1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHAN VĂN HOÀNG

CHÍNH SÁCH CỦA MỸ ĐỐI VỚI VIỆT

NAM

TỪ 1940 ĐẾN 1956

Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam

Mã số: 5.03.15

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SỬ HỌC

Người hướng dẫn khoa học GIÁO SƯ TRẦN VĂN GIÀU PCS.TS NGUYỄN PHAN QUANG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2002

2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các số liệu, kết quả nêu trong luận án này là trung thực.

Những kết luận của luận án chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ cô

trình nào khác.

Tác giả luận án Phan Văn Hoàng

2

MỤC LỤC

DẪN LUẬN ............................................................................................................................... 7

1. Lý do chọn đề tài – mục đích nghiên cứu .......................................................................... 8

2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.................................................................................... 10

3. Phƣơng pháp nghiên cứu .................................................................................................. 11

4. Các nguồn tƣ liệu ............................................................................................................. 13

5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................................... 13

6. Những đóng góp của luận án ........................................................................................... 19

7. Cấu trúc của luận án ......................................................................................................... 23

CHƢƠNG MỞ ĐẦU: VIỆT NAM TRONG TẦM NGẮM CỦA MỸ (TRƢỚC 1940) ........ 26

1. Chủ nghĩa bành trƣớng: bản chất của Mỹ ........................................................................ 27

2. Mỹ quan tâm đến Việt Nam (trƣớc 1940) ........................................................................ 32

CHƢƠNG I: VIỆT NAM TRONG CHÍNH SÁCH CỦA MỸ THỜI CHIẾN TRANH CHÂU

Á - THÁI BÌNH DƢƠNG (TỪ GIỮA NĂM 1940 ĐẾN GIỮA NĂM 1945) ........................ 39

1. Việt Nam trong quan hệ Mỹ - Nhật ................................................................................. 41

1.1. Mỹ mƣợn tay Nhật loại Pháp khỏi Việt Nam ........................................................... 41

1.2. Mỹ muốn trung lập hóa Việt Nam ............................................................................ 45

1.3. Việt Nam là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến chiến tranh Mỹ - Nhật .. 47

3

2. Việt Nam trong quan hệ Mỹ - Pháp ................................................................................. 49

2.1. Mỹ tìm mọi cách loại Pháp khỏi Đông Dƣơng ......................................................... 50

2.2. Mỹ chủ trƣơng đặt Việt Nam dƣới sự ủy trị quốc tế ................................................. 61

CHƢƠNG II: VIỆT NAM TRONG "CHIẾN TRANH UỶ NHIỆM" CỦA MỸ (1945-1954)

.................................................................................................................................................. 71

Tiết 1: Mỹ giúp Pháp tái chiếm Việt Nam (1945 – 1950) ................................................... 78

1.1. Mỹ muốn loại bỏ cách mạng Việt Nam .................................................................... 79

1.2. Mỹ giúp Pháp tái chiếm Việt Nam ........................................................................... 83

1.3. Mỹ dùng "lá bài Bảo Đại". ........................................................................................ 88

Tiết 2: Mỹ giúp Pháp đẩy mạnh chiến tranh chống Việt Nam (1950 – 1952) ................... 101

2.1. Sau thắng lợi của Cách mạng Trung Quốc ............................................................. 102

2.2. Sau khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ.................................................................. 106

Tiết 3: Mỹ giúp Pháp kéo dài chiến tranh chống Việt Nam (1953 - giữa 1954) ............... 112

3.1. Mỹ và "Kế hoạch Navarre". .................................................................................... 120

3.2. Mỹ với Chiến cuộc Điện Biên Phủ. ........................................................................ 125

3.3. Mỹ phá hoại Hội nghị Genève 1954 về Đông Dƣơng. ........................................... 139

CHƢƠNG III: MIỀN NAM VIỆT NAM TRONG Ý ĐỒ BÀNH TRƢỚNG THẾ LỰC CỦA

MỸ (TỪ GIỮA 1954 ĐẾN GIỮA 1956) .............................................................................. 149

1. Mỹ thay ảnh hƣởng của Pháp bằng thế lực của Mỹ ....................................................... 150

1.1. Mỹ gạt Pháp ra khỏi Miền Nam Việt Nam. ............................................................ 150

1.1.1. Mỹ loại bỏ dần các "con cờ" của Pháp. ........................................................... 150

1.1.2. Mỹ loại Pháp ra khỏi Miền Nam Việt Nam. .................................................... 161

4

- Mỹ viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm: ......................................................... 161

- Mỹ buộc Pháp rút quân khỏi Miền Nam Việt Nam. ............................................ 162

1.2. Mỹ biến Miền Nam Việt Nam thành một khu vực ảnh hƣởng của Mỹ: ................. 164

1.2.1. Mỹ xây dựng chính quyền và quân đội thân Mỹ ở Miền Nam Việt Nam: ...... 164

1.2.2. Mỹ gia tăng số quân nhân Mỹ và đổ vũ khí vào Miền Nam Việt Nam. .......... 171

2. Mỹ núp dƣới bóng SEATO để can thiệp quân sự trực tiếp vào Việt Nam .................... 172

2.1. Mỹ âm mƣu quốc tế hóa sự can thiệp quân sự vào Việt Nam ................................ 172

2.2. Con đƣờng đi đến SEATO: ..................................................................................... 173

2.3. SEATO và Việt Nam. ............................................................................................. 177

3. Mỹ phá hoại Hiệp định Genève, nhen lại ngọn lửa chiến tranh ở Việt Nam. ................ 179

3.1. Mỹ phá hoại tổng tuyển cử để tái thống nhất Việt Nam ......................................... 180

3.2. Mỹ trả thù và phân biệt đối xử những ngƣời Việt Nam yêu nƣớc .......................... 183

CHƢƠNG KẾT LUẬN: CHỦ NGHĨA BÀNH TRƢỚNG : SỢI CHỈ XUYÊN SUỐT CHÍNH

SÁCH CỦA MỸ ĐỐI VỚI VIỆT NAM TỪ 1940 ĐẾN 1956.............................................. 186

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ ............................................................. 203

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 204

5

PHỤ LỤC............................................................................................................................... 228

1. MỘT SỐ TƢ LIỆU GỐC .............................................................................................. 229

2. MỘT SỐ HÌNH ẢNH .................................................................................................... 238

3. TIỂU LUẬN: ................................................................................................................. 242

6

DẪN LUẬN

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI - MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. CÁC NGUỒN TƢ LIỆU

5. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

7

1. Lý do chọn đề tài – mục đích nghiên cứu

1.1. Ngày 8-5-1963, lại kỳ họp lần thứ 6, khóa II của Quốc hội nƣớc Việt Nam dân

chủ cộng hòa, chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Việt Nam xa cách Hoa Kỳ hàng vạn dặm. Nhân

dân Việt Nam và nhân dân Hoa Kỳ không thù, oán gì nhau" [17,X,94].

Thế thì tại sao, trong nửa sau của thế kỷ XX, nhiều chính phủ liên tiếp của Mỹ đã tiến

hành một cuộc chiến tranh vô cùng khốc liệt, trên một quy mô lớn, trong một thời gian dài,

chống lại nhân dân Việt Nam?

Để trả lời thỏa đáng câu hỏi trên, không thể không tìm hiểu tiến trình dính líu của Mỹ

vào Việt Nam trƣớc 1954, vì - nhƣ V.I. Lê-nin đã chỉ ra -"liệu ngƣời ta có thể giải thích đƣợc

một cuộc chiến tranh mà lại không vạch ra những mối liên hệ gắn liền cuộc chiến tranh đó

với đƣờng lối chính trị trƣớc đây của một quốc gia nhất định, của một hệ thống quốc gia nhất

định, của những giai cấp nhất định hay chăng?". V.I. Lênin nhấn mạnh: "Đây chính là vấn đề

cơ bản mà ngƣời ta thƣờng hay quên và nếu không hiểu rõ vấn đề đó thì chín phần mƣời

những cuộc bàn cãi về chiến tranh đều biến thành những cuộc đấu khẩu vô vị, những cuộc

chửi bới lẫn nhau, và không hiểu gì về cuộc chiến tranh đó cả" [15, XXXII, 104].

1.2. Cuộc chiến tranh của Mỹ xâm lƣợc Việt Nam và cuộc kháng chiến của nhân dân

Việt Nam chống đế quốc Mỹ lừ 1954 đến 1975 đã đƣợc các nhà sử học Việt Nam và nƣớc

ngoài nghiên cứu rất kỹ. Một sử gia Mỹ, Slanley Karnow, viết: "Không có cuộc chiến tranh

nào trong lịch sử lại đƣợc nghiên cứu một cách tỉ mỉ nhƣ thế ngay trong lúc nó đang diễn ra"

[133, 146].

8

Song quan hệ giữa hai nƣớc trong thời kỳ trƣớc 1954 lại "ít đƣợc biết đến, ngay cả

đối với những nhà chuyên môn" nhƣ nhận xét của một sử gia Mỹ khác, Bernard B. Fall

[165, 118].

Trong tiến trình dính líu ngày càng sâu vào Việt Nam, những ngƣời cầm quyền ở Mỹ

đƣa ra những chính sách khác nhau, thậm chí trái ngƣợc nhau (khi thì ngăn cản Pháp trở lại

Việt Nam, khi thì giúp Pháp tái chiếm Việt Nam). Do đó, không thể nhận ra "mẫu số chung"

của các chính sách ấy nếu không thấy đƣợc ý đồ sâu xa và nhất quán của Washington.

1.3. Tìm hiểu lịch sử nƣớc Mỹ từ khi lập quốc đến nay, chúng tôi nhận thấy: Mỹ luôn

tìm cách bành trƣớng thế lực mọi mặt của mình ra mọi nơi trên thế giới.

Để che đậy những hành động xấu xa của mình, Mỹ đƣa ra các chiêu bài hoa mỹ nhƣ

"châu Mỹ của ngƣời châu Mỹ" (America for Americans), "cửa mở" (Open Door) để tạo

"cơ hội đồng đều" (equal opportunilies)... Riêng đối với Việt Nam, trong 16 năm (1940-

1956), Mỹ lần lƣợt đƣa ra các chiêu bài "trung lập hóa", "chống chủ nghĩa thực dân [Pháp]",

"bảo vệ thế giới tự do"…

Nắm vững bản chất đế quốc chủ nghĩa của Mỹ, chúng tôi tìm ra "sợi chỉ xuyên suốt"

các chính sách khác nhau của Mỹ đối với Việt Nam, không chỉ trong 16 năm nói trên mà

ngay cả hiện nay. Từ đó, chúng ta có thể rút ra những kết luận có ích cho việc xây dựng

chính sách ngoại giao đối với Mỹ trong hiện tại và trong tƣơng lai.

9

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu Việt Nam trong ý đồ bành trƣớng thế lực của Mỹ từ 1940 đến

1956, trải qua ba đời tổng thống Mỹ: Franklin D. Roosevelt, Harry S. Truman và Dwight D.

Eiscnhowcr.

Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là Việt Nam, mặc dù lúc đó quốc hiệu này đã bị

xóa trên bản đồ thế giới:

Giặc cướp hết non cao biển rộng,

Cướp cả tên nòi giống tổ tiên.

Lưỡi gươm cắt đất ngăn miền

Núi sông một khúc ruột liền chia ba(*)

Lúc đó, thế giới chỉ biết đến Đông Dƣơng thuộc Pháp bao gồm năm xứ: Bắc Kỳ,

Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và Cam-bốt.

Tuy nhiên, Việt Nam - bao gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ - chiếm hơn 44,5%

diện tích và hơn 83,5% dân số của toàn Đông Dƣơng, luôn là yếu tố quan trọng nhất và năng

động nhất. Do đó trong nhiều trƣờng hợp, nói đến Đông Dƣơng là nói đến Việt Nam, và

ngƣợc lại.

Năm 1940 đƣợc chọn làm thời điểm mở đầu luận án, vì từ năm đó, do nhiều yếu tố

khách quan và chủ quan, Mỹ bắt đầu quan tâm nhiều đến Việt Nam.

Trong cuộc họp báo trên tàu Quincy ngày 23-2-2945, tổng thống Roosevelt nói:

"Trong suốt hai năm nay, tôi ƣu tƣ khủng khiếp về vấn đề Đông Dƣơng" [102,562].

Có lẽ căn cứ vào lời tuyên bố đó mà Nguyễn Thành viết: "Tổng thống Mỹ Ph. Ru-dơ-

ven quan tâm đến Đông Dƣơng chậm nhất là từ tháng 3 năm 1943" [157, 15] và Phạm Xanh

cũng có ý kiến tƣơng lự: "Có lẽ là nƣớc Mỹ, với tƣ

(*) Tố Hữu – Ba mươi năm đời ta có Đảng.

10

cách là một quốc gia, quan tâm tới Đông Dƣơng là dƣới thời tổng thống F. Ru-dơ-ven. Bắt

đầu từ Hội nghị Cai-rô (Ai Cập) năm 1943, F. Ru-dơ-ven đã nghĩ đến nó" [158,27].

Chúng tôi nghĩ khác. Chúng tôi tin rằng Mỹ quan tâm đến Đông Dƣơng sớm hơn thế,

từ năm 1940, khi Đức quốc xã chiếm đóng nƣớc Pháp và quân phiệt Nhật tiến vào Việt Nam:

đây là thời cơ để Mỹ tính tới việc loại Pháp ra khỏi Việt Nam, thay thế ảnh hƣởng của Pháp

tại đó bằng thế lực của Mỹ.

Một số tác giả Mỹ cũng chọn năm 1940 làm thời điểm mở đầu công trình nghiên cứu

của họ, nhƣ Bernard B. Fall (tác giả luận văn U.s. Policies in Indochina 1940-1960), Edward

R. Drachman (tác giả cuốn U.S. Policy toward Vietnam 1940-1945), Gary R. Hess (tác giả

cuốn The United States' Emergence as a Southeast Asian Power 1940-1950) v.v... Drachman

viết: "Từ cuối năm 1940, Mỹ bắt đầu nhận thấy ý nghĩa chiến lƣợc quan trọng của Việt Nam"

[55, 62].

Luận án dừng lại ở năm 1956. Với việc những lính viễn chinh Pháp cuối cùng rời

khỏi Miền Nam Việt Nam, ảnh hƣởng của Pháp ở đó bị thay thế bằng ảnh hƣởng của Mỹ trên

mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, quân sự ... Đến đây, Mỹ đạt đƣợc ý đồ mà họ đã có từ 16 năm

trƣớc: "Vào cuối năm 1956, Miền Nam Việt Nam rời hẳn quỹ đạo của Pháp để bị buộc chặt

vào Mỹ" [135,183].

3. Phương pháp nghiên cứu

Trong chƣơng "Dẫn nhập phƣơng pháp luận" Introduction méthodologique) của cuốn

Les Communistes français et la guerre d'Indochine 1944-1954, tiến sĩ sử học Alain Ruscio

viết: "Viết lịch sử hiện đại (...) gặp một trở ngại nguy hiểm, đó là thành kiến chính trị

(passion politique). Sử học

11

hiện đại thƣờng bị chỉ trích ở chỗ nó dính líu vào đời sống chính trị đến mức cuối cùng nó

hoà lẫn với chính trị" [143,15].

Đặc biệt, đề tài nghiên cứu của luận án có liên quan đến một nƣớc từng giúp đỡ kẻ

thù của dân tộc ta, sau đó trực tiếp xâm lƣợc nƣớc ta, gây ra vô vàn tội ác dã man đối với

nhân dân ta, và hiện nay chƣa phải đã từ bỏ thái độ ngạo mạn, hiếu chiến. Điều đó dễ khiến

ngƣời viết luận án thiếu sự khách quan trong cách trình bày và nhận định các vấn đề.

Vì vậy, để tránh điều mà A. Ruscio gọi là "thành kiến chính trị", chúng tôi kết hợp

phƣơng pháp lịch sử với phƣơng pháp lô-gíc.

Chúng tôi cố gắng sƣu tầm những sự kiện có độ chính xác cao (có thời gian và không

gian cụ thể, liên quan đến những nhân vật và bối cảnh lịch sử nhất định), chọn ra những sự

kiện có ý nghĩa đối với đề tài nghiên cứu, cố gắng tái hiện quá khứ đúng nhƣ nó đã diễn ra, vì

- nhƣ V.I. Lê-nin đã nói -"những sự kiện chính xác, những sự kiện không thể chối cãi đƣợc...

là điều rất cần thiết, nếu muốn tìm hiểu một cách tƣờng tận, nghiêm túc một vấn đề phức tạp,

khó" [15, XXIII, 66].

Nhƣng chúng tôi không dừng lại ở từng sự kiện đơn lẻ, trong trạng thái tĩnh, mà tìm

hiểu những chuỗi sự kiện trong quá trình phát sinh và phát triển của nó, lý luận để tìm ra bản

chất của nó, từ đó rút ra những nhận định, những đánh giá. Việc đó "tự nó sẽ đến khi quá

trình nghiên cứu kết thúc, chứ không phải là ngay từ lúc đầu" [143, 16] nhƣ A. Ruscio đã nói.

Ở đây, phƣơng pháp lịch sử giữ vai trò chủ yếu, kết hợp chặt chẽ với phƣơng pháp

lôgic, mối quan hệ giữa sự kiện với lý luận đƣợc xử lý để hiểu đƣợc quá khứ một cách trung

thực và rút ra những bài học cần thiết cho hiện tại và tƣơng lai.

12

4. Các nguồn tư liệu

Các tác phẩm chính luận của V.I. Lê-nin, Hồ Chí Minh và các lãnh tụ cộng sản khác

về chủ nghĩa đế quốc nói chung và chủ nghĩa đế quốc Mỹ nói riêng giúp chúng tôi định

hƣớng quan điểm chính trị cho luận án.

Chúng tôi coi trọng việc khai thác các tƣ liệu gốc của Việt Nam và của Mỹ. Trong

chuyến đi nghiên cứu tại Mỹ trong năm 2001, chúng tôi đã đọc hàng nghìn đơn vị tƣ liệu gốc

ở thƣ viện Trƣờng Đại học công nghệ Texas (Texas Tech University), ở tủ sách Trung tâm

Việt Nam (The Vietnam Center) và ở kho lƣu trữ của Thƣ khố Việt Nam (The Vietnam

Archives) tại thành phố Lubbock, bang Texas.

Chúng tôi kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên cứu của các nhà sử học Việt

Nam, Mỹ, Pháp...

Hồi ký của các chính khách và tƣớng lĩnh Việt Nam, Mỹ, Pháp, Anh... cung cấp một

số thông tin mà chính sử không nhắc đến.

5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nhƣ đã trình bày ở phần đầu của Dẫn luận, trƣớc đây, quan hệ giữa hai nƣớc Việt -

Mỹ trƣớc năm 1954 "ít đƣợc biết đến, ngay cả đối với những nhà chuyên môn" (Bernard B.

Fall) [165, 118]. Cho mãi đến năm 1965, nhà sử học Mỹ Robert Scheer còn nhận xét: "Con

đƣờng dính líu chậm chạp, từng bƣớc và tăng lên một cách đều đặn [của Mỹ] ở Việt Nam

chƣa bao giờ đƣợc khảo sát một cách đầy đủ" [105, 1].

