
CƯỜNG GIÁP
(Cường Giáp - Giáp Trạng Tuyến Công Năng Cang Tiến Chứng, Bướu Cổ
Lồi Mắt, Bazedow).
Do nhiều nguyên nhân làm cho công năng tuyến giáp tăng cao. Là một bệnh nội
tiết do kích thích tố tuyến giáp tăng. Thường gặp nhất là Tuyến giáp viêm mạn
kèm cường giáp (bệnh Grave).
Phương pháp trị chủ yếu của YHHĐ đối với bệnh cường giáp gồm:
1- Dùng thuốc kháng giáp
(anti thyroxin ).
2- Dùng Iod.
3- Cắt bỏ 1 phần tuyến giáp.
Sau khi ứng dụng 2 phương pháp trên thấy có thích ứng với các chứng nhất định,
thuốc kháng giáp có tác dụng làm giảm tế bào lymphô và sau khi điều trị dễ bị tái
phát.
YHCT xếp bệnh cường giáp vào phạm trù Anh Chứng. Đương nhiên là Anh chứng
không chỉ riêng về bệnh cường giáp mà còn gồm các bệnh khác về tuyến giáp nữa.
Trên thực nghiệm lâm sàng dài ngày đã tích lũy được kinh nghiệm phong phú về
thuốc Đông y trong việc điều trị bướu cổ, trong đó việc trị bệnh cường giáp đã thu
được những kết quả trị liệu khá tốt mà không có tác dụng phụ rõ rệt, đồng thời
trong thực tế đã nắm vững được các chứng cường giáp thích hợp với việc điều trị
bằng thuốc YHCT. Thường người ta cho rằng những dạng dưới đây thích hợp với
việc dùng thuốc YHCT để điều trị:
1- Bệnh nhẹ hoặc vừa, nếu nặng có thể kết hợp Đông Tây y.
2- Trường hợp quá mẫn cảm với thuốc kháng giáp hoặc vì phản ứng độc tính mà
không thể tiếp tục điều trị, không thể giải phẫu được.
3- Người bệnh có kèm bệnh gan.
4- Sau khi ngưng dùng thuốc kháng giáp thì tái phát.

5- Sau khi giải phẫu, bệnh cường giáp tái phát mà dùng thuốc kháng giáp không
hiệu quả.
6- Dùng thuốc kháng giáp tuy bệnh có bị khống chế nhưng mắt bị lồi, tuyến giáp
sưng to hơn trước.
YHCT chữa chứng cường giáp lấy biện chứng luận trị làm cơ sở nhưng phân từng
loại cũng có sự khác biệt.
* Y viện Nam Kinh phân thành 4 loại: Can khí uất trệ, Đờm khí giao kết, Can hỏa
vượng và Tâm Can âm hư.
* Y viện Thượng Hải phân làm 3 loại: Khí trệ đờm ngưng, Can hỏa cang thịnh và
Tâm Can Âm hư.
* Y viện Bắc kinh cho rằng chứng trạng điển hình của bệnh cường giáp không xuất
hiện đồng thời mà ở các giai đoạn khác nhau đều có các chứng khác nhau.
Các phương pháp phân loại của các tác giả tuy không hoàn toàn giống nhau nhưng
trên cơ bản đều cho rằng diễn biến của bệnh này có các quy luật sau:
+ Mới phát: Chủ yếu là Can uất đờm kết, chữa trị nên lý khí, hóa đờm, nhuyễn
kiên, tán kết.
+ Thời kỳ sau: Phần âm suy, hao tổn, chữa trị nên nhu Can, tư Thận.
Trong tiết này chủ yếu giới thiệu những nghiên cứu về chứng cường giáp thuộc Hư
chứng.
