BỆNH SỞI
(Kỳ 1)
1. Đại cương:
Sởi là bệnh được mô tả lần đầu tiên vào thế kỷ thX do y Persan
Rhazes. Mãi đến thế kthứ XVIII, Home mới những ng trình thực nghiệm
v sự truyền bệnh. Virus sởi thuộc họ Paramyxovirus influenzae. Virus thuộc
nhóm này giống nhau v tính kháng nguyên, nhưng virus sởi không men
neuraminidase, vậy không được hấp thu bởi những receptor của tế bào
chứa acid neuraminidic. Virus sởi chứa nng kết tố hồng cầu, trong khi đó
virus thuộc nhóm Paramyxovirus như Rinderpest Canine distemper thì không
có. Virus si dễ bị tiêu diệt bởi nhiệt. 56°C bị phá huỷ trong 30 phút. b
bất hoạt bởi ánh sáng, siêu âm một số tác nhân hoá khác. Ngược lại tự
sống sót được trên 5 năm nhiệt độ -70°C. Cũng như các loại Myxovirus, virus
sởi nhạy cảm với ether và làm cho virus vỡ ra thành từng mảnh nhỏ.
2. Dịch tễ học:
Sởi là bệnh nhiễm virus cấp tính, lây truyền rất mạnh, xảy ra quanh năm,
cao nhất vào mùa xuân khắp mọi nơi trên thế giới. Bệnh hay gây thành dịch,
chu kỳ 3 - 4 năm 1 lần.
Trước thời kỳ vắc xin, bệnh phổ biến tuổi từ 2 - 6. Hiện nay những
nước sử dụng vắc xin ROR thì tỷ lệ mắc sởi giảm xuống 99%. Bệnh sởi có khuynh
hướng chuyển dịch sang trẻ lớn.
Năm 1994 tại Việt Nam xảy ra vdịch, trẻ mắc sởi n đến 11.000 trường
hợp. Tình hình bệnh sởi trong 20 m qua (1979 - 1999) trem cả nước bị mắc
579.678 ca, tvong 2190 trường hợp. Tại Bệnh viện Trung ương Huế cuối m
1999 đến m 2000 119 trẻ mắc sởi điều trị tại Khoa Nhi. m 2000 miền
Bắc bệnh sởi xảy ra 25/28 tỉnh thành, tăng hơn năm 1999 1.091 trường hợp.
Xét nghiệm huyết thanh (+) là 81,2%.
Hàng m toàn thế giới khoảng 50 triệu trẻ bị sởi, trong đó ước tính
khoảng 722.000 trẻ < 5 tuổi tử vong do các biến chứng tsởi và 40% tvong do
suy dinh dưỡng. Bệnh thường xảy ra các nước châu Phi và Đông Nam Á.
Virus si gây bệnh cho người qua đường hấp trên, ngoài ra đường kết
mạc cũng rất quan trọng. Với con đường truyền bệnh trực tiếp qua những hạt nước
bọt chứa virus, sẽ tấn công vào niêm mạc mũi miệng, hầu hoặc khu trú
niêm mạc, kết mạc mắt. Virus tự nhân lên trong biểu đường hấp và h
thống lympho, sau đó qua hệ tuần hoàn và lan toả vào các cơ quan.
Yếu tố nguy cơ của bệnh sởi là:
- Tr< 1 tuổi và trẻ lớn.
- Trbị suy dinh dưỡng.
- Trkhông được tiêm chủng.
- Trbị nhiễm HIV.
- Các phụ huynh có con bị sởi không tuân thủ sự hướng dẫn của cán bộ y tế.
3. Sinh bệnh học:
Khi virus xâm nhập vào đường hấp trên hoặc kết mạc, sau đó virus
nhân lên tại niêm mạc và trong vùng hạch lympho. Vào ngày th5 và 6 xảy ra
nhiễm virus huyết tái phát và gây nên snhiễm trùng c mô. Vào ngày th11,
các triệu chứng tiền triệu bắt đầu xuất hiện đến khoảng ngày thứ 14 thì ban xuất
hiện. Từ 24 - 48 gisau khi ban xuất hiện thì kháng thnhanh chóng xuất hiện.
Thông thường định lượng được kháng thể vào ngày th2 và 3 ktkhi phát ban.
Tlệ tăng lên nhanh đạt được 1/256, 1/512 trong vài ngày. Tlệ này ch giảm
xuống từ từ thường người ta còn tìm thấy kháng thể với tỷ lệ 1/16 hoặc 1/32
sau 10 hoặc 15 năm kể từ khi bị mắc bệnh sởi.
Trong khoảng giữa 2 pha nhiễm virus huyết, virus sởi phát tán chủ yếu
trong các bạch cầu. Chính snhân lên của virus trong bạch cầu giải thích được s
giảm bạch cầu gia tăng tần suất vỡ nhiễm sắc thể của tế bào. Sgiảm sản xuất
oxy và thiếu hụt các men sinh học trong bạch cầu lúc virus sởi tại đó thể làm
dễ dàng cho sự bội nhiễm thứ phát của vi trùng.
Các hạt Koplik bắt nguồn từ tuyến dưới niêm mạc như một tổn thương
viêm, bao gồm dịch rỉ huyết thanh và stăng sinh tế bào nội mô.
Trong viêm o chất xám hoá bán cấp, người ta có thể phân lập được
virus bằng phương pháp sinh thiết não và đồng thời cũng được kháng thể của
bệnh nhân với chuẩn độ khá cao.
4. Lâm sàng:
4.1. Giai đoạn ủ bệnh: Kéo dài 10 - 12 ngày. Chưa có triệu chứng đặc hiệu,
có thcó sốt nhẹ và dấu hiệu về đường hô hấp không rõ ràng.
4.2. Giai đoạn xâm nhập: Kéo dài 3 - 4 ngày, sốt cao 39-40°C, dần dần các
dấu hiệu lâm sàng rõ ràng hơn:
- Xuất tiết ở mũi - mắt.
- Xut hiện dấu nội ban: đó là hạt Koplik hoặc tổn thương niêm mạc
âm hộ rất có giá trị để chẩn đoán.
- Phối hợp với những dấu hiệu không thường xuyên: hạch lớn, ban thoáng
qua, chán ăn, buồn nôn.
4.3. Giai đoạn phát ban: Xuất hiện sau nhiễm trùng khoảng 14 ngày. Ban
dạng dát sẩn xuất hiện từ đầu đến chân. Tlúc ban xuất hiện cho đến khi ban bay
kéo dài t 5 - 6 ngày.
4.4. Giai đoạn tróc vảy da: Khi ban sởi bay, trên da bong vảy để lại
những nốt tm đen không đồng đều, hình ảnh giống da báo. Sau 7 - 10 ngày
da tr lại bình thường.
Ngoài sởi thể thông thường, còn Sởi xuất huyết, đây là thm sàng rất
nặng biểu hiện xuất huyết trong da, niêm mạc miệng - mũi và ruột, thường bệnh
nhi tử vong.