Bernard B. Fall có lẽ là ngƣời đầu tiên quan tâm đến thời kỳ trƣớc 1954. Ngay từ năm

1955, trên tạp chí "Chronique de Politique Étrangère" (XX số 3 tháng 7-1955), ông có

bài "Chính sách của Mỹ tại Việt Nam" (La politique américaine au Vietnam) dài 24 trang

(từ trang 299 đến trang 322). Chín năm

13

sau, tại Hội nghị quốc tế về lịch sử châu Á, tổ chức lại Trƣờng Đại học Hongkong (tháng 9-

1964), ông đọc bản tham luận "Chính sách của Mỹ ở Đông Dƣơng 1940-1960" (U.S. Policies

in Indochina 1940-1960) dài 31 trang (sau khi ông chết tại Việt Nam, bản tham luận nói trên

đƣợc in trong cuốn Last Reflections on a War xuất bản năm 1967 từ trang 118 đến trang

148).

Ngày 8-3-1965, hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ lên bãi biển Đà Nẵng,

mở đầu quá trình Mỹ đổ quân ồ ạtvà trực tiếp tham chiến ở Miền Nam Việt Nam. Hành động

đó của chính quyền Johnson khiến dƣ luận trên thế giới, đặc biệt tại Mỹ, ngày càng quan tâm

đến vấn đề Việt Nam.

Theo yêu cầu của Trung tâm nghiên cứu các định chế dân chủ (The Ceiiler for the

Study of Democvatic Institutions) thuộc Quỹ Cộng Hòa (The Fund for the Republic), Roberl

Schecr soạn bản báo cáo "Mỹ dính líu đến Việt Nam nhƣ thế nào" (How the Uniled States

Got Involved in Vietnam) dày 80 trang, trong đó ông dành khoảng 10 trang cho thời kỳ trƣớc

1954. Cùng năm ấy, Viclor Balor viết cuốn: "Bi kịch ngoại giao Việt Nam: Nguồn gốc việc

dính líu của Mỹ" (Vietnam Diplomalic Tragedy - The Origins of the Uniled Slalcs

Involvement). Năm 1970, Edward Drachman tìm hiểu "Chính sách của Mỹ đối với Việt Nam

từ 1940 đến 1945" (United States Policy toward Vielnant 1940-1945).

Từ 17-6-1967, bộ trƣởng Quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara chỉ thị lập một nhóm

gồm 36 nhà nghiên cứu để tìm hiểu "nhƣ thế nào và vì sao Mỹ đã dính líu sâu vào Việt

Nam". Sau một năm rƣỡi biên soạn, bộ lịch sử về tiến trình dính líu của Mỹ ở Việt Nam từ

Chiến tranh thế giới lần thứ II đến tháng 8-1968 gồm 47 lập, dày hơn 7000 trang (gồm hơn

4000 trang tƣ liệu gốc và 3000 trang phân tích) đƣợc viết xong và đƣợc bảo quản bí mật tuyệt

đối: chỉ in 15 bản để lƣu hành hạn chế trong giới cầm quyền cao cấp nhất. Thế nhƣng bộ

14

lịch sử tối mật ấy đã bị tiết lộ và đƣợc công bố trên tờ "The New York Times" từ chủ nhật 13-

6-1971 dƣới nhan đề "Lịch sử quá trình hình thành các quyết định của Mỹ về chính sách ở

Việt Nam" (History of U.S. Decision-Making Process on Vietnam Policy). Cũng trong năm

1971, bộ lịch sử ấy đƣợc in thành sách với nhan đề "Tài liệu Lầu Năm Góc" (The Pentagon

Papers) gồm 2 ấn bản khác nhau:

- ấn bản của báo The New York Times (gồm 1 tập, dày 702 trang)

- ấn bản của thƣợng nghị sĩ Gravel (gồm 4 tập, dày 2890 trang).

Cùng năm ấy, theo yêu cầu của Ủy ban quân vụ Hạ viện Mỹ, Bộ quốc phòng Mỹ soạn

cuốn "Quan hệ Mỹ - Việt Nam 1945-1967" (United States -Vietnam Relations 1945-1967)

gồm 12 tập. Thƣợng viện Mỹ cũng tổ chức nhiều buổi nghe báo cáo về nguyên nhân, nguồn

gốc của chiến tranh Việt Nam và những bài học rút ra từ sự kiện ấy (về sau in thành hai cuốn:

"Hearings on the Causes, Origins, and Lessons of the Vietnam War" và "The United States

and Vietnam 1944-1947".

Việc tiết lộ hàng nghìn tài liệu mật - mà lâu nay công chúng cũng nhƣ các nghị sĩ,

chính khách Mỹ... không hề hay biết - gây xôn xao dƣ luận Mỹ, đồng thời thôi thúc giới sử

học Mỹ tìm hiểu thời kỳ trƣớc 1954: Marvin Kalb và Elie Abel viết cuốn "Nguồn gốc của sự

dính líu - nƣớc Mỹ ở châu Á 1784-1971" (Roots of Involvement - The U.S. in Asia 1784-

1971) (1971), Gene J. Garfield bảo vệ luận án tiến sĩ "Căn nguyên của sự dính líu" (The

Genesis of Involvinent) tại Đại học Soulliern Illinois (1972), Russel Fifield viết cuốn "Ngƣời

Mỹ ở Đông Nam Á: Nguồn gốc của việc cam kết" (Americans in Southeast Asia: The Roots

of Commitment) (1973) v.v...

Hai năm sau khi quân viễn chinh Mỹ rút khỏi Miền Nam Việt Nam, chính quyền do

Mỹ dựng lên ở Sài Gòn đổ nhào: những thất bại liên tiếp đó là

15

những vết đen trong lịch sử 200 năm nƣớc Mỹ (1776-1975), khiến giới sử học càng đẩy

mạnh hơn nữa việc tìm hiểu nguồn gốc của sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam. Có thể kể một

số công trình tiêu biểu nhƣ:

- Nguồn gốc của việc cam kết: Chính sách của Mỹ đối với Việt Nam 1945-1950 (The

Roots of Commitment: U.S. Policy tovvard Vietnam 1945-1950), luận án tiến sĩ của Noel

Eggleston (1977)

- Nhiều lý do tại sao: Sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam (Many Reason Why: The

American Involvement in Vietnam) của Michael Charllon và Anthony Moncrieff (1978)

- Tại sao chúng ta ở Việt Nam (Why we were in Vetnam) của Norman

Podhoretz(1982)

- Con đƣờng đến Việt Nam: Nguồn gốc của việc Mỹ cam kết với Đông Nam Á (The

Path to Vietnam: Origins of the American Commitment to the Southeast Asia) của Andrew J.

Rotler (1987)

- Lý do tại sao: Cuộc tranh luận về những nguyên nhân Mỹ dính líu vào chiến tranh

Việt Nam (To Reason Why: The Debate about the Causes of U.S: Involvement in the Vielnam

War) của Jeffrey P. Kimball (1990)

v.v...

Năm 1984, theo yêu cầu của Ủy ban quan hệ với nƣớc ngoài của Thƣợng viện Mỹ,

Phòng nghiên cứu Quốc hội thuộc Thƣ viện của Quốc hội Mỹ nhờ tiến sĩ William C.

Gibbons soạn bộ sách "Chính phủ Mỹ và chiến tranh Việt Nam" (The U.S. Government and

the Vietnam War gồm 4 tập, tập I bàn về thời kỳ 1945-1961).

Một phần tƣ thế kỷ sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, Waltcr L. Hixson còn tiếp

tục tìm hiểu "những căn nguyên của chiến tranh Việt Nam".

16

trong The Roots of the Vietnam War. Điều đó cho thấy vấn đề Việt Nam vẫn còn là nỗi ám

ảnh chƣa phai mờ đối với giới nghiên cứu Mỹ.

Ở Việt Nam trƣớc 1975, có rất ít công trình nghiên cứu về quan hệ Việt - Mỹ trong

giai đoạn trƣớc 1954.

Ở Miền Bắc, bài "Quá trình xâm nhập của đế quốc Mỹ vào nƣớc ta từ giữa thế kỷ

XIX đến năm 1954" của tác giả Huỳnh Lứa (nay là phó giáo sƣ, chủ tịch Hội khoa học lịch

sử thành phố Hồ Chí Minh) trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử của Viện sử học Việt Nam số 46

(tháng 1-1963) có lẽ là bài đầu tiên đề cập đến thời kỳ trƣớc 1954.

Ở Miền Nam, Nguyễn Phƣơng (linh mục Công giáo, đƣợc đào tạo tại Mỹ) cho xuất

bản cuốn "Liên lạc giữa Mỹ và Việt Nam" (1957) với lập trƣờng thân Mỹ. Tám năm sau, tạp

chí Đối Diện xuất bản ở Sài Gòn đăng bài "Diễn tiến cuộc xây dựng và phát triển chính sách

thực dân mới của Mỹ tại Việt Nam (từ 1941 đến 1954)" của Võ Việt Quốc(1).

Sau khi Tài liệu Lầu Năm Góc đƣợc in thành sách ở Mỹ (1971), Thông tấn xã Việt

Nam (ở Hà Nội) và tạp chí Trình Bày (ở Sài Gòn) có tổ chức dịch một phần ra tiếng Việt.

Sau năm 1975, giới nghiên cứu quan tâm đến thời kỳ trƣớc 1954 nhiều hơn.

Trên các tạp chí Lịch sử quân sự, Nghiên cứu lịch sử xuất hiện các bài nhƣ "Quá trình

can thiệp của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lƣợc của thực dân Pháp ở Đông Dƣơng và

đối sách của Đảng ta" (của Nguyễn Thành), "Đông Dƣơng lọt vào mắt xanh của đế quốc Mỹ

từ bao giờ?" (của Phạm Xanh) ... Một số sách viết về thời kỳ này đƣợc xuất bản nhƣ "Quan

hệ Việt - Mỹ trong Cách mạng tháng Tám" (của Trần Hữu Đính - Lê Trung Dũng),

(1) Nguyên văn bằng tiếng Pháp, bản dịch của Linh Sơn và Hồng Việt.

17

"Pháp tái chiếm Đông Dương và chiến tranh lạnh" (của Lƣu Văn Lợi và Nguyễn Hồng

Thạch) v.v... Một số công trình nghiên cứu của các tác giả Mỹ đƣợc dịch ra tiếng Việt nhƣ

"Nước M ỹ và Đông Dương từ Ru-dơ-ven đến Ních-xơn" của Peter A. Poole (bản dịch của

Vũ Bích Hợp), "Cuộc chiến tra n h dài ngày nhất của nước Mỹ" của George C. Herring (bản

dịch của Lê Phƣơng Thúy) v.v...

Nhìn chung, sách báo, kể cả các bản dịch, viết về thời kỳ trƣớc 1954 ở Việt Nam

không nhiều và nhất là chƣa tái hiện quá khứ một cách có hệ thống.

Ngay cả sách giáo khoa dành cho sinh viên cao đẳng và đại học cũng đề cập đến thời

kỳ trƣớc 1954 một cách sơ sài. Chẳng hạn cuốn "Lịch sử Việt Nam 1945-1975"(*) hoàn loàn

không đề cập đến quan hệ Việt - Mỹ trong những năm 40 và viết về thời kỳ 1950-1954 trong

chƣa đầy một trang (trong tổng số 196 trang của cuốn sách). Mƣời năm sau, cuốn "Đại

cương lịch sử Việt Nam" tập III(**) (dày 273 trang) cũng chỉ dành cho thời kỳ trƣớc 1954 hơn

một trang.

Có lẽ vì chƣa có những công trình nghiên cứu thời kỳ trƣớc 1954 một cách chuyên

sâu và có hệ thống nên trên sách, báo xuất bản trong nƣớc, thỉnh thoảng còn một số chi tiết

chƣa đƣợc chính xác. Chẳng hạn:

"Tháng 2-1945, Roosevvelt [sic] công nhận lực lƣợng chống Nhật của Pháp ở Đông

(*) của Trần Thục Nga (chủ biên), Bạch Ngọc Anh, Trần Bá Độ và Nguyễn Xuân Minh, NXB Giáo Dục Hà Nội, 1987. (**) của Lê Mậu Hãn (chủ biên), Trần Bá Độ, Nguyễn Văn Thƣ, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1997, lập III: 1945 1995.

Dƣơng trong hàng ngũ Đồng minh và quyết định ủng hộ lực lƣợng đó.

18

Cuối tháng 3-1945, những máy bay của tƣớng Mỹ Chemeult [sic] đƣợc lệnh chở vũ khí tiếp

tế cho những nhóm kháng chiến của Pháp ở Đông Dƣơng"(*).

"Nhƣ vậy, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, Đông Dƣơng đã trở thành khu

vực tranh chấp giữa hai tập đoàn đế quốc, một bên là Mỹ - Tƣởng và bên kia là Anh-Pháp"(**)

"Để chặn chân thực dân Pháp thực hiện mƣu đồ trở lại Đông Dƣơng, một mặt đế quốc

Mỹ thông qua việc thực hiện chƣơng trình Tru-man và kế hoạch Mác-san ở Pháp để ức chế

tập đoàn tƣ bản phản động Pháp; mặt khác Mỹ thỏa thuận cho Anh và Trung Quốc chia nhau

giải giáp quân đội Nhật ở Đông Dƣơng"(***)

v.v...

6. Những đóng góp của luận án

6.1. Về mặt lý luận:

Nghiên cứu quá trình dính líu của Mỹ vào Việt Nam trong thời kỳ trƣớc 1954 có ý

nghĩa quan trọng đối với việc tìm hiểu bản chất cuộc chiến tranh xâm lƣợc Việt Nam mà Mỹ

tiến hành sau 1954 cũng nhƣ chính sách đối với Việt Nam mà Mỹ đang theo đuổi hiện nay.

Thế nhƣng, nhƣ đã trình bày ở trên, các công trình trong nƣớc viết về đề tài này còn

ít. Vào cuối thế kỷ XX, các lác giả cuốn "Quan hệ Việt - M ỹ trong Cách mạng tháng Tám"

(xuất bản năm 1997) còn viết: "Cho đến nay, một số ngƣời vẫn băn khoăn: Động lực nào đã

thúc đẩy Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt đề xƣớng việc loại bỏ chủ quyền của thực dân

(*) Đ.P., 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam, Viện nghiên cứu khoa học thị trƣờng - giá cả, Hà Nội, 1991 tr.21. (**) Nhiều tác giả, Cuộc chiến tranh xâm lƣợc thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, Hà Nội 1991 tr.10 (***) N.T., Quá trình can thiệp của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lƣợc của thực dân Pháp ở Đông Dƣơng và đối sách của Đảng ta, tạp chí Lịch sử quân sự, số 12-1986, tr. 16.

Pháp ở

19

Việt Nam và Đông Dƣơng sau chiến tranh? Và tại sao những ngƣời kế nhiệm Roosevelt lại

khƣớc từ những lời kêu gọi khẩn thiết" của Việt Nam? [8, 8]. Trong khi đó, sách báo của các

tác giả nƣớc ngoài tuy nhiều, song cách nhìn vấn đề của họ không phải lúc nào cũng phù hợp

với chúng ta.

Khi tổng thống Roosevelt lên án Pháp, chúng tôi không nghĩ nhƣ Stanley Karnow

"Ngƣời Mỹ từng đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân Anh nên tự nhiên họ không thích nô

dịch các dân tộc khác" [133, 13], nhƣ Nguyễn Phƣơng ở Miền Nam trƣớc 1975 "Từ khi trở

nên một cƣờng quốc, Mỹ vốn bênh vực những quốc gia nhƣợc tiểu ... Chính sách tổng quát

của Mỹ là phản đế quốc, phản thực dân" [23, 10-11], hay nhƣ các tác giả một cuốn sách mới

xuất bản năm 2002 ở Hà Nội "Phản đối chủ nghĩa thực dân... ủng hộ giải phóng dân lộc [là]

điều mà Mỹ theo đuổi trong suốt những năm chiến tranh thế giới [thứ II]" [16, 171]. Theo

chúng tôi, khi lớn tiếng đả kích Pháp, Mỹ chỉ nhằm loại Pháp ra khỏi Việt Nam để thay ảnh

hƣởng của Pháp ở đó bằng thế lực của Mỹ, thay chủ nghĩa thực dân kiểu cũ lộ liễu, lỗi thời

bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới tinh vi, giấu mặt. Nói một cách khác Mỹ hành động vì lợi

ích của Mỹ, chứ không phải vì lợi ích của Việt Nam. Việc Mỹ lên án Pháp chỉ là một chủ

trƣơng nhất thời, mang tính giai đoạn, chứ không phải là một hành động có tính thiện chí hay

lý tƣởng của Mỹ. Do đó, một khi tình hình thay đổi vào đầu năm 1945, Roosevelt nhanh

chóng điều chỉnh chủ trƣơng của mình, bắt đầu bằng việc cho Pháp tham gia vào việc ủy trị

quốc tế ở Đông Dƣơng, sau đó đồng ý chỉ đặt Đông Dƣơng dƣới chế độ ủy trị quốc tế nếu

Pháp tự nguyện làm điều đó (mặc dù Mỹ biết chắc là không bao giờ Pháp hành động nhƣ

vậy). Sau khi Roosevelt chết, Truman nhanh chóng thủ tiêu khẩu hiệu

20

"chống chủ nghĩa thực dân [Pháp]" của ngƣời tiền nhiệm mà hành động theo chiều hƣớng

ngƣợc lại.

Chúng tôi cũng không nghĩ rằng, trong những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ

II, Mỹ chủ trƣơng "không dính líu" (non-involvement) vào Việt Nam nhƣ Bernard Fall nói

[165, 118], "trung lập trong chiến tranh giữa Pháp với Việt Minh" (neutrality in the Franco -

Viet Minh war) nhƣ một tài liệu của Bộ quốc phòng Mỹ [113, A-28], "không can thiệp vào

cuộc chiến ở Đông Dƣơng... phản đối chủ nghĩa thực dân của Pháp... từ chối ủng hộ các nỗ

lực quân sự của Pháp" nhƣ cuốn sách mới xuất bản ở Hà Nội năm 2002 nói trên [16, 180].

Thật ra, từ trƣớc ngày Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, Mỹ đã lên tiếng công nhận

chủ quyền của Pháp ở Việt Nam. Sau đó, Mỹ tuyên bố không ngăn cản việc Pháp quay trở lại

Việt Nam và, trong thực tế, còn giúp phƣơng tiện cùng tiền bạc để Pháp tái chiếm lại thuộc

địa cũ này.

Chúng tôi cũng không đồng ý với ý kiến cho rằng "chiến tranh Đông Dƣơng [1945-

1954] càng ngày càng gột bỏ tính chất của một cuộc chiến để tái chiếm thuộc địa và trở thành

một cuộc chiến tranh chống cộng sản" [2, 375], do đó "Hoa Kỳ không thể khoanh tay để

nhân dân vùng Đông Nam Á [trong đó có Việt Nam] chịu áp bức dƣới chế độ độc tài cộng

sản, Hoa Kỳ có bổn phận phải giúp đỡ nhân dân vùng Đông Nam Á bảo tồn nền nếp cổ

truyền, bảo tồn thuần phong mỹ tục, bảo tồn phẩm cách, tự do của con ngƣời" [35, 445-446].