Y viện Thượng Hải tiến hành nghiên cứu chỉnh lý đối với việc trị liệu bệnh cường
giáp của Hạ-Thiếu-Nông. Phát hiện thấy trong gần 100 người bệnh cường giáp đều
có chứng trạng khí và âm đều hư, cho thấy hư chứng chiếm 1 tỉ lệ rất lớn trong
bệnh cường giáp, Trong đó có 1 phần bệnh nhân vừa âm hư vừa kèm Tâm hỏa
vượng hoặc Can hỏa vượng. Nếu kèm Tâm hỏa vượng thì Albumin trong nước tiểu
tăng cao, nếu Can hỏa vượng thì 17 Steroid (OHCS) trong nước tiểu tăng cao. Hiện
tượng này cũng gặp trong các người bệnh Tâm hỏa vượng và Can hỏa vượng thuộc
các loại bệnh khác (như Huyết áp cao...). Cho thấy 2 chỉ định này không phải là
mối liên quan tất yếu đối với riêng bệnh cường giáp, mà chủ yếu là phản ảnh bản
chất hỏa vượng của tạng phủ. Xét theo kết quả trị liệu, trên cơ sở nguyên tắc trị
liệu phù hợp, thêm các vị thuốc tả Tâm hỏa (Hoàng liên), tả Can hỏa (Long đởm
thảo) tương ứng thì vừa cải thiện chứng trạng của bệnh cường giáp mà các chất

Albumin và 17 Steroid (OHCS) trong nước tiểu cũng hạ thấp tương ứng. Đặc điểm
trị liệu cường giáp của Hạ-Thiếu-Nông là tăng ích khí, dưỡng âm. Trong bài thuốc
dùng vị Hoàng kỳ là chủ yếu. Y viện Thượng Hải qua nghiên cứu chứng minh
rằng: Thuốc với lượng lớn Hoàng kỳ có tác dụng quan trọng đối với việc đề cao
hiệu quả. Dùng Hoàng kỳ 60g, Hạ khô thảo 40g, Bạch thược, Hà thủ ô, Sinh địa
đều 20g, Hương phụ (chế) 12g, gọi là bài ‘Cường Giáp Trọng Phương ‘, và dùng
phương này bỏ Hoàng kỳ để so sánh với bài Cường Giáp Trọng Phương. Theo chỉ
số phân tích cường giáp:
. Ở nhóm dùng Hoàng kỳ, trước khi điều trị là 19.45 +- 0.84 hạ xuống 7.03 +-0.89
sau khi điều trị.
. Ở nhóm không dùng Hoàng kỳ thì từ 20.31+- 0.60 hạ xuống 13.11 +- 0.99. Tuy
cả 2 nhóm trước và sau khi điều trị đều có sự sai biệt rõ rệt nhưng chỉ số tích phân
của nhóm Hoàng kỳ sau khi điều trị thấp hơn so với nhóm không có Hoàng kỳ.
Việc trọng dụng Hoàng kỳ ngoài việc thu được kết quả lâm sàng rõ rệt mà kiểm tra
trong phòng thí nghiệm cũng thấy kết quả trị liệu tốt. Thí dụ:
. Huyết thanh T3 ở nhóm Hoàng kỳ trước khi điều trị là 4.22 +- 0,30mg/ml sau khi
điều trị hạ xuống 2.68 +- 0,25mg/ml (P< 0.01), ở nhóm không có Hoàng kỳ thì từ
4.04 +- 0.37 mg/ml xuống 3.97 +- 0.36mg/ml (P > 0.05).
. Huyết thanh T4 ở nhóm Hoàng kỳ trước khi điều trị là 19.5 +- 1.25mg/dl sau khi
điều trị xuống 12.93 +- 0.87mg/dl (P < 0.01),ở tổ không có Hoàng kỳ thì từ 17.19
+- 1.27mg/dl hạ xuống 16.39 +-1.59mg/dl(P> 0.05)
Thông thường thì sự phát bệnh cường giáp có quan hệ với sự rối loạn công năng
miễn dịch và sự xuất hiện cầu đản bạch miễn dịch của tuyến giáp hưng phấn trong
cơ thể. Hoạt tính Ea của người bệnh cường giáp trước khi điều trị thấp hơn người
bình thường rõ rệt. Sau khi điều trị, ở nhóm Hoàng kỳ Ea tăng cao rất rõ ( P<0.05),
ở nhóm không có Hoàng kỳ thì Ea tăng cao không rõ (P> 0.05). Xét theo sự sai
biệt của chỉ định miễn dịch ở 2 nhóm thì tác dụng điều trị của Hoàng kỳ đối với
chứng cường giáp có khả năng có quan hệ với năng lực điều chỉnh công năng miễn
dịch của cơ thể. Ở nhóm không có Hoàng kỳ mà chỉ đơn thuần dùng thuốc dưỡng
