tày, Nùng, Thái, Mường, Khơme, Mông, Dao, Giarai,
Bana, Êđê; 20 dân tộc có số dân dưới 100 ngàn người; 16 dân tộc có số dân
từ dưới 10 ngàn người đến 1 ngàn người; 6 dân tộc có số dân dưới 1 ngàn
người Cống, Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Ơ Đu, Brâu).
129

Đặc trưng nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta là sự cố
kết dân tộc, hoà hợp dân tộc trong một cộng đồng thống nhất đã trở thành
truyền thống, thành sức mạnh và đã được thử thách trong các cuộc đấu
tranh chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước qua mấy ngàn
năm lịch sử cho đến ngày nay.
Do những yếu tố đặc thù của nền kinh tế trồng lúa nước, một kết cấu
công xã nông thôn bền chặt sớm xuất hiện. Trải qua lịch sử liên tục chống
ngoại xâm, dân tộc ta đã hình thành rất sớm và trở thành một quốc gia dân
tộc thống nhất ngay dưới chế độ phong kiến. Đoàn kết là xu hướng khách
quan cố kết các dân tộc trên cơ sở có chung lợi ích, có chung vận mệnh lịch
sử, chung một tương lai, tiền đồ.
Tuy nhiên, bên cạnh mặt cố kết tạo nên tính cộng đồng chung, có nơi
có lúc vẫn xảy ra hiện tượng tiêu cực trong quan hệ dân tộc. Chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực thù địch lại luôn luôn dùng mọi thủ đoạn chia rẽ dân
tộc và can thiệp vào nội bộ nước ta. Do đó, phát huy truyền thống đoàn kết,
xoá bỏ thành kiến, nghi kỵ dân tộc và kiên quyết đập tan mọi âm mưu chia
rẽ dân tộc của kẻ thù là nhiệm vụ trọng yếu của nhân dân ta trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ngày càng tăng, tuy trong
từng khu vực nhất định có những dân tộc sống tương đối tập trung, nhưng
không thành địa bàn riêng biệt. Do đó, các dân tộc ở nước ta không có lãnh
thổ riêng, không có nền kinh tế riêng và sự thống nhất hữu cơ giữa dân tộc
và quốc gia trên mọi mặt của đời sống xã hội ngày càng được củng cố.
Do điều kiện tự nhiên, xã hội và hậu quả của các chế độ áp bức bóc lột
trong lịch sử nên trình độ phát triển kinh tế, văn hoá... giữa các dân tộc còn
khác biệt, chênh lệch nhau.
Tình trạng chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá... giữa
các dân tộc, giữa các vùng dân cư là một đặc trưng cần quan tâm nhằm
từng bước khắc phục sự chênh lệch đó để thực hiện bình đẳng, đoàn kết
dân tộc ở nước ta. Nhiều vùng dân tộc thiểu số canh tác còn ở trình độ rất
thấp, chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên. Đời sống vật chất của bà con dân
tộc thiểu số còn thiếu thốn, tình trạng nghèo đói kéo dài, thuốc chữa bệnh
khan hiếm, nạn mù chữ và tái mù chữ còn ở nhiều nơi. Đường giao thông và
phương tiện đi lại nhiều vùng rất khó khăn; điện, nước phục vụ cho sản xuất
đời sống nhiều vùng còn rất thiếu; thông tin, bưu điện nhiều nơi chưa đáp
ứng yêu cầu của đời sống, nhất là ở vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh...
Cùng với nền văn hoá cộng đồng, mỗi dân tộc trong đại gia đình các
dân tộc Việt Nam đều có đời sống văn hoá mang bản sắc riêng rất phong
130

phú. Bởi vì, bất cứ dân tộc nào, dù nhiều người hay ít người, đều có nền
văn hoá riêng, phản ánh truyền thống lịch sử, đời sống tinh thần, niềm tự
hào của dân tộc bằng những bản sắc độc đáo. Đặc trưng của sắc thái văn
hoá dân tộc bao gồm: ngôn ngữ tiếng nói, văn học, nghệ thuật, tình cảm
dân tộc, y phục, phong tục tập quán, quan hệ gia đình, dòng họ... Một số
dân tộc có chữ viết riêng (Khơme, Chăm, Thái, Mông, Giarai, Êđê ). Một
số dân tộc thiểu số gắn với một vài tôn giáo truyền thống (Khơme – với đạo
Phật; Chăm – với Islam, Bàlamôn ); một vài dân tộc gắn với đạo Tin Lành,
đạo Thiên Chúa... Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng bản sắc
văn hoá riêng và tôn trọng tự do tín ngưỡng của mỗi dân tộc. Sự phát triển
đa dạng mang bản sắc văn hoá của từng dân tộc càng làm phong phú thêm
nền văn hoá của cả cộng đồng.
Các dân tộc thiểu số tuy chỉ chiếm 13% dân số cả nước nhưng lại cư
trú trên các địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế,
quốc phòng, an ninh và giao lưu quốc tế, đó là các vùng biên giới, vùng
rừng núi cao, hải đảo... Nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số trước đây là
căn cứ cách mạng và kháng chiến. Một số dân tộc có quan hệ dòng tộc với
các dân tộc ở các nước láng giềng và khu vực.
Xuất phát từ tình hình, đặc trưng cơ bản của dân tộc Việt Nam, Đảng
và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến vấn đề chính sách dân tộc xem xét
nó như là vấn đề xã hội - chính trị rộng lớn, toàn diện gắn liền với các mục
tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa.
2. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc và
thực tiễn lịch sử đấu tranh cách mạng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam cũng như dựa vào tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay, Đảng và
Nhà nước ta ngay từ khi thành lập cho đến nay luôn luôn coi vấn đề dân tộc
và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc có tầm quan trọng đặc biệt. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nói: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một,
đồng bào các dân tộc đều là anh em ruột thịt, là con cháu một nhà, thương
yêu đoàn kết giúp đỡ nhau là nghĩa vụ thiêng liêng của các dân tộc. Người
còn khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành
công, đại thành công”. Trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước
coi việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là nhiệm vụ có tính chiến lược
nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, cũng như tiềm năng riêng của từng dân
tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và đưa đất nước quá độ
lên chủ nghĩa xã hội.
131

Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã nêu
rõ: "Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong
sự nghiệp cách mạng"1. Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng,
đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển; xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất hàng hoá, chăm lo đời sống vật chất và
tinh thần đi đôi với “giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ
viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng
căn cứ cách mạng"2, kiên quyết “Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc; chống tư
tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự
ti, mặc cảm dân tộc”3.
Những chính sách dân tộc cơ bản của Đảng và Nhà nước ta được biểu
hiện cụ thể như sau:
+ Có chính sách phát triển kinh tế hàng hoá ở các vùng dân tộc thiểu
số phù hợp với điều kiện và đặc điểm từng vùng, từng dân tộc, bảo đảm
cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để làm
giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đây là vấn đề cực kỳ quan trọng để khắc phục sự chênh lệch về kinh
tế, văn hoá, bảo đảm sự bình đẳng thực sự giữa các dân tộc. Đi đôi với phát
huy tiềm lực kinh tế của các vùng dân tộc cần chú trọng bảo vệ môi trường
thiên nhiên, ổn định đời sống của đồng bào, phát huy mối quan hệ tốt đẹp,
gắn bó giữa đồng bào tại chỗ và đồng bào từ nơi khác đến, chống tư tưởng
dân tộc hẹp hòi.
+ Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín
ngưỡng của đồng bào các dân tộc; từng bước nâng cao dân trí đồng bào các
dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số ở vùng núi cao, hải đảo.
Đây là vấn đề quan trọng và rất tế nhị, cần lắng nghe ý kiến của đồng
bào và có chính sách thật cụ thể nhằm làm cho nền văn hoá chung vừa hiện
đại vừa đậm đà bản sắc dân tộc, ngày càng phong phú và rực rỡ.
+ Tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết và đấu tranh kiên cường
của các dân tộc vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, chống tư tưởng dân tộc
lớn và dân tộc hẹp hòi, nghiêm cấm mọi hành vi miệt thị và chia rẽ dân tộc.
+ Tăng cường bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số;
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2006, tr. 121-122.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001, tr. 128
132

đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết hợp tác cho cán bộ các dân tộc. Bởi
vì, chỉ tinh thần đó mới phù hợp với đòi hỏi khách quan của công cuộc phát
triển dân tộc và xây dựng đất nước. Trong công cuộc đó, không dân tộc nào
có thể chỉ sử dụng đội ngũ cán bộ xuất thân từ dân tộc mình, ngược lại, cần
sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đội ngũ cán bộ thuộc mọi dân tộc trong cả
nước.
Như vậy, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước mang tính toàn
diện, tổng hợp, quán xuyến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên
quan đến mỗi dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc trong cả cộng đồng quốc
gia. Phát triển kinh tế – xã hội của các dân tộc là nền tảng để tăng cường
đoàn kết và thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, là cơ sở để từng bước khắc
phục sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc. Do đó, chính
sách dân tộc còn mang tính cách mạng và tiến bộ, đồng thời còn mang tính
nhân đạo, bởi vì, nó không bỏ sót bất cứ dân tộc nào, không cho phép bất
cứ tư tưởng khinh miệt, kỳ thị, chia rẽ dân tộc; nó tôn trọng quyền làm chủ
của mỗi con người và quyền tự quyết của các dân tộc. Mặt khác, nó còn
nhằm phát huy nội lực của mỗi dân tộc kết hợp với sự giúp đỡ có hiệu quả
của các dân tộc anh em trong cả nước.
Nhận thức đúng đắn bản chất, nội dung, tính chất của chính sách dân
tộc có ý nghĩa quyết định tới việc định hướng và đổi mới các biện pháp
thực hiện chính sách dân tộc, làm cho chính sách dân tộc đi vào cuộc sống.
Câu hỏi thảo luận và ôn tập
1. Phân biệt các khái niệm dân tộc. Phân tích về hai xu hướng khách
quan của sự phát triển các dân tộc trong thời đại hiện nay?
2. Phân tích nội dung cơ bản "Cương lĩnh dân tộc" của Đảng Cộng sản
Việt Nam?
3. Khái quát tình hình các dân tộc ở Việt Nam và nội dung cơ bản các
chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước?
133