Chúng tôi cũng không nghĩ rằng, "sự ủng hộ của Mỹ [cho thực dân Pháp ở Việt Nam] là có

giới hạn để tránh mang tiếng là Mỹ trở thành ngƣời ủng hộ chủ nghĩa thực dân mà Mỹ từng

phê phán" [16,180] nhƣ cuốn sách xuất bản năm 2002 viết.

21

Thật ra, từ 1945 đến 1954, nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến anh

dũng chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ để bảo vệ độc lập và tự do mà Cách mạng tháng

Tám 1945 đã đem lại cho mình. Trong chín năm ấy, Mỹ đã ủng hộ và giúp đỡ Pháp - ban đầu

gián tiếp, về sau trực liếp - với mức độ ngày càng tăng(*), chứ không phải chỉ là "sự ủng hộ

có giới hạn". Khi hành động nhƣ vậy, Mỹ không sợ "mang tiếng là ngƣời ủng hộ chủ nghĩa

thực dân" mà công khai kêu gọi "thế giới tự do phải biết ơn ngƣời Pháp và những lực lƣợng

của Các quốc gia liên kết [Đông Dƣơng] về những hy sinh to lớn của họ cho chính nghĩa lự

do" [ ].

Trƣớc khi nhận định các sự kiện đã diễn ra liên quan đến hai nƣớc Việt Nam và Mỹ

trong thời kỳ 1940-1956, luận án dành hẳn một chƣơng để xác định bản chất của Mỹ: Mỹ là

một đế quốc, nhƣng lại là một đế quốc sinh sau đẻ muộn, ra đời vào lúc thế giới đã bị các đế

quốc khác - Pháp, Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha ... - chia nhau rồi. Là "đế quốc tƣơi trẻ hơn cả,

mạnh mẽ hơn cả, cuối cùng hơn cả" - nhƣ nhận xét của V.I. Lênin [ ] -, Mỹ luôn luôn tìm

cách bành trƣớng thế lực mọi mặt ra mọi nơi trên thế giới để chia lại thế giới đã bị chia rồi.

Mọi chủ trƣơng, chính sách của Mỹ đối với Việt Nam trong 16 năm nói trên không

nằm ngoài ý định đó. Luận án chứng minh rằng những khẩu hiệu mà Mỹ đƣa ra nhƣ "chống

chủ nghĩa thực dân [Pháp]" (thời Roosevelt), "bảo vệ thế giới tự do" (thời Truman,

Eisenhovver) chỉ là những chiêu bài giả dối nhằm che đậy ý đồ bành trƣớng đế quốc chủ

nghĩa của Mỹ mà thôi. Tin những khẩu hiệu ấy xuất phái từ "lý tƣởng" hay "thiện chí" của

Mỹ nhƣ một số tác giả nêu trên là cố tình biện hộ cho Mỹ hoặc vô tình bị những chiêu bài

của Mỹ huyễn hoặc.

án.

(*) Xem tiểu luận “Về viện trợ của Mỹ cho Pháp trong thời kỳ 1945 – 1954” ở phần Phụ lục cuối luận

22

6.2. Về mặt thực tiễn

Chúng ta đang thực hiện đƣờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phƣơng hóa

trong tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nƣớc cùng phấn đấu vì hòa bình, độc lập

và phát triển.

Chính sách ngoại giao của chúng ta đối với Mỹ không nằm ngoài đƣờng lối đó.

Tuy nhiên, ngày nào Mỹ còn là một đế quốc hiếu chiến, nuôi tham vọng bá chủ thế

giới, thì việc vạch trần bản chất của nó vẫn cần thiết.

Trong suy nghĩ đó, chúng tôi hy vọng luận án này có thể góp một phần nhỏ vào việc

hoạch định chính sách ngoại giao của chúng ta trong hiện tại và trong tƣơng lai, đẩy mạnh

quan hệ hợp tác mọi mặt với Mỹ trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và hai bên cùng có

lợi, tranh thủ những yếu tố tích cực để phục vụ công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa

đất nƣớc, đồng thời đề cao cảnh giác để giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ,

bảo vệ hòa bình, an ninh chính trị và ổn định xã hội, ngăn chặn mọi âm mƣu phá hoại, thực

hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu.

7. Cấu trúc của luận án

Ngoài phần dẫn luận, nội dung chính của luận án gồm chƣơng mở đầu, 3 chƣơng

chính và chƣơng kết luận.

Chương mở đầu: Xác định bản chất của Mỹ là một đế quốc sinh sau đẻ muộn luôn

tìm cách chia lại thế giới đã bị các đế quốc trƣớc đó phân chia; duyệt lại sự quan tâm của Mỹ

đối với Việt Nam trƣớc 1940.

Chương I (giữa 1940 - giữa 1945): Lợi dụng việc Đức chiếm đóng Pháp và Nhật tiến

vào Việt Nam, Mỹ định "chia lại" Việt Nam với Nhật nhƣng

23

không thành. Từ cuối 1941, chính phủ Roosevelt vừa đánh nhau với Nhật, vừa tìm cách ngăn

cản Pháp trở lại Việt Nam sau chiến tranh.

Chương II (1945-1954): Mỹ thay đổi chính sách, bỏ chủ trƣơng ngăn cản Pháp,

ngƣợc lại giúp đỡ ngày càng nhiều để Pháp chiếm lại Việt Nam.

Chƣơng này chia làm ba tiết:

Tiết 1 (giữa 1945 - cuôi 1949): Chính phủ Truman công nhận chủ quyền của Pháp ở

Việt Nam, giúp Pháp chiếm lại Việt Nam.

Tiết 2 (1950 - 1952) và Tiết 3 (1953- giữa 1954): Sau khi cách mạng Trung Quốc

thành công và chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, các chính phủ Truman và Eisenhower giúp

Pháp một cách trực tiếp hơn và trên quy mô ngày càng lớn hơn chống lại cuộc kháng chiến

của nhân dân Việt Nam.

Chương III (giữa 1954 - cuối 1956): Sau khi Pháp thua ở Điện Biên Phủ, ngồi vào

bàn Hội nghị Genève và ký Hiệp định đình chiến, Mỹ quyết định loại Pháp ra khỏi Việt Nam,

thay ảnh hƣởng của Pháp ở Miền Nam Việt Nam bằng thế lực của Mỹ.

Trong Chương kết luận, luận án chứng minh những khẩu hiệu "chống chủ nghĩa

thực dân [Pháp]", "bảo vệ thế giới tự do" của các đời tổng thống Mỹ Roosevelt, Truman và

Eisenhower chỉ là những chiêu bài giả dối, không có thực chất. Các chính sách sai lầm của

Mỹ đối với Việt Nam lừ 1940 đến 1956 để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng không chỉ

cho Việt Nam mà cả cho Mỹ nữa: đó là hai cuộc chiến tranh liên tiếp trong suốt 30 năm tàn

phá đất nƣớc Việt Nam, khiến cho hàng triệu ngƣời Việt Nam, Pháp, Mỹ thƣơng vong, làm

xáo trộn xã hội Mỹ...

Sau Chƣơng kết luận là Thư mục những sách mà tác giả luận án đã đọc (tại các thƣ

viện trong nƣớc cũng nhƣ tại Mỹ) và trích dẫn vào luận án.

24

Luận án kết thúc bằng phần Phụ lục gồm một số tƣ liệu gốc (của Việt Nam, của

Mỹ...), một số hình ảnh liên quan đến nội dung luận án và tiểu luận "Về viện trợ của Mỹ cho

Pháp trong thời kỳ 1945-1954".

25

CHƢƠNG MỞ ĐẦU: VIỆT NAM TRONG TẦM NGẮM CỦA MỸ

(TRƢỚC 1940)

1. CHỦ NGHĨA BÀNH TRƢỚNG: BẢN CHẤT CỦA MỸ

2. MỸ QUAN TÂM ĐẾN VIỆT NAM (TRƢỚC 1940)

26

1. Chủ nghĩa bành trướng: bản chất của Mỹ

Sau khi giành đƣợc độc lập, nƣớc Mỹ đi theo con đƣờng tƣ bản chủ nghĩa. Theo V.I.

Lê-nin, "chủ nghĩa tƣ bản không thể tồn tại và phát triển nếu [nó] không thƣờng xuyên mở

rộng phạm vi thống trị của nó [và] không khai phá những xứ sở mới" [].

Từ 13 bang đầu tiên (original thirteen states) rộng 322.690 dặm vuông nằm ở phía

đông bắc, ven bờ Đại Tây Dƣơng, Mỹ có thêm vùng đất phía đông sông Mississippi sau khi

chiến tranh giành độc lập thắng lợi (1783), diện tích đƣợc nới rộng tới 891.364 dặm vuông.

Không thoả mãn với thành tích bành trƣớng lãnh thổ đó, "trong suốt thế kỷ XIX, Mỹ đƣa mắt

nhìn sang phía tây, phía nam và phía bắc" []. Trong vòng 64 năm, từ 1803 đến 1867, bằng

nhiều biện pháp khác nhau, từ tung tiền ra mua lại Louisiana của Pháp, Florida của Tây Ban

Nha, Alaska của Nga... đến xua quân xâm chiếm đất đai của thổ dân Indian hoặc 3 lần tƣớc

đoạt gần 95 vạn dặm vuông của nƣớc Mexico (tức hơn một nửa diện tích của nƣớc láng

giềng phƣơng nam này), Mỹ đƣa tổng diện tích lên tới 3.612.299 dặm vuông, tăng hơn 11 lần

so với diện tích 13 bang đầu tiên, thực hiện đƣợc tham vọng "Đại Tây Dƣơng và Thái Bình

Dƣơng đều là biên giới tự nhiên (nalural boundaries) của nƣớc Mỹ" [].

Nhà nghiên cứu Jean-Pierre Fichou nhận xét: "Trong công cuộc chinh phục Miền

Tây, đã thấy lộ ra ý tƣởng đế quốc chủ nghĩa, vì cuộc chinh phục ấy thƣờng kết thúc bằng sự

sáp nhập - không để đất đai của các bộ tộc da dỏ - các lãnh thổ do các cƣờng quốc khác đang

kiểm soát hoặc chiếm đóng. Khi một nƣớc dùng vũ lực, thƣơng lƣợng hoặc tiền bạc để chiếm

đất đai thuộc một nƣớc khác thì rõ ràng nƣớc đó là nƣớc đế quốc chủ nghĩa []

Các chính phủ Mỹ không giới hạn tham vọng của mình trong việc bành trƣớng thế

lực ở Bắc Mỹ. "Chủ nghĩa tƣ bản trẻ tuổi và hung hăng đã thắng.

27

Song đối với nó, nhƣ vậy là ít, và nó tham lam chìa bàn tay của mình đến những nơi giàu có

trên khắp quả địa cầu" [].

Cũng nhƣ các đế quốc tƣ bản chủ nghĩa khác, nƣớc Mỹ tham gia vào cuộc chạy đua

tìm thị trƣờng tiêu thụ cho các hàng hoá của mình và các nguồn nguyên liệu cần thiết cho nền

công nghiệp trong nƣớc. Thƣợng nghị sĩ Mỹ Albert J. Beveridge giải thích: "Những nhà máy

của Mỹ làm ra nhiều hơn là nhân dân Mỹ có thể dùng tới. Đất đai của Mỹ sản xuất nhiều hơn

là nhân dân Mỹ có thể tiêu thụ. Định mệnh đã viết sẵn cho chúng ta chính sách của mình.

Mậu dịch của thế giới phải và sẽ là của chúng ta; chúng ta sẽ lập ra ở khắp nơi trên trái đất

những trạm buôn bán để làm những điểm phân phối các sản phẩm Mỹ. Chúng ta sẽ cho đội

tàu buôn của chúng ta đi đầy trên mặt đại dƣơng. Chúng ta sẽ xây dựng một hải quân theo

tầm cỡ sự lớn mạnh của chúng ta. Những thuộc địa lớn sẽ mọc lên xung quanh các trạm buôn

bán của chúng ta, chúng sẽ lự quản trị lấy, treo cờ của chúng ta và giao thƣơng với chúng

ta"[]

Họ muốn kiểm soát nơi nào trên thế giới thì gán cho vùng đó là "vùng có những lợi

ích sống còn" (zone of vital interests) đối với Mỹ, là nơi "đƣợc Thƣợng đế giao cho để hàng

triệu ngƣời chúng ta gia tăng hàng năm tự do phát triển" (allolled hy Providence for the free

development of our yearly multiplying millions) []. Họ cho hành động can thiệp của họ vào

mọi chuyện ở mọi nơi là "cái quyền của số phận hiển nhiên của chúng ta" (the right of our

manifest destiny) (chủ tịch Hạ nghị viện Mỹ Robert C. Winlhrop) []. Trong thông điệp gửi

Quốc hội ngày 6-12-1904, tổng thống Mỹ Thcodore Roosevelt tuyên bố: "Hoa Kỳ phải đảm

nhiệm chức năng là lực lƣợng cảnh sát quốc tế" (an international police power) [].

28

Mỹ là "đế quốc tƣơi trẻ hơn cả, mạnh mẽ hơn cả" nhƣng cũng là đế quốc "cuối cùng

hơn cả"[], đế quốc sinh sau đẻ muộn. Lúc Mỹ bắt đầu nhòm ngó thế giới bên ngoài thì hầu

hết các nƣớc ở châu Mỹ la-tinh, châu Á, châu Phi và châu Đại Dƣơng đã bị các đế quốc khác

xâm chiếm làm thuộc địa, nhƣợng địa hay xứ bảo hộ. Theo cách nói của V.I. Lê-nin, thế giới

đã bị phân chia một cách dứt khoát - "dứt khoát đây không phải hiểu theo ý nghĩa là không

thể có một sự phân chia lại; ngƣợc lại vẫn có thể có và cũng không thể tránh khỏi những sự

phân chia lại (...), nghĩa là việc chuyển từ tay "chủ" này sang tay "chủ" khác"[].

Mỹ bắt tay vào việc "chia lại thế giới đã bị chia" (redivision of the already divided

worldy. từ 24-4 đến 10-12-1898, Mỹ tiến hành chiến tranh với Tây Ban Nha, cƣớp từ tay đế

quốc Tây Âu già cỗi này các thuộc địa Philippines, Puerto Rico và Guam...

Tuy "từ thời Theodore Roosevelt, Hoa Kỳ thƣờng xuyên thò "cây gậy lớn" vẫn giấu

trong tay" [] nhƣng chiến tranh không phải là cách hay nhất để bành trƣớng thế lực. Mỹ

thƣờng dùng các biện pháp kinh tế - tài chính (chẳng hạn, Mỹ sử dụng đầu tƣ tƣ bản nhƣ một

"biện pháp để hất cẳng những kẻ thực dân của nƣớc khác, thay thế bằng ngƣời Mỹ: Knox

thuyết phục các ngân hàng Mỹ đầu tƣ vào Honduras để hất cẳng ngƣời Anh, điều luật sửa đổi

Platt cho phép ngân hàng National City đầu tƣ 50 triệu đô-la vào Cuba năm 1878 v.v..." [],

các biện pháp văn hoá (chẳng hạn, "sự xuất cảng ồ ạt, sự xâm nhập các đĩa nhạc, các phim

truyền hình nhiều tập và các loại thực phẩm, vừa mở rộng thị trƣờng cho hàng hoá Mỹ, vừa

xâm hại đến bản sắc" văn hoá của các nƣớc khác []. Đặc biệt, khi chủ nghĩa thực dân đang bị

dƣ luận tiến bộ lên án gay gắt và bị các dân tộc thuộc địa kiên quyết chống đối, Mỹ phải che

đậy

29

các ý đồ đế quốc của mình dƣới những chiêu bài chính trị - ngoại giao hoa mỹ.

Châu Mỹ La-tinh nằm cạnh nƣớc Mỹ. Dƣới con mắt họ, "không có nơi nào khác trên

thế giới lại có tầm quan trọng sống còn đối với nƣớc Mỹ lớn hơn là châu Mỹ La-tinh... Nếu

mất châu Mỹ La-tinh, chúng ta sẽ lâm vào thế cùng và sẽ chiến đấu một cách tuyệt vọng

để sống sót" []. Mỹ muốn biến châu Mỹ La-tinh làm "sân sau của Mỹ" (the bach yard of

the U.S.), "một khu vực dành riêng cho Mỹ" (a preserve o f the U.S.), xem bể Caribbcan

nhƣ cái "hồ của Mỹ" (the American lake). Để ngăn chặn ảnh hƣởng và thế lực của các đế

quốc châu Âu trên vùng đất rộng 21 triệu cây số vuông này, trong thông điệp "Tình trạng của

Liên bang" đọc trƣớc Quốc hội ngày 2-12-1823, tổng thông Mỹ James Monroe cảnh cáo:

"Chúng tôi xem bất cứ mƣu toan nào [của các nƣớc châu Âu] nhằm mở rộng hệ thống của họ

đến bất cứ phần đất nào của bán cầu này đều nguy hiểm cho hoà bình và an ninh của 3 chúng

tôi"[] và đƣa ra khẩu hiệu: "Châu Mỹ của ngƣời châu Mỹ" (Anierica for Americans).

Nhƣng sau đó tổng thống Mỹ Stephen G. Cleveland lại tuyên bố không úp mở: "Trong thực

tế, nƣớc Mỹ có chủ quyền đối với lục địa này". Cho nên khẩu hiệu của Monroe thực chất là

"Châu Mỹ của ngƣời Hoa Kỳ"! Nhân danh "học thuyết Monroe" (the Monroe doctrine),

Mỹ tự cho mình toàn quyền hành động ở châu Mỹ La-tinh "mỗi khi tƣ bản của Mỹ đầu tƣ ở

những nƣớc này bị de doạ" - theo lời ngoại trƣởng Mỹ Elihu Root tuyên bố năm 1908 [] -

nhƣ can thiệp vào nội bộ Chile (1891), Mexico (1913-1915 và 1916-1917), phái quân đến

chiếm đóng Cuba (từ 1898), Vùng kênh đào Panama (từ 1903), Nicaragua (1912-1925), Haiti

(1915-1934), Cộng hoà Dominicana (1916-1924) v.v...

Một tác giả Pháp, Claude Julien, nhận định: Với "học thuyết Monroc" (về sau đƣợc

bổ sung bởi "hệ luận Roosevelt" - the Roosevcll Corollary), "nƣớc

30

Mỹ tự gán cho mình những quyền và tự giao cho mình sứ mạng cho phép họ can thiệp tuỳ

thích trên toàn lục địa châu Mỹ" [].

Ngay cả khi lãnh thổ chƣa bành trƣớng đến bờ đông của Thái Bình Dƣơng, các nhà

lãnh đạo nƣớc Mỹ đã nhìn sang bờ tây của đại dƣơng này, ở đó có châu Á với đất rộng ngƣời

đông, một nguồn tài nguyên phong phú, một thị trƣờng tiêu thụ bao la. Thƣơng nghị sĩ Mỹ

Albert J. Beveridge không che dấu tham vọng muốn biến "Thái Bình Dƣơng làm đại dƣơng

của Mỹ". Brooks Adams phân tích: "Vị trí địa dƣ, sự giàu có và ý chí của chúng ta làm cho

chúng ta thích hợp một cách ƣu việt để bắt đầu phát triển vùng Á Đông và biến nó thành một

bộ phận của hệ thống kinh tế của chúng ta" [].