âm thì chỉ có khả năng cải thiện chứng trạng mà không có khả năng hạ thấp mức
độ T3,T4 và nâng cao Ea, cho thấy phép điều trị bằng thuốc dưỡng âm ở đây chính
là điều trị ngọn (tiêu). Chứng âm hư của bệnh nhân cường giáp có khả năng là
chứng phát ra từ sự suy giảm chính khí, sau khi thêm lượng lớn Hoàng kỳ thì cải
thiện được chứng trạng lâm sàng và các chỉ định trong phòng thí nghiệm, không
những nâng cao tần suất khỏi bệnh mà còn hạ thấp tần suất tái phát, làm nền tảng

cho việc điều trị gốc. Điều này không những có ý nghĩa chỉ đạo đối với việc điều
trị bệnh cường giáp mà còn làm phong phú thêm lý luận ‘ Dương sinh Âm trưởng ‘
- ‘Âm được dương trợ mà nguồn suối không cạn ‘ của YHCT. Đương nhiên cũng
không thể bỏ qua tác dụng của thuốc dưỡng âm. Do mô hình thực nghiệm cường
giáp tạo thành T 3 mà số lượng thụ thể của kích thích tố thượng thận tăng nhiều ,
lượng háo Oxy tăng lên, mà các vị thuốc tư âm như Sinh địa, Quy bản có khả năng
hạ thấp 2 chỉ định này, hồi phục đến mức bình thường. Dùng chung Hoàng liên (tả
Tâm hỏa) đối với bệnh nhân cường giáp có đủ chứng trạng âm hư, tâm hỏa vượng
thì liền có khả năng tăng cường tác dụng điều chỉnh tính hưng phấn của giao cảm -
thượng thận ở bệnh nhân. Ngoài ra ông họ Tương còn phát hiện rằng phương tổng
hợp dưỡng khí ích âm có khả năng điều chỉnh sự tăng cao khác thường của hàm
lượng CAMP có huyết tương của chuột cường giáp (thực nghiệm) do T3 gây ra,
giảm thấp lượng háo dưỡng khí của tổ chức gan và giảm lượng nước uống ở mô
hình chuột thực nghiệm, đồng thời điều chỉnh sự biến hóa dị thường của công năng
kích thích tố thượng thận. Người ta cho rằng: những tác dụng thu được này không
nhờ vào sự hồi phục của tuyến giáp trạng, điều này cho thấy Đông dược có thể
thông qua con đường bên ngoài tuyến giáp mà có tác dụng điều tiết sự chuyển hóa
của cơ thể để thu được kết quả điều trị lâm sàng.
Đông dược cũng thường dùng 1 số chứng trạng của bệnh cường giáp để đối chứng
trị liệu như đối với chứng mồ hôi nhiều, có thể dùng bột Mẫu Lệ, cũng có tác giả
điều trị bằng Hoàng kỳ, Phù tiểu mạch...Đối với chứng mất ngủ, hồi hộp, hay mơ
thì trên cơ sở ích khí dưỡng âm có thể thêm các vị thuốc ninh tâm an thần như
Toan táo nhân, Viễn chí, Long cốt, Dạ giao đằng, Trân châu mẫu...
YHCT cũng có 1 số thăm dò trong việc điều trị chứng lồi mắt (đột nhãn). Cường
giáp và lồi mắt đều do tự miễn dịch gây ra, trong đó việc thiếu tính ức chế tế bào T
là 1 khâu trọng yếu trong việc gây ra bệnh mà nồng độ cao của T3,T4 ở bệnh
cường giáp làm giảm yếu công năng của Ts, làm tăng sự rối loạn sẵn có của chức
năng miễn dịch.
Đối với chứng lồi mắt:
+ Y viện Thự Quang (Thượng Hải) dùng Kỷ tử, Bạch giới tử, Trạch tất, Ngọa lõa
tử, Địa cốt bì và Bạch tật lê để điều trị bướu cổ lồi mắt.
+ Sở nghiên cứu nội tiết Thượng Hải dùng đơn thuần biện chứng luận trị hoặc
dùng thuốc YHCT thêm“Thyroid ” (Tuyến giáp trạng phiến) liều thấp, chữa 24
trường hợp bướu cổ lồi mắt, một số chữa kết hợp với châm cứu. Sau khi điều trị 3-
6 tháng tỉ lệ có kết quả ở chứng bướu cổ lồi mắt nhẹ là 90,9%, loại vừa là 75%,.

