
CA DAO, TỤC NGỮ, HÒ VÈ BÌNH
ĐỊNHCON NGƯỜI VÀ LỊCH SỬ

1. CA DAO, TỤC NGỮ, HÒ VÈ BÌNH ĐỊNH: CON NGƯỜI VÀ LỊCH SỬ
Văn học dân gian, một mảng không nhỏ trong nền văn học Việt Nam đã có từ lâu
đời là dòng suối con ngọt lành đổ về dòng sông xanh mẹ văn học.
Ca dao, tục ngữ, dân ca, hò vè lại là một mảng không nhỏ nữa trong văn học dân
gian bao gồm: Thần thoại, Cổ tích, Truyện cười, Ngụ ngôn.
Tục ngữ, ca dao, dân ca, hò vè là tiếng hát bình dị, mộc mạc, phong phú của cả ba
miền Bắc, Trung, Nam.
Trong phần tổng kết quá trình sưu tầm văn học dân gian ở Bình Định (miền
Trung), người viết xin trình bày vắn tắt với trích dẫn một phần nhỏ sưu tầm được
từ xã Nhơn Hậu, An Nhơn (với 360 câu ca dao, 120 câu tục ngữ, hò vè).
Bình Định giáp ranh giới với Phú Khánh (bao gồm hai tỉnh Khánh Hòa và Phú
Yên). Non sông với những lằn ranh thay đổi theo lịch sử. Con người nằm trong
hoàn cảnh ly tán. Bởi vậy, dân gian hát ru:
Ai về Bình Định thăm cha
Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em.
Dị bản:
Ai về Bình Định quê ta
Phú Yên quê chị, Khánh Hòa quê em.

''Mẹ'', ''Chị'' và ''Em'' được trùng phùng. Hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên nhập lại
thành Phú Khánh còn ''Cha'' thì nhập vào với dì ghẻ ''Quảng Ngãi'' thành ra Tỉnh
Nghĩa Bình.
Mỗi địa danh đều có một nét đặc sắc riêng biệt của nó về lịch sử, thắng cảnh và
văn học khó mà lẫn lộn.
I. Bình Định: Con người và lịch sử:
Đất Bình Định xưa thuộc bộ Việt Thường - một trong mười lăm bộ Văn Lang.
Bình Định gắn liền với thành Quy Nhơn (Hoài Nhơn năm 1602, thời Nguyễn
Hoàng) và gắn liền cái tên với lịch sử lừng lẫy một thời: Thành Đồ Bàn (còn gọi là
Vijara-Chà Bàn - Kinh đô của Chiêm Thành). Trải qua bao cuộc huyết chiến đẫm
máu tàn khốc giữa Việt Nam và Chiêm Thành, giữa anh em Bắc - Nam, Trịnh -
Nguyễn, giữa hai họ Nguyễn Ánh và Nguyễn Tây Sơn; thành Quy Nhơn bị phá bởi
Nguyễn Ánh và được đổi tên là thành Bình Định vào năm 1799.
Lịch sử Quy Nhơn - Bình Định được ghi thêm vào một thành ngữ ''Một Vương, hai
Đế'' để ám chỉ nhà Tây Sơn gồm Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ với các
danh tướng Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Bùi Thị Xuân...
Bên cạnh đó, Bình Định lại có thêm Mai Xuân Thưởng và phong trào Cần Vương
với Bùi Điền, Nguyễn Cang, Nguyễn Hoá... cùng Trần Quý Cáp, Trịnh Phong của
Khánh Hòa ghi vào lịch sử hai tỉnh những trang sách vẻ vang.

Bao nhiêu vết tích (đổ rồi xây), bao nhiêu sự nghiệp (lên và xuống), bao nhiêu máu
xương, nước mắt (thù và mình) đã tạo cho mảnh đất Bình Định một nét hào hùng
riêng biệt ít nơi nào có.
Văn học đi cùng lịch sử. Văn học Bình Định với mảng văn học dân gian (phần ca
dao, tục ngữ, hò vè, đối đáp) vẫn sinh sôi, nẩy nở từ bối cảnh hào hùng nhưng cũng
nhuộm màu thê lương, đậm đà sự duyên dáng vốn có của ca dao, dân ca; ý nhị của
hò vè và không mất cái thâm thúy, sâu sắc của tục ngữ. Mảng này gồm ba phần:
Thắng cảnh, Hương vị đặc biệt và Lịch sử:
1. Thắng cảnh:
Vì đây là bài viết sưu tầm nên toàn hầu hết, người viết chỉ ghi lại những gì ''mắt
thấy, tai nghe'' những lời kể, những câu ca dao. Những câu ca này, phần lớn có
nhiều dị bản (theo tính đặc thù riêng của mảng tục ngữ, ca dao, dân ca).
Quy Nhơn có rất nhiều thắng cảnh mà ca dao ghi lại:
Quy Nhơn có tháp Chòi Mòi
Có đầm Thị Nại chạy dài biển đông.
Hay ướt át hơn:
Đứng trên Quy Nhơn nhìn lại bán đảo Phương Mai
Cạnh đầm Thị Nại nhớ ai hôm nào?
"Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai?"

như một điệp khúc không dành riêng cho Bình Định nhưng bán đảo Phương Mai
hay đầm Thị Nại với nguồn thủy sản hấp dẫn thì lại là của riêng Bình Định mà
chẳng nơi nào có. Đầm Thị Nại ''nhớ ai'' không ai biết nhưng nỗi nhớ đó chính là
nỗi nhớ của lịch sử. Nhớ ai? Là nhớ những người đã đổ máu giữa hai cuộc chiến
do hai dòng họ Nguyễn với Nguyễn Vương từ Gia Định ra Diên Khánh, tiến quân
ra Quy Nhơn qua cửa Thị Nại chăng? Người kể không chắc chắn còn người viết
chỉ ''đoán già, đoán non''. Nhưng hai câu ca dao này thì rõ ràng hơn:
Khéo khen con tạo trớ trêu
Nắn nguyên Bãi Trứng nhớ tổ tiên là Âu Cơ.
''Bãi Trứng'' đưa chúng ta về ''Sự tích trăm trứng'' - cổ tích mà cũng như thần thoại
về những người Việt Nam cùng cha, cùng mẹ ''con Rồng, cháu Tiên'' trên đất Việt
Nam nói riêng và đất Bình Định nói chung. Nhìn cảnh nhớ người, nhìn vật nhớ lịch
sử, câu ca dao này có giá trị như một chứng nhân nguồn gốc tổ tiên.
Quy Nhơn quả có địa điểm du lịch là ''Bãi Trứng''. Nó gồm hàng ngàn hòn đá xanh,
tròn nhẵn được xếp đặt rất công phu và khéo léo bởi bàn tay thiên nhiên làm du
khách có thể liên tưởng đến một ''Hòn chồng'' ở Đồng Đế - Nha Trang. Nếu Bình
Định có ''Bãi Trứng" là ''Hòn vợ'' thì ở Khánh Hòa có ''Hòn chồng'' ứng với cái
câu:
Bình Định nghĩa vợ. Phú Khánh tình chồng
Quy Nhơn triền sóng vỗ lòng núi sông.