Do đó, ngay từ những năm đầu của nền cộng hoà, tàu Mỹ đã đƣợc gửi sang châu Á.

Do vấp phải chính sách bế quan tỏa cảng ở đây, Mỹ phải dùng lối "ngoại giao pháo hạm"

(the gunboat diplomacy) để buộc các triều đình châu Á mở cửa cho Mỹ vào.

Ngày 8-7-1853, chuẩn tƣớng hải quân Matthew C. Perry chỉ huy một hạm đội tiến

vào vịnh Yedo, đƣa thƣ của tổng thống Mỹ Franklin Pieree yêu cầu Nhật mở cửa. Tƣớng

quân Nhật (Shogun) hẹn đầu năm sau sẽ trả lời. Ngày 13-2-1854, Perry dẫn hạm đội trở lại.

Trƣớc sức mạnh quân sự của Mỹ, tƣớng quân Nhật đành phải khuất phục. Lần lƣợt Nhật phải

ký các hiệp định Kanagawa (31-3-1854), Yedo (7-1858)... Mỹ đƣợc đặt lãnh sự quán ở

Shimoda, đƣợc hƣởng trị ngoại pháp quyền và quy chế tối huệ quốc...

Ở Trung Hoa, tình hình diễn ra theo một hƣớng khác. Lợi dụng sự hèn yếu của triều

đình Mãn Thanh, các đế quốc tƣ bản Anh, Đức, Nga, Nhật, Nhật Pháp, Ý xâu xé Trung Hoa,

lập những "khu vực ảnh hƣởng" (spheres of influence), khiến Trung Hoa hầu nhƣ không còn

chủ quyền nữa.

31

Trƣớc nguy cơ bị loại khỏi thị trƣờng béo bở này, năm 1899 Mỹ gửi công hàm cho

sáu đế quốc nói trên đƣa ra "chính sách Cửa Mở" (the Open Door policy) với "nguyên tắc Cơ

hội đồng đều" (principle of Equal Opportunities), yêu cầu mở rộng cửa cho mọi nƣớc - trong

đó có Mỹ - đều đƣợc cơ hội ngang nhau vào buôn bán tại Trung Hoa.

Năm sau, Mỹ gửi 2.500 quân tham gia Liên quân tám nƣớc (gồm sáu nƣớc kể trên,

Mỹ và Áo - Hung) đánh chiếm thủ đô Bắc Kinh (14-8-1900), buộc triều đình Mãn Thanh

phải ký hiệp ƣớc Tân Sửu (7-9-1901) theo đó Mỹ đƣợc đặt sứ quán ở Bắc Kinh, đƣợc bồi

thƣờng chiến phí 25 triệu đô-la [75, 635].

2. Mỹ quan tâm đến Việt Nam (trước 1940)

2.1. Những chuyến đi thăm dò

Mỹ để ý đến Việt Nam khá sớm, chƣa đầy 20 năm sau khi chiến tranh giành độc lập

kết thúc với Hiệp ƣớc Versailles 3-9-1783, lúc lãnh thổ Mỹ chỉ rộng 891.364 dặm vuông (tức

chỉ bằng 1/4 diện tích hiện nay) với dân số khoảng 5.310.000 ngƣời (tức chỉ bằng 1/52 dân số

hiện nay).

Theo Robcrl Hopkins Miller, ngƣời Mỹ đầu tiên đặt chân lên Việt Nam là Briggs, chỉ

huy tàu "Frame", từ bang Salem thuộc Massachusetts đến (1802) []

Lúc ấy, Gia Long vừa lên ngôi hoàng đế ở Huế. Từng tiếp xúc với ngƣời phƣơng Tây,

hiểu rõ ý đồ thực dân của họ, Gia Long luôn cảnh giác, tìm cách ngăn chặn nạn ngoại xâm từ

xa. Do đó, Gia Long - cũng nhƣ các vua triều Nguyễn khác - chủ trƣơng không thiết lập quan

hệ ngoại giao chính thức và không ký kết hiệp ƣớc thƣơng mại với bất kỳ nƣớc phƣơng Tây

nào. Tuy nhiên, vì phải nhập khẩu một số mặt hàng cần thiết cho quốc phòng (vũ khí, thuốc

súng...) hay cho tiêu dùng xa xỉ của vua quan (tơ lụa, sành sứ, thuốc men...) cũng nhƣ phải

xuất khẩu những hàng hoá do triều đình độc quyền

32

kinh doanh, nên Gia Long cho mở cửa biển Đà Nẵng để tàu thuyền phƣơng Tây đến buôn

bán (năm 1818 cho mở thêm hai cửa biển Thuận An và Gia Định, nhƣng đến thời Minh

Mạng, hai cửa biển này bị đóng, vì Thuận An quá gần kinh đô, sợ ngƣời phƣơng Tây nhòm

ngó, còn Gia Định lại quá xa, triều đình khó kiểm soát).

Sau một thời gian neo đậu ở vịnh Turan (tức Đà Nẵng), Briggs đƣợc đƣa đến Huế,

đƣợc Gia Long tiếp kiến và đƣợc nhà vua cho phép buôn bán ở Việt Nam. Tuy nhiên với ý

thức "đề phòng từ lúc việc còn nhỏ", Gia Long từ chối mọi đề nghị của các nƣớc phƣơng Tây

muốn đặt cơ sở kinh doanh ở cảng Đà Nẵng, vì theo lời của ông, "bờ biển ấy rất quan yếu, lẽ

nào cho ngƣời nƣớc ngoài đến dùng". Cho nên đối với thƣơng nhân phƣơng Tây, ông chỉ

"ban cho ƣu hậu mà khiến về", "không cho ở lại" [].

Năm 1819 - tức 16 năm sau tàu Fame - hai tàu Marmion (do Oliver Blanchard làm

thuyền trƣởng) và tàu Franklin (do đại uý hải quân John While chỉ huy) cũng từ Salem (bang

Massachusetts) sang Việt Nam.

Rời Mỹ ngày 2-1-1819, tàu Franklin lần lƣợt cập bến Côn Đảo (4-6-1819), Cần Giờ

và Vũng Tàu. Đƣợc biết triều đình Việt Nam đóng ở Huế, John White cho tàu đi liếp ra miền

Trung (13-6-1819), bỏ neo trong vịnh Đà Nẵng - mà J. White ca ngợi là "một trong những

vịnh đẹp nhất thế giới; thuyền bè đậu trong cù lao Chàm hoặc đảo Đà Nẵng đƣợc che chở

hoàn toàn khỏi gió bão trong một hải cảng tuyệt vời" [].

Sau đó, J. While sang Philippines và gặp O. Blanchard ở đây. Trong thời gian đó, hai

tàu Mỹ khác - tàu Aurora của thuyền trƣởng Robert Gould và tàu Beverly của thuyền trƣởng

John Gardner - cũng sang Việt Nam.

Ngày 6-9-1819, hai tàu Franklin và Marmion quay trở lại Việt Nam.

33

Sau khi ngƣợc sông Lòng Tàu, ngày 7-10, J. White tới Sài Gòn và đƣợc viên tổng

trấn thành Gia Định tiếp. J. White ngỏ ý muốn thiết lập quan hệ ngoại thƣơng với Việt

Nam. Lời đề nghị này đƣợc chuyển về Huế để triều đình quyết định. Song lúc đó vua Gia

Long bệnh nặng (đến 3-2-1820 thì băng hà), triều đình đang bối rối nên đề nghị của J. White

không có dịp đƣợc xem xét đến. Ngày 3-2-1820, hai tàu Mỹ rời Vũng Tàu.

Trong hơn ba tháng ở Sài Gòn, J. White tìm hiểu những hoạt động kinh tế ở đây.

"Thành phố Sài Gòn đƣợc xây dựng trên một nhánh quan trọng của con sông lớn và

trên bờ của nhiều kênh rạch. Nó là trung tâm thƣơng mại của cái tỉnh phì nhiêu này (...) Các

cửa tiệm ở Sài Gòn có ê hề những gì mà ngƣời ta có thể tìm thấy trong các cửa tiệm ở Bến

Nghé. Nhiễu thô Trung Hoa và Bắc Kỳ, tơ lụa và xa-tanh, quạt Tàu, đồ sứ v.v... là những

hàng hoá thông thƣờng nhất. Đƣờng sá ngay thẳng, rộng rãi và tiện lợi. Dân chúng đông

đảo"

Điều mà J. White đặc biệt quan tâm là "giá sinh hoạt cực rẻ". Chẳng hạn, "trong khi ở

Java giá đƣờng là 8,5 đô-la một picul [62 kg 500] thì ở Sài Gòn chỉ có 7,2 đô-la". J. White

cẩn thận ghi chép giá cả một số mặt hàng, từ thịt heo, bò, gà, vịt... đến gạo, cam, chuối, dừa...

J. White cũng ghi nhận việc ngƣời nƣớc ngoài đến mua bán, làm ăn ở Việt Nam: trong số 18

vạn dân ở Sài Gòn, có tới 1 vạn ngƣời Hoa và "trong thời gian tôi ở Sài Gòn, có hai tàu Pháp

đến Đà Nẵng và Huế"... Cuối cùng, J. White mong thấy triều đình Việt Nam "sẽ bãi bỏ

những chủ trƣơng phiền hà kìm hãm nền thƣơng mại, mời các láng giềng và các nƣớc khác

tham gia vào việc phát triển xứ sở một cách tự do".

Về nƣớc, John While viết một cuốn hồi ký dày 372 trang nhan đề "History of a

Voyage to the China Sea" (Câu chuyện về một chuyến đi sang Biển Đông) do nhà xuất bản

Wells and Lilly ở Boston ấn hành năm 1823. Cuốn

34

H.l. History of a Voyage to the China Sea của John While (1823) là cuốn sách đầu tiên giới thiệu khá

đầy đủ Việt Nam với công chúng Mỹ.

sách đƣợc công chúng hoan nghênh nên năm sau, 1824, đƣợc tái bản ở London (Anh) dƣới

nhan đề "A Voyage to Cochinchina" (Một chuyến đi sang Việt Nam).

Cuốn sách khiến những ngƣời cầm quyền ở Mỹ - đặc biệt là Andrew Jackson, làm

tổng thống từ 1829 đến 1836 - quan tâm đến Việt Nam nhiều hơn.

2.2. Những phái bộ chính thức

Năm 1831, Andrew Jackson gửi một phái đoàn sang Việt Nam chính thức đề nghị

triều đình Huế cho Mỹ mở sứ quán do Shilluber làm lãnh sự. Biết rằng vua Minh Mạng đã

từng khƣớc từ lời xin lập cơ quan ngoại giao của hai chính phủ Pháp và Anh, Shilluber nhấn

mạnh với phía Việt Nam rằng đề nghị của Mỹ chỉ là "công việc mang tính chất hoà bình và

thuần túy thƣơng mại, khác hẳn nƣớc Pháp hay nƣớc Anh khi bị khƣớc từ thì sẵn sàng dùng

vũ lực để ép buộc" (theo thƣ của Eugène Chaigneau viết tại Paris ngày 20-6-1832 gửi Bộ

trƣởng Bộ ngoại giao Pháp - trích dẫn bởi Gcorgcs Taboulet, La geste française en

Indochine, NXB Adrien-Maisonneuve, Paris 1955, lập I, Ir. 319). Tuy tự tuyên truyền cho

mình và gièm pha hai nƣớc đối thủ (Anh và Pháp) song cuối cùng Shilluber cũng phải ra về

tay không.

Không ngã lòng, cuối năm sau (1832), tổng thống Andrew Jackson cử một phái đoàn

khác do Edmund Roberls (Đại Nam thực lục chính biên phiên âm là Nghĩa-đức-môn La-

bách) làm trƣởng đoàn, có đại uý George Thompson (Đức-giai Tâm-gia) trợ lý. Phái đoàn

Mỹ cho tàu Peacock bỏ neo ở Vũng Lấm (tỉnh Phú Yên), nhờ các quan đại phƣơng chuyển

lên vua Việt Nam một thƣ viết tay của tổng thống Mỹ xin thiết lập bang giao. Viện cớ thƣ

của phía Mỹ không hợp thể thức ngoại giao (không ghi tên và chức vụ ngƣời nhận), vua

Minh Mạng chỉ thị cho các quan không cần chuyển thƣ về Huế, phái viên ngoại

35

H.3: Thư đề ngày 31-1-1832 của Andrew Jackson gởi Vua Việt Nam

H.2. Andrew Jackson là tổng thống đầu tiên của Mỹ muốn thiết lập quan hệ chính thức giữa

Mỹ với Việt Nam, ba lần gửi các phái bộ sang Việt Nam (vào các năm 1831, 1832 và 1836).

H.4. Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 86, trang 1, ghi chép sự kiện phái bộ Mỹ đến Việt

Nam năm 1832.

Hình 5. Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 168, trang 3, ghi chép sự kiện phái bộ Mỹ đến

Việt Nam năm 1836

lang Nguyễn Tri Phƣơng và tƣ vụ Lý Văn Phức cùng tinh thần tỉnh Phú Yên đến trả lời với

phái đoàn Mỹ rằng triều đình không ngăn trở việc giao thƣơng với Mỹ, nhƣng phía Mỹ phải

tuân theo luật lệ sẵn có của Việt Nam, tàu buôn Mỹ phải đậu ở vịnh Trà Sơn (Đà Nẵng) và

ngƣời Mỹ không đƣợc lên bờ làm nhà [30,LXXXVI, 231].

Bốn năm sau, 1836, tổng thống Andrevv Jackson lại cử Edmund Robcrls cầm đầu

một phái đoàn, cùng chuẩn tƣớng hải quân E. P. Kennedy mang theo quốc thƣ đề nghị triều

đình Huế ký hiệp ƣớc. Ngày 14-5-1836, tàu cập bến Trà Sơn (Đà Nẵng). Vua Minh Mạng cử

thị lang bộ Hộ Đào Trí Phú và thị lang bộ Lại Lê Bá Tú đến gặp [30, CLXVIII, 109-110].

Nhƣng E. Roberls ngã bệnh, không tiếp đƣợc các đại diện của triều đình Việt Nam (đến 12-6

năm đó thì chết ở Macao, Trung Hoa). Do đó, việc thƣơng thuyết không thành. Tuy nhiên, E.

Roberts để lại một cuốn hồi ký nhan đề "Embassy to the Eastern Courts of Cochinchina,

Siam and Muscat" (Sứ bộ sang các triều đình phƣơng Đông ở Việt Nam, Xiêm và Muscat),

đƣợc xuất bản ở New York một năm sau khi tác giả qua đời.

Cuộc khủng hoảng kinh tế tại nƣớc Mỹ (từ 1837 đến 1843) làm gián đoạn sự quan

tâm của nhà cầm quyền Mỹ đối với Việt Nam.

Năm 1850, tổng thống thứ 13 của Mỹ, Millard Fillmore cử Ba-ly-chì(1) mang quốc

thƣ đến Đà Nẵng. Hậu quân đô thống Tôn Thất Bật, tổng đốc tỉnh Quảng Nam, xin chỉ thị

của triều đình. Vì trƣớc đó ba năm (tháng 4-1847) xảy ra vụ Lapicrre và Rigault de Genouilly

(Pháp) bắn chìm năm chiếc thuyền đồng của ta ở cảng Đà Nẵng nên vua Tự Đức ngày càng

(1) Tên đƣợc phiên âm trong Đại Nam thực lục chính biên, có lẽ là Balestier, nguyên lãnh sự Mỹ ở Singapore

ác cảm và nghi kỵ

36

đối với các nƣớc phƣơng Tây, nên ra lệnh không nhận quốc thƣ của Mỹ [30, XXVII, 215].

Sau nhiều lần cố gắng đặt mối quan hệ ngoại giao và ngoại thƣơng với vƣơng quốc

Việt Nam nhƣng đều thất bại, Mỹ quay sang những hƣớng khác ở châu Á: buộc triều đình

Trung Hoa ký hiệp ƣớc Vọng Hạ (7-1844), ép tƣớng quân Nhật Bản phải mở cửa cho tàu Mỹ

vào (các hiệp ƣớc 1854, 1858), ký hiệp ƣớc Mỹ-Xiêm (1856) với quốc vƣơng Rama IV…

2.3. Việt Nam vuột khỏi tay của Mỹ

Trong khi đó, Pháp ngày càng quyết tâm chiếm Việt Nam. Pháp liên minh với Tây

Ban Nha đánh Đà Nẵng (31-8-1858), chiếm Gia Định (17-2-1859). Lần lƣợt Nam Kỳ, Bắc

Kỳ và Trung Kỳ rơi vào tay Pháp. Việt Nam trở thành một nƣớc "có chủ" - theo cách nói của

V. L. Lê-nin [15, XXVII, 474].

"Ông chủ" Pháp dùng mọi biện pháp để bảo vệ độc quyền khai thác nguyên liệu và

mua bán với Việt Nam nói riêng và với Đông Dƣơng thuộc Pháp nói chung, đúng nhƣ nhận

định của Tài liệu Lầu Năm Góc: "Đông Dƣơng hầu nhƣ độc quyền là một khu vực kinh tế

dành riêng cho Pháp (a French economic preserve)" [98, I, 29]. Nhà sử học Mỹ George

McT. Kahin cho biết thêm: "Việc đầu tƣ tƣ bản và buôn bán của Mỹ hầu nhƣ bị loại hoàn

toàn khỏi nơi đó" [80, 30]. Do đó, tỉ trọng của Mỹ trong nền ngoại thƣơng của Đông Dƣơng

thuộc Pháp rất thấp: 2,6% trong thời kỳ 1925-1929, tụt xuống còn 2,3% trong những năm

1930-1934 [22, 18].

Để bảo vệ quyền lợi của các nhà sản xuất và doanh nghiệp Pháp, Pháp chỉ cho phép

Mỹ nhập vào Đông Dƣơng một số mặt hàng nhất định (nhƣ bông, máy móc, ô-tô...) "với số

lƣợng hạn chế" và "không cho Mỹ đặt đại lý" tại Đông Dƣơng [22, 18]. Một nhà nghiên cứu

Mỹ viết: "Các viên chức lãnh sự Mỹ chỉ ra rằng những yếu tố nhƣ thuế nhập khẩu và thuế

quá cảnh mang tính

37

phân biệt đối xử [của Pháp] nhằm làm các doanh nhân Mỹ nản lòng không muốn buôn bán ở

Đông Dƣơng" [110, 8]. Do đó trong việc mua bán giữa Mỹ với Đông Dƣơng, giá trị hàng hoá

xuất khẩu từ Đông Dƣơng sang Mỹ luôn gấp nhiều lần giá trị hàng hoá nhập khẩu từ Mỹ vào

Đông Dƣơng. Ví dụ: trong thời gian giữa hai thế chiến, Mỹ chiếm 8,4% tổng giá trị xuất

khẩu của Đông Dƣơng nhƣng chỉ chiếm 3,8% tổng giá trị nhập khẩu của Đông Dƣơng

[152,31].