Mức độ mắt thu nhỏ là 2,3mm (P< 0.01), nồng độ T3, T4 trong huyết thanh hạ thấp
rõ. Người ta cho rằng tác dụng điều trị của thuốc YHCT có khả năng có quan hệ
với sự điều chỉnh tính miễn dịch và công năng của thần kinh thực vật.
Nguyên tắc chữa trị chính là Thanh nhiệt, bổ khí, thanh Can, minh mục, tư âm. Các
vị thuốc chính là:Phong hưu, Bạch liễm, Lậu lô, Hoàng kỳ, Huyền tinh thạch,
Thạch hộc, Cúc hoa, Kỷ tử, Mật mông hoa, Thiên lý quang, Cốc tinh thảo, Thạch
giải...
Ngoài ra, có tác giả cũng quan sát thấy những bệnh nhân lồi mắt ở thời kỳ cường
giáp ổn định, có chứng trạng ứ huyết ở mắt và toàn thân, các nếp nhăn ở mao mạch
và công thức máu đều khác thường. Kiểm tra độ thay đổi của huyết dịch có kết
quả. Độ dính của huyết tương toàn phần, HCT đều tăng cao, cho thấy huyết ứ cũng
có khả năng chính là nguyên nhân phát bệnh hàng đầu của chứng này. Điều này
cũng có thể có ý nghĩa nhất định trong việc hướng dẫn điều trị. Việc xử dụng thuốc
YHCT có chứa Iod là 1 vấn đề cần cân nhắc về lợi hại. Những phương thuốc trị
bướu cổ truyền thống đều có 2 vị thuốc Côn bố và Hải tảo, có hàm lượng Iod rất
cao mà sự ứng dụng Iod trong việc trị bệnh cường giáp theo YHHĐ lại khá hạn
chế. Iod có khả năng ức chế cơ hóa tạm thời chất Iod trong tuyến giáp, chủ yếu là
ức chế sự phóng thích kích thích tố tuyến giáp nhưng không phải là dạng dược liệu
có Lưu huỳnh và Uric ức chế sự hình thành của kích thích tố tuyến giáp.. Hiện nay
trong lâm sàng người ta lợi dụng hiệu quả cấp kỳ của Iod trong trường hợp khẩn
cấp để khống chế sự phân tiết kích thích tố tuyến giáp, như ở người bệnh cường
giáp cần giải phẫu gấp. Ngoài ra Iod có thể làm giảm huyết dịch cung ứng cho sự
tăng sinh của tuyến giáp. Vì vậy, cũng có thể dùng để chuẩn bị cho tiền giải phẫu.
Nhưng trên 1 phương diện khác, phải tỉnh táo để biết rằng việc dùng đơn độc Iod
để điều trị có tính quyết định đối với bệnh cường giáp thì luôn luôn có hiệu quả
không tốt. Sau khi dùng trong 1 giai đoạn thì bị trầm cảm vì trong tuyến giáp lưu
trữ 1 lượng lớn kích thích tố, vì vậy việc dùng các thuốc khác rất khó khăn. Khi
dùng Iod để điều trị bệnh cường giáp thì sau khi ngưng dùng, các chứng trạng của
bệnh cường giáp tăng nặng hơn. Tác giả Trần Thị làm so sánh giữa hiệu quả cấp
thời việc dùng Iod của YHHĐ và thuốc YHCT có chứa Iod để điều trị bệnh cường
giáp, thấy ở 2 phương pháp này thì thời gian bắt đầu có hiệu quả, thời gian đạt
được hiệu quả cao nhất và tỉ lệ hiệu quả thì đều giống nhau. Đối với hiệu quả lâu
dài của 2 phương pháp điều trị trên, vì sự hạn chế của điều trị nên không so sánh
được. Oâng ta cũng so sánh hiệu quả điều trị bệnh cường giáp giữa loại dùng Iod
và các phương thuốc YHCT không chứa Iod. Kết quả thấy rằng tuy thời gian có
hiệu quả cao nhất của thuốc YHCT chậm hơn so với Iod nhưng thời gian hiệu quả
lại kéo dài hơn so với Iod. Như vậy, khi xử dụng thuốc YHCT có hàm lượng Iod
cao để điều trị bệnh cường giáp phải cẩn thận như khi xử dụng Iod.