So với Pháp, Mỹ chỉ chiếm một tỉ lệ không đáng kể trong tổng sản lƣợng nhập khẩu

của Việt Nam: năm 1939, con số của Mỹ là 4,2% so với 55,7% của Pháp (Tôn Thất Thiện,

Economic Development in Soulli Viet Nam 1954-1960, trích dẫn trong [130, 42]. Từ sau

Chiến tranh thế giới thứ II, mặc dù Mỹ viện trợ cho Pháp một cách hào phóng, vị trí của Mỹ

trong cán cân thƣơng mại ở Việt Nam vẫn còn khiêm nhƣờng: Năm 1953, tổng giá trị hàng

hoá của Mỹ nhập vào Việt Nam chỉ có 479 triệu đồng, chiếm 4,5% (so với Pháp là 8 tỉ 394

triệu đồng, chiếm đến 79%) [134, 224]. Một tác giả Mỹ, Ronald H. Spcclor, nhận định:

"Buôn bán của Mỹ với Đông Dƣơng không bao giờ là một khoản có ý nghĩa trong loàn bộ

xuất khẩu của Mỹ" [110, 7] . Thậm chí, có lúc, Đông Dƣơng "hầu nhƣ cắt đứt khỏi Mỹ về

mặt thƣơng mãi" nhƣ nhận xét của viên lãnh sự Mỹ ở Đông Dƣơng năm 1923 [110, 7].

Tình trạng "bất công" về mặt kinh tế đó chỉ chấm dứt khi Pháp không còn "làm chủ"

Việt Nam nữa. Điều đó xảy ra trong năm 1940. Đây là cơ hội để Mỹ lật ngƣợc thế cờ.

38

CHƢƠNG I: VIỆT NAM TRONG CHÍNH SÁCH CỦA MỸ THỜI

CHIẾN TRANH CHÂU Á - THÁI BÌNH DƢƠNG (TỪ GIỮA NĂM 1940

ĐẾN GIỮA NĂM 1945)

1. VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ MỸ - NHẬT

1.1. Mỹ mƣợn tay Nhật loại Pháp khỏi Việt Nam

1.2. Mỹ muốn "trung lập hoá" Việt Nam

1.3. Việt Nam là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến chiến tranh Mỹ - Nhật

3. VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ MỸ - PHÁP

2.1. Mỹ tìm cách loại Pháp khõi Việt Nam sau chiến tranh

2.2. Mỹ muốn đặt Việt Nam dƣới sự uỷ trị quốc tế

39

Cho đến cuối thế kỷ XIX, Mỹ bắc xong "cây cầu" xuyên Thái Bình Dƣơng gồm

khoảng 50 hòn đảo lớn nhỏ nằm rải rác trong đại dƣơng này với những "trạm" chính - lính từ

đông sang tây - nhƣ Hawaii, Midway, Wake, Guam và Philippines.

Sau khi Mỹ giành lấy thuộc địa Philippines từ tay thực dân Tây Ban Nha (1898),

thƣợng nghị sĩ Mỹ Albert Beveridge tuyên bố trƣớc Thƣợng viện Mỹ ngày 9-1-1900:

"Cƣờng quốc nào thống trị đƣợc Thái Bình Dƣơng sẽ thống trị đƣợc thế giới. Với Philippines

[trong tay], cƣờng quốc ấy là và mãi mãi sẽ là nƣớc Cộng hoà Mỹ [72, 1] Philippines vĩnh

viễn thuộc về chúng ta. Và Trung Hoa đang mở ra cho chúng ta. Chúng ta sẽ không bỏ rơi

những thị trƣờng ấy" [79, 85]. Chủ tịch Liên đoàn công dân toàn quốc Mark Hanna xem

Philippines là "một điểm chiến lƣợc" (a sirategic point) mà Mỹ sẽ dùng làm "chỗ đặt chân"

(afoothold) để tiến vào lục địa châu Á [116, 543].

Theo lời hạ nghị sĩ Nhật Kashiwabara Buntaro trình bày với nhà cầm quyền Nhật

ngày 29-4-1909, Mỹ "muốn đƣa tay với tới lục địa châu Á. Trƣớc đó, họ muốn dùng

Hongkong làm căn cứ để tiến hành ý muốn của mình, nhƣng trong khi thƣơng thuyết, họ

không đƣợc nƣớc Anh đồng ý và cuôi cùng họ không thể thực hiện mục đích của mình. Cho

nên, nhân cơ hội nƣớc Pháp có chia rẽ, Mỹ từ căn cứ ở Philippines trƣớc tiên sẽ tới Việt Nam

ngay để thực hiện tham vọng đã có từ trƣớc" [163, 41].

Nhƣng Mỹ đã chậm chân. Vào lúc đó, hầu hết các quốc gia châu Á đã bị các đế quốc

châu Âu chiếm làm thuộc địa, nhƣợng địa hay xứ bảo hộ. Cho đến 1931 đầu tƣ của Mỹ ở

Trung Hoa chỉ chiếm 6,1% tổng số đầu tƣ của các nƣớc ngoài ở Trung Hoa (so với 35,1%

của Nhật và 36,7% của Anh) tức chỉ chiếm 1% tất cả đầu tƣ của Mỹ ở nƣớc ngoài [29, 211].

40

1. Việt Nam trong quan hệ Mỹ - Nhật

1.1. Mỹ mượn tay Nhật loại Pháp khỏi Việt Nam

Sau hai cuộc chiến tranh với Trung Hoa (1894-1895) và Nga (1904-1905), Nhật Bản

trở thành một đế quốc. Mỹ muốn dùng Nhật nhƣ một "đối trọng" với các đế quốc châu Âu.

Sau Điều ƣớc giao thƣơng và hàng hải Mỹ-Nhật (ký năm 1894), năm 1908 ngoại trƣởng Mỹ

Elihu Root ký với ngƣời đồng nhiệm Nhật Bản Takahir một hiệp ƣớc, theo đó Mỹ công nhận

"những quyền lợi đặc biệt" (special interests) của Nhật Bản trong các vấn đề châu Á [82,

40], thực chất là công nhận việc Nhật Bản chiếm Đài Loan làm thuộc địa, chiếm Triều Tiên

làm nƣớc bảo hộ, chiếm Lữ Thuận và Đại Liên làm nhƣợng địa, làm chủ đƣờng xe lửa Nam

Mãn Châu v.v... Chín năm sau, trong một hiệp ƣớc khác ký giữa hai ngoại trƣởng Robert

Lansing (Mỹ) và Ishii (Nhật Bản), "Mỹ tiến thêm một bƣớc xa hơn khi công nhận những

"quyền lợi đặc biệt" của Nhật ở Trung Hoa" [82, 40].

Đƣợc thể, Nhật ngày càng hung hãn.

Năm 1931, Nhật chiếm Mãn Châu của Trung Hoa, lập chính quyền bù nhìn Mãn

Châu Quốc (Mandchoukouo).

Từ 7-7-1937, Nhật mở rộng chiến tranh xâm lƣợc Trung Hoa, chiếm nhiều thành phố

lớn (nhƣ Bắc Kinh, Thiên Tân, Thƣợng Hải, Nam Kinh, Hán Khẩu, Quảng Châu...), nhiều

vùng đồng bằng ven biển và những trục giao thông chính.

Mỹ không phản đối. Thậm chí khi máy bay Nhật bắn chìm tàu chiến Panay của Mỹ

trên sông Dƣơng Tử (12-1937), chỉ cần Nhật ngõ lời xin lỗi và bồi thƣờng thiệt hại thì Mỹ

sẵn sàng bỏ qua và "tiếp tục bán cho Nhật một lƣợng lớn sắt thép vụn, đồng, dầu, chì và máy

móc" [75, 783].

41

"Ngay từ 1937, Đông Dƣơng là một trong những mục tiêu chính của Tokyo [vì Đông

Dƣơng là] chìa khoá chiến lƣợc của toàn Đông Nam Á, xứ sản xuất lúa gạo và các nguyên

liệu" [132, 77].

Biết đƣợc ý đồ của Nhật, Pháp và Anh ba lần (vào các năm 1931, 1934 và 1937) mời

Mỹ tham gia vào "liên minh chống Nhật" [165, 118] để bảo vệ các thuộc địa của ba đế quốc

này ở Đông Nam Á, nhƣng Mỹ từ chối.

Lý do Mỹ không muốn giúp Pháp thoát khỏi nạn xâm lấn của Nhật đƣợc tƣớng Mỹ

Claire L. Chennault tiết lộ: "Chính phủ Mỹ mong muốn thấy Pháp bị loại khỏi Đông Dƣơng

để vấn đề tách họ ra khỏi thuộc địa này sau chiến tranh đƣợc dễ dàng hơn" [49, 342].

Tháng 3-1939, Nhật chiếm quần đảo Hoàng Sa của Đông Dƣơng thuộc Pháp. Pháp

họp với Anh (tháng 6-1939) và sau đó với Hà Lan để bàn cách phối hợp hành động chống

Nhật. Pháp mua của Mỹ 120 máy bay khu trục và các thiết bị phòng không. Nhƣng Mỹ chần

chừ trong việc giao những món hàng rất cần thiết cho việc phòng thủ Đông Dƣơng này và,

sau khi Nhật vào Đông Dƣơng, Mỹ từ chối giao hàng, mặc dù Pháp đã thanh toán tiền bạc

sòng phẳng cho Mỹ từ lâu [129, 20]. Trong khi đó, Mỹ vẫn tiếp tục bán cho Nhật những mặt

hàng chiến lƣợc. Năm 1938, Mỹ cung cấp cho Nhật 90% lƣợng kim loại và đồng vụn, 66%

lƣợng xăng dầu [116, 729]. Bƣớc sang "năm 1940, Mỹ vẫn tiếp tục giúp Nhật tăng cƣờng

tiềm lực kinh tế và quân sự. Gang, thép, xăng dầu, động cơ máy bay, ô-tô và các phụ tùng

thay thế của Mỹ vẫn tiếp tục đƣợc nhập vào Nhật với số lƣợng ngày càng nhiều" [27, 12].

Khi quân Đức quốc xã đang hùng hổ tiến về thủ đô Paris, "trong giờ phút nƣớc Pháp

gặp hoạn nạn, thủ tƣớng Paul Reynaud ngày 14-6-1940 kêu gọi Roosevelt gửi quân Mỹ sang

Châu Âu nhƣng Roosevelt đã từ chối" [40, 6]. Paris lọt vào tay quân Đức và sau đó Pháp ký

hiệp ƣớc đầu hàng Đức.

42

Lợi dụng tình hình đó, ngày 19-6, quân phiệt Nhật - đồng minh của Đức trong phe

Trục Berlin-Roma-Tokyo - gửi tối hậu thƣ đòi chính quyền Pháp ở Đông Dƣơng đóng cửa

biên giới Việt - Trung, ngƣng ngay việc chở vũ khí và xăng dầu cho chính phủ Trùng Khánh

trên tuyến đƣờng sắt Hải Phòng - Côn Minh, và - nghiêm trọng hơn - đòi đƣa một đoàn quân

sự Nhật vào Đông Dƣơng để kiểm tra những việc trên.

Nhận đƣợc tối hậu thƣ của Nhật, Pháp hết sức bối rối, chỉ biết cầu cứu Mỹ. Ngày 20-

6, thứ trƣởng Bộ ngoại giao Mỹ Sumner Welles trả lời đại sứ Pháp ở Washington: "Xem xét

tình hình chung, chính phủ Mỹ không nghĩ rằng Mỹ có thể xung đột với Nhật và rằng Mỹ sẽ

không phản đối nếu Nhật tấn công Đông Dƣơng" [165, 119]. Không đƣợc Mỹ giúp đỡ, toàn

quyền Đông Dƣơng, đại tƣớng Georges Calroux, đành phải làm theo yêu sách của Nhật.

Biết đƣợc phản ứng tiêu cực của Mỹ, Nhật càng lấn tới. Ngày 2-8, Nhật đòi Pháp để

cho quân Nhật tự do di chuyển qua Bắc Đông Dƣơng và có quyền sử dụng các sân bay ở Bắc

Đông Dƣơng.

Một lần nữa, Pháp lại cầu cứu Mỹ. Ngày 22-8, Sumner Welles trả lời không úp mở

với đại sứ Pháp ở Washington rằng Mỹ không thể giúp Pháp đƣợc, Mỹ "hiểu rõ những khó

khăn mà chính phủ Pháp đang phải đối đầu và nghĩ rằng trách cứ Pháp sẽ là không đúng nếu

Pháp dành cho Nhật một số tiện nghi quân sự [ở Đông Dƣơng]" [165, 121]. Vô kế khả thi,

ngày 30-8, chính phủ Vichy của thống chế Pétain đành phải ký với Nhật hiệp ƣớc công nhận

"vị thế ƣu việt" (preeminent position) của Nhật ở Đông Dƣơng, chấp thuận cho Nhật sử dụng

một số tiện nghi quá cảnh ở Bắc Đông Dƣơng.

Từ ngày 5-9, tƣớng Martin (Pháp) và tƣớng Issaku Nishihara (Nhật) bàn cách triển

khai hiệp ƣớc trên. Trong bụng vẫn còn tiếc rẻ, Marlin bí mật kêu gọi tƣ lệnh Hải quân Mỹ ở

Philippines mở một cuộc biểu dƣơng lực lƣợng

43

trong vịnh Bắc Kỳ hòng buộc Nhật giảm bớt các yêu sách. Martin tìm cách kéo dài cuộc đàm

phán với Nishihara với hy vọng Mỹ sẽ đáp ứng lời kêu gọi của Pháp. Thế nhƣng Mỹ từ chối

mở cuộc biểu dƣơng lực lƣợng, còn Nhật bực mình vì thấy Pháp cứ dây dƣa, cho quân từ

Quảng Đông và Quảng Tây ngày 22-9 tấn công các đồn biên phòng của Pháp ở Lạng Sơn và

Đồng Đăng, hai ngày sau lại cho máy bay ném bom xuống Hải Phòng. Chỉ trong mấy ngày,

800 lính Pháp bỏ mạng. Chính phủ Vichy phải chỉ thị cho đô đốc Jcan Dccoux (mới thay

Catroux làm toàn quyền Đông Dƣơng) chấp nhận Nhật có quyền sử dụng 3 sân bay ở Hà

Nội, Hải Phòng và Phủ Lạng Thƣơng, bố trí một lực lƣợng thƣờng trực gồm 6.000 quân ở

Bắc Kỳ và có thể chuyển quân (lên lới 25.000 ngƣời) qua Bắc Đông Dƣơng.

Biết Mỹ không muốn giúp Pháp, Nhật ngày càng leo thang trong các yêu sách của

mình. Trƣớc sức ép của Nhật, ngày 29-7-1941, đô đốc Francois Darlan - trợ lý trực tiếp của

Pétain - phải ký với Kato bản Hiệp ƣớc phòng thủ chung, đặt Đông Dƣơng trong hệ thống

quân sự của Nhật, chấp thuận Nhật đổ quân vào Nam Đông Dƣơng, sử dụng đƣờng bộ,

đƣờng sắt ở đó cùng các hải cảng Đà Nẵng, Cam Ranh, Sài Gòn và các sân bay Đà Nẵng,

Nha Trang, Kompong Cham, Seam Reap vào các mục tiêu quân sự.

Ngay từ ngày 30-7, lần lƣợt gần 50.000 quân Nhật tiến vào Nam Đông Dƣơng.

Do còn bận thành lập "Đại Đông Á cộng vinh khuyển" (Daitoa Kyoeiken, thƣờng

gọi là khu vực thịnh vƣợng chung Đại Đông Á), Nhật vẫn duy trì guồng máy hành chính -

quân sự của Pháp ở Đông Dƣơng để, một mặt, phụ trách việc trị an, đối phó với những cuộc

đấu tranh của dân bản xứ, và mặt khác, đáp ứng mọi nhu cầu cho hoạt động chiến tranh của

Nhật ở Đông Nam Á. Toàn quyền Đông Dƣơng Decoux thừa nhận Đông Dƣơng trở thành

"một

44

Mãn Châu Quốc mới" (un nouveau Mandchoukouo), còn nhà sử học Bernard B. Fall nhận

định: "Rõ ràng chủ quyền của Pháp ở Đông Dƣơng thành một trò hề" [165, 122].

1.2. Mỹ muốn trung lập hóa Việt Nam

Thấy "ngƣời chủ" cũ của Đông Dƣơng bị nạn, Mỹ tìm cách nói chuyện với "ngƣời

chủ" mới. Cuộc đàm phán Mỹ - Nhật diễn ra tại thủ đô Washington, D.C. để bàn một số vấn

đề mà hai bên quan tâm, "trong đó Đông Dƣơng là một trong những chủ đề chính" [25, 14].

Để tránh sự phản đối của các đế quốc Tây Âu (có thuộc địa tại châu Á), cuộc đàm phán diễn

ra trong vòng bí mật hoàn toàn.

Ngày 11-2-1941, đô đốc Kichisaburo Nomura, nguyên bộ trƣởng Bộ ngoại giao Nhật,

đƣợc cử sang Mỹ làm đại sứ, thực chất làm trƣởng phái đoàn Nhật thƣơng thuyết với phái

đoàn Mỹ do ngoại trƣởng Cordell Hull cầm đầu từ tháng 3-1941 trở đi.

Do hai bên theo đuổi những tham vọng trái ngƣợc nhau nên cuộc đàm phán dậm chân

tại chỗ. Tuy vậy phía Mỹ không nản chí, có lúc đích thân tổng thống Mỹ Franklin D.

Roosevelt gặp Nomura để trực tiếp thảo luận, hy vọng thuyết phục đƣợc Nhật. Trong cuộc

gặp gỡ ngày 24-7, Roosevelt đề nghị trung lập hoá Đông Dƣơng, bù lại Mỹ bảo đảm là Nhật

có "quyền có mọi nguồn cung cấp và nguyên liệu từ Đông Dƣơng trên cơ sở ngang bằng"

[108, 85]. Rõ ràng Mỹ muốn sử dụng lại "chính sách cửa mở" với nguyên tắc "cơ hội đồng

đều" mà Mỹ từng đề xƣớng ở Trung Hoa bốn thập niên trƣớc.

Tham vọng của Nhật - một nƣớc đông dân nhƣng nghèo tài nguyên thiên nhiên - là

độc chiếm các nƣớc Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á và cả Australia, New Zealand, lập ra

"Đại Đông Á cộng vinh khuyển" do Nhật Bản làm chủ để biến các nƣớc này vừa làm thị

trƣờng cho hàng hoá của Nhật, vừa

45

H.6. Franklin D. Roosevelt: "Trong hai năm trời nay, tôi ưu tư khủng khiếp về Đông Dương".

H.7. Roosevelt thảo luận với ngoai trưởng Cordell Hull.

cung cấp những nguyên liệu mà Nhật đang thiếu (từ lúa gạo, cao su, dầu khí... đến than đá,

quặng sắt, thiếc, bau-xit...). Đông Dƣơng chƣa phải là bƣớc cuối cùng trong kế hoạch "Nam

tiến" (Nanshin) nên Nhật không sẵn sàng san sẻ Đông Dƣơng cho Mỹ.

Để gây sức ép, ngày 26-7 Roosevelt "ra lệnh cho đóng băng (freezing) mọi tài sản của

Nhật tại Mỹ và cấm xuất khẩu dầu lửa sang Nhật" [165, 122]. Không những không nhƣợng

bộ, Nhật còn ép Pháp ký Hiệp ƣớc phòng thủ chung (29-7). Ngày 25-9, Roosevelt mở rộng

cấm vận đến mặt hàng sắt và thép vụn [75, 784].

Mỹ vừa đánh vừa xoa. Ngày 17-11, cả Roosevelt lẫn Hull gặp trực tiếp Nomura để

thuyết phục Nhật chấp nhận đề nghị trung lập hoá Đông Dƣơng, nhƣng thất bại. Không nản

chí, ngày 26-11, Hull trao cho Nomura một công hàm đề nghị triệu tập một hội nghị quốc tế

gồm Mỹ, Nhật, Anh, Hà Lan, Trung Hoa và Thái Lan nhằm "bảo đảm cho nền trung lập của

Đông Dƣơng", sáu nƣớc đƣợc quyền ngang nhau trong việc trao đổi mua bán hàng hoá với

Đông Dƣơng. Điều đáng nói là Mỹ hoàn toàn không đả động tới việc mời Pháp tham dự hội

nghị, mặc dù trên danh nghĩa Đông Dƣơng vẫn còn thuộc Pháp và chính phủ Washington còn

duy trì quan hệ ngoại giao trên cấp bậc đại sứ với chính phủ Vichy!

Nhận thấy mâu thuẫn về quyền lợi giữa Mỹ và Nhật ở khu vực châu Á -Thái Bình

Dƣơng quá sâu rộng và không thể điều hoà đƣợc, nên ngày 6-9, những ngƣời cầm đầu nƣớc

Nhật quyết định: nếu đến giữa tháng 10 mà không đạt đƣợc thỏa thuận với Mỹ trong vấn đề

Đông Dƣơng thì chiến tranh Nhật -Mỹ có thể nổ ra. Hội nghị ngự tiền (gozen kaigi - có Nhật

hoàng tham dự) ngày 1-12 quyết định sẽ khai chiến với Mỹ ngày 8-12 (tức ngày 7-12 theo

giờ Mỹ).

46

Để đánh lạc hƣớng phía Mỹ, Nhật không những không cắt đứt cuộc mật đàm với Mỹ

mà ngày 15-11 còn gửi thêm nhà ngoại giao Saburo Kurusu, nguyên đại sứ Nhật tại Berlin,

qua Mỹ để tăng cƣờng cho phái đoàn đàm phán Nhật

Ngày 3-12, Kurusu đề nghị với Bernard M. Baruch cho ông gặp riêng Roosevelt mà

không có mặt Hull (vì theo Kurusu, tổng thống Mỹ tỏ ra mềm mỏng trong quan hệ với Nhật

hơn ngoại trƣởng của ông ta) để Kurusu đƣa ra một số "đề nghị có thể chấp nhận đƣợc"

(acceptable proposals). Kurusu cũng gợi ý là Roosevelt nên gửi một thông điệp đến Nhật

hoàng Hirohilo.

Vẫn còn hy vọng Nhật có thể thay đổi lập trƣờng, ngày 6-12 Roosevelt gửi cho Nhật

hoàng một thông điệp đề nghị Nhật rút khỏi Đông Dƣơng, để cho Đông Dƣơng đƣợc trung

lập, hai nƣớc Mỹ và Nhật bảo đảm không xâm lƣợc lẫn nhau.

1.3. Việt Nam là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến chiến tranh Mỹ -

Nhật

Chủ nhật, 7-12, theo yêu cầu của phía Nhật, hai bên gặp nhau lúc 14g20. Nomura trao

cho Hull công hàm của chính phủ Nhật chính thức bác bỏ đề nghị "trung lập hoá Đông

Dƣơng" của Mỹ, tuyên bố chấm dứt cuộc mật đàm kéo dài 10 tháng trời mà không mang lại

kết quả nào.

Một tiếng đồng hồ trƣớc đó, máy bay Nhật cất cánh từ sáu hàng không mẫu hạm, ném

bom dữ dội xuống các tàu chiến và các sân bay của Mỹ ở cảng Trân Châu (Pcarl Harbor) trên

quần đảo Hawaii. Sau gần hai giờ bị tấn công, Mỹ có 2.334 ngƣời chết, 1.341 ngƣời bị

thƣơng, 19 tàu chiến chìm hay hƣ hỏng nặng, 250 máy bay bị phá hủy.

Chiến tranh Thái Bình Dƣơng mở màn. Có ý kiến cho rằng: "Nếu Đông Dƣơng

không phải là nguyên nhân độc nhất của cuộc Mỹ - Nhật xung đột

47

bằng vũ khí thì ít ra nó cũng là một trong các nguyên nhân chính" [24, 132]. Cho đến mùa hè

1942, Nhật chiếm trọn vùng Đông Nam Á và tây nam Thái Bình Dƣơng, bao gồm các thuộc

địa của Mỹ (các đảo Guam, Wake, Attu, Kiska, quần đảo Philippines), của Anh (Singapore,

Mã Lai, Miến Điện), của Hà Lan (Đông Ấn thuộc Hà Lan)...

Từ 22-1-1942, từ các sân bay ở miền nam Trung Hoa, các máy bay thuộc Lực lƣợng

không quân số 14 của Mỹ (từ 12-5-1942 có thêm máy bay của Trung Hoa) tiến hành các

cuộc ném bom xuống các cơ sở quân sự, các tuyến đƣờng giao thông chiến lƣợc của Nhật

trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Nhiều ngƣời Việt Nam chết và bị thƣơng.

Ngày 17-10-1944, Roosevelt ra lệnh cho Ban kế hoạch tham mƣu liên quân soạn thảo

một kế hoạch tấn công quân Nhật ở miền Bắc Việt Nam từ Philippines (lúc đó vẫn còn nằm

trong tay quân Nhật). Ban kế hoạch đã gửi cho Roosevelt một dự thảo kế hoạch ngày 21-10

và một kế hoạch hoàn chỉnh ngày 31-10 với lời khuyến cáo: "Cuộc tấn công miền Bắc Việt

Nam đƣợc dự kiến không chậm hơn đầu tháng 3-1945 nhằm tránh gió mùa" []. Tuy nhiên,

sau khi chiếm lại Manila (thủ đô của Philippines) ngày 25-2-1945, Mỹ thay đổi kế hoạch:

thay vì tấn công quân Nhật ở Việt Nam, ở Đài Loan..., Mỹ chủ trƣơng đánh thẳng vào lãnh

thổ Nhật để tiết kiệm xƣơng máu binh lính Mỹ và tiết kiệm thời gian. Mỹ bỏ kế hoạch tấn

công miền Bắc Việt Nam, vì "những cuộc hành quân ở Đông Dƣơng sẽ làm cho cuộc tấn

công vào chính nƣớc Nhật chậm ít nhất 6 tháng" []. Lần lƣợt, Mỹ chiếm đảo Iwo Jima (27-3-

1945), Okinawa (2-7-1945), đƣa chiến tranh đến sát đất Nhật ...

Ngày 12-6-1945, Mỹ ném bom dữ dội xuống Sài Gòn, khiến 222 ngƣời chết [], hai

máy bay B.24 của Mỹ bị súng phòng không của Nhật bắn hạ, 2 phi công Mỹ bị Nhật bắt [].

48

2. Việt Nam trong quan hệ Mỹ - Pháp

Giữa lúc khói lửa đang lan tràn khắp thế giới, Mỹ cùng một lúc phải đánh nhau với

Nhật ở châu Á - Thái Bình Dƣơng và đối đầu với Đức - Ý tại châu Âu, vấn đề Đông Dƣơng

luôn ám ảnh tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt nhƣ ông có lần tâm sự: "Trong suốt hai

năm qua, tôi ƣu tƣ khủng khiếp về Đông Dƣơng" (I have been terribly worried about

Indochina) [102, 562] đến độ một nhà sử học Mỹ nói "Roosevelt bị Đông Dƣơng thôi miên"

(the Roosevelt fascinalion wilh Indochina) [72, 214].

Roosevelt "ƣu tƣ khủng khiếp" vì ở Đông Dƣơng ông có những hai đối thủ - Nhật và

Pháp -, vì ông không chỉ lo tiến hành chiến tranh chống Nhật mà còn tìm cách loại Pháp khỏi

Đông Dƣơng sau khi Thế chiến kết thúc. Theo nhà sử học Mỹ Bradley, "ông nhắc đi nhắc lại

niềm tin của ông là Mỹ sẽ giữ vai trò trung tâm trong tƣơng lai của nƣớc Việt Nam hậu

chiến" [44, 102]. Ông chỉ thị cho đô đốc William D. Leahy, đại sứ của Mỹ ở Pháp, chuyển

đến thống chế Pétain và đô đốc Darlan - hai nhân vật đứng đầu chế độ Vichy -thông điệp của

ông về tƣơng lai của Đông Dƣơng: "Nếu Nhật thắng, Nhật sẽ tiếp quản Đông Dƣơng thuộc

Pháp, và nếu Đồng minh thắng, chúng tôi [tức Mỹ] sẽ tiếp quản" [89, 44]. Trên đƣờng đi

Casablanca (Maroc) để hội đàm với Winston Churchill tháng 1-1943, ông tâm sự với con trai

Elliott: Đông Dƣơng "đƣợc giải phóng phần lớn bởi vũ khí và quân đội Mỹ, sẽ không bao giờ

đƣợc giao lại cho Pháp" [141,296].

Để có cớ loại Pháp khỏi Đông Dƣơng sau chiến tranh, Roosevelt không ngớt tiếng lên

án chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dƣơng (xem trích dẫn trong "Chƣơng kết luận" ở cuối

Luận án).

49

Theo ngoại trƣởng Mỹ Cordell Hull kể lại, Roosevelt còn trách cứ Pháp "cho Nhật

đóng quân ở đó [tức Đông Dƣơng] mà không hỏi ý kiến của chúng ta [tức Mỹ] song lại cố

làm cho thế giới tƣờng rằng chúng ta [tức Mỹ] đã đồng ý" và điều đó giúp Nhật dùng Đông

Dƣơng "làm bàn đạp (spring board) để tấn công Philippines, Mã Lai và Đông Ấn thuộc Hà

Lan [tức Indonesia ngày nay]" [76, II, 1595]. Lời trách này có nhiều điều không chính xác:

Pháp có cầu cứu Mỹ nhƣng Mỹ không những không giúp Pháp lại còn khuyên Pháp chấp

nhận yêu sách Nhật và hứa "không trách Pháp nếu Pháp dành cho Nhật một số tiện nghi quân

sự " ở Đông Dƣơng; mặt khác Nhật không tấn công Philippines và Đông Ấn thuộc Hà Lan từ

Đông Dƣơng (chỉ có máy bay Nhật cất cánh từ Sài Gòn tham gia trận tấn công Mã Lai mà

thôi).

Trách đúng hay sai, điều đó không quan trọng, chẳng qua chỉ là cái cớ để Mỹ loại

Pháp khỏi Đông Dƣơng sau chiến tranh.

2.1. Mỹ tìm mọi cách loại Pháp khỏi Đông Dương

2.1.1. Trước hết, Mỹ ngăn cản Pháp có tiếng nói tại các diễn đàn quốc tế.

Mặc dù tƣớng De Gaulle ngay từ 18-6-1940 đã hô hào kháng chiến chống Đức - Ý,

thành lập Uỷ ban giải phóng dân tộc Pháp (Comité français de libération nationale, 3-6-1943

- chuyển thành Chính phủ lâm thời Pháp lừ 2-6-1944), nhƣng "nƣớc Pháp lự do" (La France

Libre, thành lập 18-6-1940 - đổi thành "nƣớc Pháp chiến đấu" (La France Combattante) từ

13-6-1942) không đƣợc mời tham dự các hội nghị quốc tế giữa các cƣờng quốc Mỹ - Anh -

Liên Xô (tại Mockva lừ 29-9 đến 1-10-1941, tại Mockva từ 19-10 đến 3-11-1943 [cấp ngoại

trƣởng], tại Teheran từ 28-11 đến 1-12-1943 [cấp nguyên thủ]) để bàn việc phối hợp hành

động chống phe Trục phát-xít. Pháp cũng không có

50

mặt trong số 26 quốc gia ký Tuyên bố Liên hiệp quốc ngày 1-1-1942 tại Washington, D.C.

cam kết tiếp tục các nỗ lực chiến tranh và không ký hoà ƣớc riêng rẽ với các nƣớc phe Trục.

Mà có tham gia chống phát-xít, Pháp mới có cớ để quay trở lại Đông Dƣơng sau chiến tranh!

Ngày 25-8-1944, Paris đƣợc giải phóng khỏi ách chiếm đóng của Đức quốc xã. Chính

phủ De Gaulle trở về Paris, cải tổ (9-9-1944) và đƣợc Mỹ công nhận (10-1944). Tuy vậy,

Pháp cũng không đƣợc mời tham dự các hội nghị thƣợng đỉnh ở Yalta (Liên Xô, từ 4 đến 11-

2-1945) với Mỹ, Anh, Liên Xô để bàn việc thiết lập một trật tự mới trên thế giới sau chiến

tranh, thực chất là phân chia quyền lợi giữa các cƣờng quốc với nhau. Do đó, mãi gần đến

ngày Nhật đầu hàng Đồng Minh, De Gaulle mới biết Hội nghị Polsdam đã quyết định loại

Pháp khỏi việc giải giới và hồi hƣơng quân Nhật ở Đông Dƣơng!

2.1.2. Mỹ ngăn cản Pháp tham chiến ở Đông Dương:

Biết Mỹ muốn gạt Pháp ra khỏi Đông Dƣơng, phe De Gaulle tìm mọi cách để tham

gia đánh Nhật ở đó đặng "vấy máu ăn phần". De Gaulle viết: "Biết đƣợc ác ý của các đồng

minh, nhất là Mỹ, đối với địa vị chúng ta ở Viễn Đông, tôi cho là cốt yếu rằng cuộc chiến ở

đó không đƣợc kết thúc mà chúng ta không trở thành những ngƣời tham chiến (...) Nếu

chúng ta tham chiến (...) thì máu của ngƣời Pháp đổ xuống mảnh đất Đông Dƣơng sẽ là một

danh nghĩa vĩ đại cho chúng ta. Vì vậy tôi muốn rằng quân đội của chúng ta chiến đấu [ở

Đông Dƣơng], mặc dù tình trạng của họ là vô vọng" [131, III, 195].

Tháng 9-1943, phe De Gaulle lập Đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông CEFEO(*)

(*) CEFEO: Corps expéditionnaire fraňcais d'Extrême-Orient

(từ 1-1-1944 đổi tên thành Lực lƣợng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông

51

FEFEO(**)) do tƣớng Roger C. Blaizot chỉ huy. Nhƣng phe De Gaulle "lực bất tòng tâm" nên

tháng 10-1943 đề nghị Tổng hành dinh Lực lƣợng Đồng minh AFHQ(***) trang bị cho

CEFEO. Lời đề nghị bị Mỹ khƣớc từ.

Cũng trong tháng 10-1943, trung tƣớng Pháp Émile-Marie Béthouart xin đại tƣớng

Mỹ George Marshall cho Pháp tham gia Hội đồng chiến tranh Thái Bình Dƣơng PWC(****),

nhƣng Mỹ từ chối.

Sau ngày Paris đƣợc giải phóng, chính phủ lâm thời do tƣớng De Gaulle đứng đầu

đẩy mạnh hơn nữa việc chuẩn bị tái chiếm Đông Dƣơng, vì "sự thu hồi ngay lãnh thổ đẹp đẽ

này có thể sẽ tạo ra một món tiền bổ sung đáng kể cho việc phục hƣng kinh tế của nƣớc

Pháp" [147, 49]. Chính phủ lâm thời thành lập Uỷ ban hành động giải phóng Đông Dƣơng

(Comité d'action pour la libération de l'Indochinc) do bộ trƣởng Bộ thuộc địa René Pleven

cầm đầu. Đến 21-2-1945, Uỷ ban này đƣợc nâng lên thành Uỷ ban liên bộ về Đông Dƣơng

(Comité interministériel pourn l'Indochine, viết tắt COMININDO) gồm đại diện các Bộ

thuộc địa, ngoại giao, quốc phòng, Bộ tổng tham mƣu quốc phòng, Tổng nha tình báo

DGER, do chính De Gaulle trực tiếp chỉ đạo.

Trƣớc đó, ngày 13-9-1944, FEFEO đƣợc củng cố, gồm 2 sƣ đoàn, vẫn do tƣớng

Blaizot chỉ huy. Nhƣng nƣớc Pháp vừa thoát khỏi ách chiếm đóng của Đức quốc xã, phải đối

phó với muôn vàn khó khăn về kinh tế, xã hội(*). FEFEO thiếu thốn mọi bề, từ súng ống đạn

dƣợc đến tàu bè chở sang Đông Dƣơng tham chiến. De Gaulle bay sang Washington xin

Roosevcelt giúp đỡ, nhƣng bị từ chối. Gặp Stalin ngày 8-2-1945 tại điện Livadia, Roosevelt

(**) FEFEO: Forces expéditionnaires fraňcaises d'Extrême-Orienl. (***) AFHQ: Allied Forces Headquater (****) PWC: Pacific War Council (*) Xem [131, III, 3, 117, 235, 403, 407, 424, 449, 451]

kể:

52

"Tƣớng De Gaulle xin tàu để chở lực lƣợng Pháp sang Đông Dƣơng (...) nhƣng cho đến nay

[tôi] không có thể tìm đâu ra tàu" [114, 770].

Không nhờ đƣợc Mỹ, De Gaulle quay sang nhờ Anh.

Theo lời Roosevelt nói với con trai Elliolt, giữa các thuộc địa của Anh, Pháp, Hà Lan

ở Nam Á và Đông Nam Á, "có mối quan hệ lệ thuộc lẫn nhau" (rapport d'interdépendance).

Nếu nƣớc này giành đƣợc độc lập thì các nƣớc khác có thể cũng sẽ đòi đƣợc nhƣ vậy". Cho

nên "Winnie [tức Winslon Churchill] là ngƣời bảo vệ nguyên trạng (statu quo)... Ngƣời Anh

muốn giữ các thuộc địa của họ [nên] họ cũng muốn giúp Pháp giữ các thuộc địa của Pháp".

Roosevelt gọi đó là sự trùng hợp quyền lợi" (coincidence d'intérêts) [141,96,97].

Đêm 4 rạng 5-7-1944, một máy bay Anh cất cánh từ Côn Minh (Vân Nam) chở thiếu

tá Pháp De Langlade nhảy dù xuống Đông Dƣơng, mang theo một lá thƣ viết tay của De

Gaulle gửi tƣớng Eugène Mordant (tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dƣơng từ 1940, nhƣng

đã ngả theo De Gaulle từ cuối 1943). Biết đƣợc chuyện ấy, Mỹ đã phản đối đô đốc Anh

Louis Mounbatten, tƣ lệnh Chiến trƣờng Đông Nam Á, vì mọi hoạt động của máy bay cất

cánh từ Trung Quốc phải đƣợc tƣớng Mỹ Claire L. Chennault chấp thuận trƣớc.

Ngày 12-9-1944, De Gaulle chỉ định tƣớng Mordant (đã xin nghỉ hƣu lừ 23-7-1944)

làm tổng đại diện của chính phủ Paris tại Đông Dƣơng, cầm đầu mạng lƣới kháng chiến bí

mật chống Nhật ở thuộc địa này. Ngày 16-10, Roosevelt chỉ thị ngoại trƣởng Cordell Hull:

"Chúng ta không đƣợc làm gì cho các nhóm kháng chiến [của Pháp ở Đông Dƣơng]" [ 1 11,

168].

Tháng 10-1944, thủ tƣớng Anh Winston Churchill đồng ý cho Pháp lập ở Kandy (trên

thuộc địa Ceylon của Anh) một phái bộ quân sự do tƣớng Blaizol, tƣ lệnh FEFEO, cầm đầu

[72, 123].

53

Một mặt, Roosevelt chỉ thị cho các cấp chỉ huy quân Mỹ ở châu Á không đƣợc tán

thành sự có mặt của phái bộ quân sự Pháp nói trên (3-11-1944); mặt khác, phản đối Anh

hành động mà không hỏi ý kiến của Mỹ. Mỹ lƣu ý Anh: phái bộ quân sự Pháp chỉ đƣợc hoạt

động trong phạm vi Chiến trƣờng Đông "Nam Á (The Southeast Asian Theater, do Louis

Mounballen làm tƣ lệnh) chứ không đƣợc hoạt động ở Đông Dƣơng, vì Đông Dƣơng nằm

trong Chiến trƣờng Trung Hoa (The China Theater, do Tƣởng Giới Thạch làm tƣ lệnh và một

tƣớng Mỹ làm tham mƣu trƣởng kiêm cố vấn quân sự cho Tƣởng) [44, 103].

Bị phản đối, Mounbatten chống chế: việc thành lập phái bộ quân sự Pháp đã đƣợc cả

Churehill lẫn Roosevelt đồng ý miệng với nhau. Ngày 24-11, Roosevelt trả lời: "Cần lƣu ý

các bạn Anh của chúng tôi rằng ông Churchill và tôi không hề chính thức thừa nhận phái bộ

quân sự Pháp tại Bộ tƣ lệnh Đông Nam Á" [72, 130].

Ngày 4-1-1945, đại sứ Anh tại Mỹ Halifax đề nghị với Roosevell sử dụng một số

quân Pháp vào việc phá hoại hệ thống giao thông của Nhật ở Đông Dƣơng, nhƣng Roosevelt

không đồng ý.

Một mặt, Roosevelt ngăn cản Pháp tham chiến ở Đông Dƣơng, mặt khác ông ra lệnh

cho Ban kế hoạch tham mƣu liên quân soạn thảo một kế hoạch tấn công quân Nhật ở Bắc

Việt Nam từ Philippines (17-10-1944, tức 4 tháng 1 tuần trƣớc khi Mỹ chiếm lại thủ đô

Manila của thuộc địa này). Ban kế hoạch đã gửi cho Roosevelt một dự thảo kế hoạch ngày

21-10 và một kế hoạch hoàn chỉnh ngày 31-10 với lời khuyến cáo: "Cuộc tấn công Bắc Việt

Nam đƣợc dự kiến không chậm hơn đầu tháng 3-1945 nhằm tránh gió mùa" [].

Về sau, Mỹ chủ trƣơng đánh thẳng vào lãnh thổ Nhật, nên bỏ kế hoạch tấn công Bắc

Việt Nam, vì "những cuộc hành quân ở Đông Dƣơng sẽ làm cho

54

cuộc tấn công vào chính nƣớc Nhật chậm ít nhất 6 tháng" []. Tuy vậy, Mỹ tiếp tục ngăn cản

Pháp tham chiến ở Đông Dƣơng.

Tháng 3-1945, Pháp xin Mỹ cho tƣớng Blaizot, tƣ lệnh FEFEO, sang làm việc lại

Trùng Khánh. Ngày 13-3, tƣớng Albert C. Wedemeyer, tƣ lệnh quân Mỹ ở Trung Hoa, trả lời

rằng "ông ta không nghĩ cần thiết cho ông ta có tƣớng Blaizot tại tổng hành dinh của ông ta"

[111, 259].

Đầu tháng 4-1945, Pháp cử thiếu tá Jean Sainteny sang Côn Minh (Vân Nam) cầm

đầu Phái bộ quân sự Pháp (mang mật danh M5) thuộc Tổng nha tình báo Pháp (DGER). Phía

Mỹ đòi "các đơn vị [của M5] phải đặt dƣới sự kiểm soát của Cơ quan tình báo chiến lƣợc Mỹ

OSS; mỗi đơn vị có một sĩ quan cao cấp Mỹ chỉ huy; chỉ dùng mật mã vô tuyến điện của

OSS; mỗi đơn vị chỉ hoạt động trong những sứ mệnh do OSS đỡ đầu nhằm chống lại các mục

tiêu của Nhật" [105, 109-110]. Lẽ dĩ nhiên là phía Pháp không chấp nhận những điều kiện

khe khắt đó.

Đƣợc sự đồng ý của Anh, ngày 13-5-1945 Pháp gửi Đội khinh binh can thiệp (Corps

léger d'intervenlion - sau đổi tên thành Trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 [5è RIC]) sang

Ceylon thuộc Anh. Bị Mỹ phản đối, Đội khinh binh can thiệp không đi tiếp đến Đông Dƣơng

để tham chiến đƣợc. Jean Sainteny viết trong hồi ký: "Đội khinh binh can thiệp của chúng ta

chỉ đƣợc sử dụng tới kể từ tháng 9-1945" [144, 49] nghĩa là sau khi Nhật đã đầu hàng, chiến

tranh đã kết thúc!

Ngày 18-5-1945, De Gaullc phái ngoại trƣởng Gcorges Bidaull sang Washinglon gặp

tổng thống mới của Mỹ Harry S. Truman. Truman thuật lại cuộc gặp gỡ ấy trong hồi ký:

"Viên ngoại trƣởng Pháp nêu vấn đề Pháp tham chiến chống Nhật" ở Đông Dƣơng và đề

nghị Mỹ "giúp chuyên chở quân Pháp sang Thái Bình Dƣơng". Truman trả lời: "Vấn đề

chuyên chở lệ thuộc

55

hoàn toàn vào việc bố trí chiến lƣợc các đạo quân dƣới quyền viên tƣớng tƣ lệnh của Mỹ

[Arthiur MacArthur] và vào khả năng của chúng tôi tìm đƣợc phƣơng tiện và nguồn dự trữ

cho việc chở quân". Truman còn đặt điều kiện: "Nếu quân Pháp đƣợc sử dụng, chúng tôi phải

đƣợc Pháp đồng ý trƣớc rằng họ phải đặt dƣới sự chỉ huy của chúng tôi", rằng họ "phải tuân

theo mệnh lệnh của viên tƣớng tƣ lệnh của chúng tôi". Truman kết luận: "Trừ phi Pháp đƣa

ra lời cam kết (...) và trừ phi quân Pháp đƣợc chỉ thị để tuân theo mệnh lệnh của viên tƣớng

mà họ phục vụ, chúng tôi có lẽ không thể cung cấp việc chuyên chở, trang bị, máy bay và

những vật tƣ khác để họ dùng" [112, I, 268-269].

Tuy điều kiện mà Truman đƣa ra quá nghiệt ngã, nhƣng nếu Pháp không tham chiến

ở Đông Dƣơng thì sẽ không có cơ hội trở lại thuộc địa này, nên ngày 26-5, Pháp đồng ý đặt

hai sƣ đoàn của mình dƣới sự chỉ huy của Bộ tƣ lệnh quân đội Mỹ ở Thái Bình Dƣơng. Để

Mỹ dễ đồng ý, ngoại trƣởng Pháp Bidault còn nói: "các sƣ đoàn ấy có thể đƣợc sử dụng ở bất

cứ nơi nào tại Viễn Đông", chứ không nhất thiết chỉ ở Đông Dƣơng" [105, 118].

Dù cho Pháp đã tự hạ mình đến thế, ngày 21-7, Ban tham mƣu trƣởng đồng minh

(Combined Chiefs of Staff) viện cớ Mỹ đang gặp khó khăn về tàu bè, đề nghị Pháp chờ thêm

vài tháng nữa Mỹ mới có thể chở các sƣ đoàn Pháp sang Viễn Đông

Nhƣng tình hình chiến trƣờng châu Á - Thái Bình Dƣơng trong tháng 8-1945 chuyển

biến nhanh chóng. Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima (6-8) và Nagasaki (9-

8). Trong hơn mƣời ngày (từ 9 đến 20-8), Hồng quân Liên Xô diệt và bắt sống hơn một triệu

quân tinh nhuệ Nhật trong đạo quân Quan Đông. Chính phủ Nhật chính thức xin đầu hàng

không điều kiện (14-8). Thế là Pháp không có cơ hội nào để "vấy máu ăn phần" ở Đông

Dƣơng!

56

De Gaulle nhận định: "Mặc dù chính phủ Pháp không ngừng chạy chọt, Washington

luôn đƣa ra nhiều cớ khác nhau để chống lại việc chuyên chở sang Viễn Đông đạo quân mà

chúng ta đã có sẵn ở châu Phi và Madagascar" [131, III, 195]. Jean Sainteny cũng viết:

"Trong khi ngƣời Anh chiến đấu ở Miến Điện; đối đầu với chiến trƣờng cực tây của bọn

bành trƣớng Nhật thì nƣớc Pháp lại vắng mặt. Nƣớc Pháp vắng mặt (hiểu theo nghĩa vật chất)

do đồng minh có ý đồ xấu hay do không thông hiểu, đã từ chối giúp chúng ta các phƣơng tiện

chuyên chở" [144, 48].

2.1.3. Mỹ không cứu Pháp khi bị Nhật đảo chính:

Ngăn ngừa Pháp ở Đông Dƣơng hoạt động phối hợp với Mỹ một khi Mỹ cho quân đổ

bộ lên bán đảo này, Nhật ra tay trƣớc, đảo chính Pháp trên toàn Đông Dƣơng trong đêm 9-3-

1945. Toàn bộ viên chức Pháp các cấp, dân sự lẫn quân sự, kể cả toàn quyền, thống đốc,

thông sứ, khâm sứ, tƣớng tá..., đều bị bắt giam. Một số ít lính Pháp trong thành Lạng Sơn

kháng cự một cách tuyệt vọng. Họ đánh điện kêu cứu: "Còn giữ ba phần tƣ thành. Không có

nƣớc. Xin yểm trợ bằng máy bay và thả dù đồ tiếp tế. Ngƣời Mỹ ở đâu?" [165, 131]. Lúc đó,

quân Mỹ đang có mặt ở tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), cách Lạng Sơn không xa, nhƣng đƣợc

lệnh từ Washington án binh bất động. Kết quả: toàn bộ lính Pháp ở thành Lạng Sơn bị Nhật

tàn sát.

Tƣớng Gabriel Sabattier trốn khỏi Hà Nội, chạy lên Lai Châu. Tƣớng Alessandri cùng

vài ngàn lính Pháp dóng ở Tông (Sơn Tây) cũng thoát lên đƣợc Lai Châu và Sơn La. Một

mặt, De Gaulle cử đại tá Passy và thiếu lá De Langlade bí mật tới Điện Biên Phủ để yêu cầu

hai tƣớng Sabattier và Alessandri ở lại Đông Dƣơng bằng mọi giá nhằm tổ chức cuộc kháng

chiến chống Nhật. Mặt khác, trong diễn văn trên đài phát thanh ngày 14-3-1945,

57

H.8. Hai tướng Mỹ trên đất Trung Hoa: tướng Alberl C. Wedemeyer (bên phải), cố vấn quân sự của

Tưởng Giới Thạch, và tướng Claire L. Chennault, tư lệnh Lực lượng không quân số 14.

ông chính thức kêu gọi Mỹ cung cấp súng đạn và đồ tiếp tế để giúp ngƣời Pháp ở Đông

Dƣơng đánh Nhật. Ông còn gặp đại sứ Mỹ lại Pháp Jefferson Caffery khẳng định ngƣời Pháp

ở Đông Dƣơng đang tiến hành "một cuộc chiến đấu thực sự" (a real fight) [105, 101] và đề

nghị Mỹ giúp. Ở Washington, đại sứ Pháp Henri Bonnet cũng nhấn mạnh điều tƣơng tự với

Cordell Hull, nhƣng ngoại trƣởng Mỹ đã trả lời một cách lạnh lùng: "Ở Đông Dƣơng chẳng

có quân kháng chiến nào cả" [105, l01].

Tƣớng Albert C. Wedemeyer lúc đó đang có mặt ở Washington, D.C. đến gặp

Roosevelt. Wedemeyer kể: "Ông ấy bảo tôi không đƣợc cung cấp bất cứ tiếp viện nào cho

các lực lƣợng Pháp hoạt động trong vùng [165, 132]. Tƣớng Claire L. Chennault, tƣ lệnh Lực

lƣợng không quân số 14 của Mỹ ở Trung Hoa, viết trong hồi ký: "Lệnh từ Tổng hành dinh

Chiến trƣờng [Trung Hoa] nói rằng không đƣợc cung cấp vũ khí đạn dƣợc cho quân Pháp

trong bất kỳ trƣờng hợp nào. Tôi đƣợc phép tiến hành hoạt động "bình thƣờng" chống lại

Nhật ở Đông Dƣơng miễn là hành động ấy không dính dáng tới việc tiếp tế cho quân Pháp.

Lệnh không đƣợc giúp đỡ ngƣời Pháp của tƣớng Wedemeyer đƣợc ban hành trực tiếp từ Bộ

chiến tranh [Mỹ]" [49, 342]. Tƣớng De Gaulle ghi nhận điều tƣơng tự trong hồi ký của mình:

"Ngay cả không quân Mỹ đóng tại Trung Hoa nằm trong tầm trực tiếp với binh đoàn của

Alessandri, cũng không giúp đỡ binh đoàn này. Tƣớng Sabattier (...) tiếp xúc với Bộ tƣ lệnh

Mỹ ở Trung Hoa, bị từ chối mọi yểm trợ [III, 195].

Không những không giúp đỡ, Mỹ còn chống lại việc Anh giúp đỡ dám tàn binh Pháp.

Giữa tháng 5-1945, đô đốc Anh Mounbatten, tƣ lệnh Chiến trƣờng Đông Nam Á, cho máy

bay thả đồ tiếp tế xuống cho lính Pháp ở Đông Dƣơng. Hay tin, ngày 25-5, tƣớng

Wedemeyer kịch liệt phản đối việc Mounbatten vi phạm ranh giới của Chiến trƣờng Trung

Hoa (vì Đông Dƣơng thuộc lãnh thổ

58

của Chiến trƣờng này) và báo cáo sự việc cho Hội đồng tham mƣu trƣởng liên quân Mỹ [105,

122].

Không đƣợc cứu giúp, Sabattier và Alessandri không còn cách nào khác là phải dẫn

đám tàn binh băng rừng lội suối, vƣợt 800 dặm đƣờng, chạy sang Trung Hoa. "Washington

ra lệnh nghiêm cấm việc yểm trợ bằng máy bay cho các toán quân Pháp đang rút lui về

hƣớng bắc trong một cố gắng tuyệt vọng chạy trốn quân Nhật" [87, 268]. Theo De Gaulle,

200 sĩ quan và 4000 binh sĩ đã bỏ mạng trên đƣờng tháo chạy, chỉ còn 320 sĩ quan và 5450

binh sĩ tới đƣợc Vân Nam.

De Gaulle đề nghị Mỹ vũ trang lại cho họ và giúp họ tham chiến dọc biên giới Việt-

Trung cũng nhƣ trên lãnh thổ Bắc Kỳ để chống lại kẻ thù chung là phát-xít Nhật. Nhƣng chấp

hành chỉ thị của Washington, tƣớng Wedemeyer ra lệnh tƣớc vũ khí của họ ngay khi họ vừa

đặt chân lên đất Trung Hoa, giam lỏng họ Vân Nam, đặt họ dƣới sự kiểm soát của Mỹ và

Trung Hoa. Wedemeyer còn giao cho họ nhiệm vụ đánh Nhật ở vùng đông bắc Trung Hoa

(càng xa Đông Dƣơng càng tốt!) nhƣng họ từ chối (viện lý do họ còn mệt mỏi sau chuyến

trốn chạy), vì vậy họ không đƣợc hoạt động gì cho đến khi chiến tranh kết thúc.

Tƣớng Mỹ Chennault nhận định: "Rõ ràng chính sách của Mỹ lúc đó là Đông Dƣơng

thuộc Pháp sẽ không đƣợc trao lại cho Pháp" [49, 342]. Nhà sử học Mỹ gốc Pháp, tiến sĩ

Bernard B. Fall, cũng có ý kiến tƣơng tự: Mỹ muốn "loại bỏ Pháp ra khỏi Đông Dƣơng bằng

mọi giá" [165, 133].

2.1.4. Mỹ ngăn cản Pháp trở lại Việt Nam sau chiến tranh:

Vào giai đoạn cuối của thế chiến, Mỹ tập trung lực lƣợng để đổ bộ lên lãnh thổ Nhật,

giành độc quyền chiếm đóng quần đảo này, do dó Mỹ không

59

những bỏ kế hoạch tấn công Bắc Việt Nam mà còn quyết định không tham gia vào việc tƣớc

vũ khí quân Nhật ở Đông Dƣơng. Tại hội nghị Potsdam (từ 17-7 đến 2-8-1945), công việc

này đƣợc giao cho Trung Hoa (đối với phần phía bắc vĩ tuyến 16°) và cho Anh (đối với phần

phía nam vĩ tuyến 16°). Pháp bị loại ra khỏi Đông Dƣơng sau chiến tranh.

Tuy vậy, hay tin Nhật đầu hàng (14-8-1945), Pháp vội tìm cách trở lại Đông Dƣơng

càng sớm càng tốt.

Trong hai ngày 16 và 17-8, De Gaulle bổ nhiệm tƣớng Leclerc làm tƣ lệnh tối cao các

lực lƣợng nên bộ ở Đông Dƣơng và đô đốc Georges Thierry d' Argenlieu làm cao uỷ Pháp ở

Đông Dƣơng kiêm tổng tƣ lệnh các lực lƣợng hải lục không quân Pháp ở Viễn Đông. FEFEO

đƣợc lệnh sẵn sàng lên đƣờng sang Đông Dƣơng.

Các sĩ quan Pháp ở Trung Quốc cũng nôn nóng trở lại Đông Dƣơng. Nhƣng trong

cảnh ăn nhờ ở đậu, việc di chuyển của họ tuy thuộc hoàn toàn vào quyết định của Mỹ và

Trung Hoa.

Thiếu tá Jean Sainteny, trƣởng Phái bộ quân sự Pháp (M5), xin đi Hà Nội, nhƣng

tổng hành dinh của tƣớng Wedemeyer không cho phép. Thiếu tá Mỹ Archimedes L. Patti giải

thích: "Hiệp định Potsdam không hề ghi nhận chủ quyền của Pháp đối với Việt Nam, do đó

ngƣời Pháp không còn quyền can thiệp vào những việc không còn quan hệ với họ nữa" [144,

124].

Một chiếc máy bay C.47 của Pháp từ Calcutta (Ấn Độ) đến. Saintcny định dùng máy

bay ấy đi Hà Nội. Biết đƣợc điều đó, tƣớng Wedemeyer ra lệnh: "mọi máy bay, không kể

nguồn gốc hay quốc tịch nào, đều không đƣợc cất cánh bay sang Đông Dƣơng thuộc Pháp

cho đến khi có lệnh mới" [105, 145]. Để đánh lừa Mỹ, Sainleny tuyên bố là bay đi Ấn Độ,

sau đó sẽ giả vờ bay lạc sang Việt Nam, khi đến bầu trời Hà Nội Sainteny và đồng đội sẽ

nhảy dù

60

xuống còn máy bay tiếp tục bay đi Ấn Độ. Đoán đƣợc mƣu mô của Sainteny, Mỹ - Trung

Hoa cho lính bao vây máy bay, cấm mọi ngƣời lại gần.

Sainteny tiếp tục vận động nên cuối cùng đƣợc phép đi nhờ trên một máy bay Dakota

của Mỹ cùng với phái đoàn của Patti sang Hà Nội ngày 22-8 với điều kiện Sainteny và 4

đồng đội của ông ta "đặt dƣới sự chỉ huy hoàn toàn của Mỹ" và "không đƣợc dùng cờ Pháp"

[105, 146].

Tƣớng Alessandri, đại tá Le Porz, Léon Pignon... xin đi nhờ máy bay sang Hà Nội,

nhƣng tƣớng Gallager (Mỹ) và tƣớng Wang (Trung Hoa) trả lời rằng "vấn đề Pháp trở lại

Đông Dƣơng đang đựơc thảo luận tại Hội nghị năm cƣờng quốc ở London và giữa Georges

Bidault với Tống Tử Văn(*) ở Paris, do đó họ không muốn chuốc lấy trách nhiệm trong việc

chở các đại biểu của Pháp tới Hà Nội" [144, 124]. Mãi đến 19-9, Alessandri và đồng đội của

ông mới đặt chân lên Hà Nội.

Trong báo cáo ngày 28-8 gửi lên cấp trên của mình, Sainleny viết: "Chúng ta đang

đứng trƣớc một thủ đoạn liên kết của các nƣớc đồng minh [ám chỉ Mỹ và Trung Hoa - PVH]

nhằm loại Pháp ra khỏi Đông Dƣơng" [144, 91].

2.2. Mỹ chủ trương đặt Việt Nam dưới sự ủy trị quốc tế

2.2.1. Uỷ trị quốc tế (trong thực tế, uỷ trị Mỹ - Trung Hoa).

Mỹ quyết tâm loại Pháp ra khỏi Đông Dƣơng sau chiến tranh, nhƣng liệu Mỹ sẽ để

cho các dân tộc Đông Dƣơng đƣợc hƣởng độc lập tự do? Hay Mỹ sẽ thay thế Pháp cai trị

Đông Dƣơng nhƣ nửa thế kỷ trƣớc Mỹ thay thế Tây Ban Nha cai trị Philippines? "Họ [ngƣời

Đông Dƣơng] sẽ không đƣợc cho độc lập ngay lập tức", Roosevelt đã khẳng định nhƣ vậy tại

(*) G. Bidault là ngoại trƣởng của Chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp, còn Tống Tử Văn là thủ tƣớng kiêm ngoại trƣởng của Chính phủ Trùng Khánh

Nhà Trắng ngày 21-7-

61

1943 trƣớc các thành viên Hội đồng chiến tranh Thái Bình Dƣơng. Lý do: ngƣời Đông

Dƣơng vào giữa thế kỷ XX giống ngƣời Philippines khi Mỹ giành lại quần đảo này từ tay

thực dân Tây Ban Nha: "Năm 1900, ngƣời Philippines không sẵn sàng để đƣợc hƣởng độc

lập và không thể xác định ngày nào họ mới sẵn sàng" [44, 76]. Một lần khác, ngày 23-2-

1945, trên đƣờng về nƣớc khi dự Hội nghị Yalta, ông nói với các nhà báo: "Tình hình ở đó [ở

Đông Dƣơng] rất giống [tình hình] ở Philippines năm 1898. Chúng tôi phải mất 50 năm để

dạy họ [ngƣời Philippines] tự quản trị họ" [44, 78].

Mặc dù Roosevelt muốn "Mỹ sẽ giữ vai trò trung tâm trong tƣơng lai của nƣớc Việt

Nam hậu chiến" [] và đô đốc Leahy đã nói thẳng với những ngƣời đứng đầu nƣớc Pháp: "nếu

Đồng minh thắng, chúng tôi [tức Mỹ] sẽ tiếp quản Đông Dƣơng" [89, 44], nhƣng chắc chắn

Mỹ sẽ gặp sự chống đối từ nhiều nƣớc, nhất là Pháp và Anh, nếu họ cai trị Đông Dƣơng nhƣ

họ đã cai trị Philippines. Do đó, Roosevelt chủ trƣơng đặt Đông Dƣơng sau chiến tranh dƣới

chế độ ủy trị quốc tế (international trusteeship) hay của Liên hiệp quốc. Ông giải thích ngày

16-12-1943 với các nhà ngoại giao Liên Xô, Anh, Trung Hoa, Iran, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ: "Vì

ngƣời Đông Dƣơng không đƣợc chuẩn bị để tự quản trị họ, nên xứ này sẽ phải đặt dƣới sự ủy

trị của Liên hiệp quốc để phát triển xứ ấy theo đƣờng lối ở Philippines" [72, 89]. Gặp nguyên

soái Stalin ở Hội nghị Teheran ngày 28-11-1943, Roosevelt trình bày: "[Chế độ ủy trị] có

nhiệm vụ chuẩn bị cho dân [Đông Dƣơng] hƣởng độc lập trong một quãng thời gian đƣợc ấn

định, có lẽ từ 20 đến 30 năm" [72, 81].

Theo nhà sử học Mark P. Bradley, Roosevelt có ý định chủ trƣơng đặt Đông Dƣơng

dƣới chế độ uý trị quốc tế từ đầu năm 1942, ít lâu sau khi cuộc mật đàm Mỹ - Nhật tan vỡ

[72, 74].

62

Sẽ có vài nƣớc tham gia chế độ uỷ trị ấy, song nƣớc giữ vai trò chủ chốt phải là Mỹ.

Nhƣng lúc đó Mỹ đang lo đối phó với diễn biến phức tạp của chiến tranh thế giới ở cả châu

Âu lẫn châu Á - Thái Bình Dƣơng nên Mỹ cần đến một đồng minh mà Mỹ có thể tin cậy nhất

để giữ vai trò thứ hai sau Mỹ: đó là Trung Hoa dân quốc của Tƣởng Giới Thạch. Vì vậy, nhà

sử học Pháp Philippe Devillers viết: "Uỷ trị quốc tế, trong thực tế là uỷ trị Mỹ - Trung Hoa"

(une tutelle internationale, en fait sino-américaine) [127, 116]. Nhà sử học Mỹ Walter

LaFeber nhận định: "Kế hoạch của Roosevelt về giải pháp uỷ trị cho Đông Dƣơng đặt cơ sở

trên việc Mỹ cho rằng Trung Hoa có thể thay Pháp làm một đại cƣờng quốc ở châu Á" [170,

116].

Trong những năm Thế chiến thứ hai, Mỹ tìm cách nâng Trung Hoa từ một nƣớc yếu

kém bị liệt cƣờng xâu xé và đang bị Nhật chiếm đóng một phần lãnh thổ, thành "một nƣớc

Trung Hoa hùng mạnh và thân Mỹ" [67, 46] sau khi chiến tranh kết thúc. Ngoại trƣởng Mỹ

Edward Stetlinius giải thích: "Chính sách của chúng tôi căn cứ trên niềm tin tƣởng rằng, dù

cho Trung Hoa nhất thời còn yếu và cách mạng cũng nhƣ nội chiến có thể xảy ra, 450 triệu

ngƣời Trung Hoa một ngày kia sẽ đoàn kết lại, đƣợc hiện đại hoá và trở thành yếu tố quan

trọng nhất ở Viễn Đông. Một ngày kia Trung Hoa sẽ đảm nhận vai trò lãnh đạo khu vực ấy,

khu vực mà Nhật toan chiếm lấy" [72, 125].

Để đề cao vai trò của Trung Hoa trên trƣờng quốc tế, Mỹ mời các viên chức cao cấp

của chính phủ Trùng Khánh dự các hội nghị quốc tế nhƣ Hội nghị Québec (Canada, tháng 8-

1943), Hội nghị Cairo (Ai Cập, 11-1943)... Tại hội nghị thƣợng đỉnh Teheran (Iran, 11-12-

1943), Roosevelt đề nghị Trung Hoa là một trong tứ cƣờng (Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Hoa)

có chân trong Cơ quan cảnh sát của Liên hiệp quốc và là một trong mƣời nƣớc có đại biểu

trong

63

H. 10. Tưởng Giới Thạch và tướng Mỹ Claire L. Chennault

H. 9. Tại hội nghị Cairo (Ai Cập) tháng 11-1943, Rooscvelt trao đổi với Tưởng Giới Thạch về vấn đề Việt Nam (hàng đầu từ trái sang phải: Tưởng Giới Thạch, Roosevelt, Churchill và Tống Mỹ Linh, vợ của Tưởng Giới Thạch).

Ban chấp hành của tổ chức quốc tế này (sẽ thành lập sau khi Thế chiến kết thúc), nhƣng

không đề cập đến vị trí của Pháp.

Trong những năm đầu thập niên 40, Mỹ viện trợ đô-la và súng đạn cho Trung Hoa

một cách dồi dào, cử phó tổng thống Henry A. Wallace sang tận Trùng Khánh gặp Tƣởng

Giới Thạch, cử các tƣớng Joseph W. Slilwell rồi Albert C. Wedemeyer sang làm cố vấn quân

sự kiêm tham mƣu trƣởng cho Tƣởng Giới Thạch.

Wallace đã thông báo cho Tƣởng Giới Thạch ý kiến của Roosevelt muốn "trao cả

Hongkong lẫn Đông Dƣơng lại cho Trung Hoa" [117, 97].

Tại Hội nghị Québec (8-1943), Roosevelt đƣa Đông Dƣơng vào phạm vi "Chiến

trƣờng Trung Hoa" (the China Theater) do Tƣởng Giới Thạch làm tƣ lệnh. Tháng 11 năm ấy,

tại Cairo, Roosevelt bàn bạc với Tƣởng Giới Thạch về việc đặt Đông Dƣơng dƣới sự uỷ trị

quốc tế. Tƣởng Giới Thạch tán thành ý kiến của Roosevelt vì chủ trƣơng đó phù hợp với

tham vọng bành trƣớng của Tƣởng Giới Thạch, ngƣời luôn xem Việt Nam vốn là một thuộc

quốc của thiên triều bị mất vào tay Pháp từ 1885. Philippe Devillers kể: một bản đồ treo tại

Trƣờng quân sự Thành Đô lúc đó vẽ Bắc Việt Nam nằm trong biên giới Trung Hoa và đánh

dấu thành phố Hà Nội bằng một lá cờ Trung Hoa [127, 116]. Trùng Khánh lên ngay kế hoạch

"Hoa quân nhập Việt", lập "Việt Nam chỉ đạo thất" (do trung tƣớng Tiêu Văn làm chủ

nhiệm) để chỉ đạo việc "thành lập ở Việt Nam một quốc gia "độc lập" nhƣng trong thực tế là

một nƣớc chƣ hầu của Trung Hoa" [127, 109].

2.2.2. Pháp, Anh phản đối chủ trương đặt Đông Dương dưới sự uỷ trị quốc tế.

Lẽ dĩ nhiên Pháp phản đối kịch liệt chủ trƣơng nói trên của Mỹ.

64

Tại hội nghị bàn về vấn đề thuộc địa tổ chức ở Brazzaville (Congo thuộc Pháp) từ 30-

1 đến 8-2-1944, uỷ viên thuộc địa René Pleven tuyên bố: "Trong khuôn khổ đế quốc Pháp,

không hề có vấn đề các dân tộc để giải phóng, cũng nhƣ không hề có vấn đề phân biệt chủng

tộc để thủ tiêu (...). Các dân tộc ở hải ngoại [tức nhân dân các thuộc địa của Pháp - PVH] đều

nên biết rằng không có vấn đề độc lập nào khác, mà chỉ có vấn đề độc lập của nƣớc Pháp mà

thôi". Hội nghị cũng nhấn mạnh: "Các mục đích của sự nghiệp thực dân mà nƣớc Pháp thực

hiện tại các thuộc địa đã loại bỏ ý định tự trị, mọi khả năng tiến hoá ngoài khuôn khổ đế quốc

Pháp. Cơ cấu một chính trị tự trị có thể có tại các thuộc địa, dù cho còn lâu mới đƣợc thực

hiện, phải bị loại trừ" [143,73-74].

Không chỉ Pháp, mà cả Anh cũng phản đối. Trong tuyên bố ngày 8-9-1944, Bộ ngoại

giao Anh khẳng định: "Mọi ý đồ can thiệp đến chủ quyền của Pháp ở Đông Dƣơng ... sẽ bị

Pháp kịch liệt bất bình và có những hậu quả khôn lƣờng không chỉ ở Viễn Đông mà còn ở

châu Âu nữa... Nó cũng sẽ đặt lại vấn đề tƣơng lai của các thuộc địa khác ở Viễn Đông bị

Nhật giày xéo" [, 110]. Một viên chức Bộ ngoại giao Anh, Geoffrey Hudson, còn nói thẳng

rằng "Kế hoạch uỷ trị không thể thực hiện đƣợc, nó sẽ dẫn đến việc Trung Hoa gây ảnh

hƣởng và cuối cùng thống trị [Đông Dƣơng]" [72, 78].

Trong thƣ gửi ngoại trƣởng Cordell Hull ngày 24-1-1944, Roosevelt giải thích phản

ứng của Anh: "Lý do duy nhất khiến họ [chính phủ Anh] dƣờng nhƣ phản đối nó [tức chủ

trƣơng uỷ trị quốc tế] là họ sợ tác động của nó đối với những thuộc địa của họ và của Hà Lan

[ở châu Á]" [98, I, 10]. Roosevelt cũng phân tích tƣơng tự với con trai Elliott: "Anh muốn

giữ lại các thuộc địa của họ. Vì vậy họ muốn giúp Pháp giữ lại các thuộc địa của nƣớc này.

Winnie [tên thân mật của Winston Churchill] là tay trùm bảo vệ nguyên trạng ... Vấn đề

65

Miến Điện gắn với vấn đề Ấn Độ, Đông Dƣơng thuộc Pháp, Indonesia. Có mối quan hệ lệ

thuộc lẫn nhau giữa các nƣớc này" [141, 97].

2.2.3. Mỹ điều chỉnh chủ trương uỷ trị quốc tế ở Đông Dương.

Sau khi đánh đuổi quân Đức quốc xã ra khỏi lãnh thổ Liên Xô, từ tháng 7-1944, Hồng

quân tiến về phía tây, phối hợp với lực lƣợng kháng chiến của Ba Lan, Ru-ma-ni, Bun-ga-ri,

Nam Tƣ, Tiệp Khắc, An-ba-ni, Hung-ga-ri giải phóng các quốc gia Đông Âu này khỏi ách

chiếm đóng của Đức, sau đó tiến thẳng về Berlin, hang ổ cuối cùng của tập đoàn Hitler. Ngày

1-5-1945, quốc kỳ Liên Xô tung bay trên nóc toà nhà Quốc hội Đức. Hitler tự sát, Đức quốc

xã đầu hàng không điều kiện.

Một văn kiện của Mỹ nhận định: "Chiến tranh đã phá vỡ sự cân bằng lực lƣợng ở

châu Âu, và Liên Xô trở thành đại cƣờng quốc duy nhất trên lục địa" [26, 215]. Khi kẻ thù

Quốc xã bị đánh quỵ, Mỹ xem Liên Xô là nguy cơ chính trƣớc mắt.

Các viên chức Vụ châu Âu Bộ ngoại giao Mỹ khuyến cáo: "Mỹ phải cổ vũ cho tình

đoàn kết của phƣơng Tây để làm cho châu Âu vững vàng, chống lại ảnh hƣởng của Liên Xô"

[].

Đầu năm 1945, Cơ quan tình báo Mỹ OSS (tiền thân của CIA) lập luận: "Quyền lợi

của Mỹ đòi hỏi phải duy trì các cƣờng quốc châu Âu ở châu Á; nếu không thì Liên Xô sẽ

bành trƣớng ảnh hƣởng của họ có hại cho phƣơng Tây" []. Ngày 2-4-1945, cơ quan này ra

một giác thƣ nhan đề "Những vấn đề và những mục tiêu của chính sách đối ngoại Mỹ" : "Lúc

này, chúng ta không có lợi lộc gì trong việc làm suy yếu hay thủ tiêu các đế quốc này [tức

Pháp, Anh, Hà Lan...] hay đấu tranh cho các kế hoạch uỷ trị quốc tế, các kế hoạch này có thể

gây ra sự xáo trộn và dẫn đến sự tan rã của các thuộc địa và đồng

66

thời có thể khiến các nƣớc châu Âu xa lánh chúng ta trong khi chúng ta cần sự giúp đỡ của

họ để làm cân bằng với sức mạnh của Liên Xô... Chúng ta phải tránh bất kỳ chính sách nào

có thể làm suy yếu vị thế của Anh, Pháp hay Hà Lan ở Nam Á hay tây nam Thái Bình Dƣơng

... Không có cƣờng quốc châu Âu nào có một vị thế mạnh ở Viễn Đông. Điều tối thiểu mà

chúng ta có thể làm là tránh mọi hành động làm cho họ yếu hơn nữa; quyền lợi của chúng ta

trong việc triển khai một sự cân bằng với Nga khiến chúng ta phải hành động theo chiều

ngƣợc lại" [].

Ngoài những khuyến cáo từ trong nội bộ, Roosevelt còn gặp những sức ép từ bên

ngoài.

Trong một lần gặp đại sứ Mỹ ở Pháp Jefferson Caffery tháng 3-1945, de Gaulle trách

Mỹ: "Nhƣ các anh biết rõ, Nga đang tiến nhanh... Chúng tôi không hiểu chính sách của các

anh. Các anh đang nhằm cái gì? Các anh có muốn chúng tôi trở thành, chẳng hạn, một trong

những bang liên hiệp dƣới sự bảo hộ của Nga?... Nếu công chúng ở đây [ở Pháp] hiểu đƣợc

rằng các anh đang chống lại chúng tôi ở Đông Dƣơng, họ sẽ thất vọng khủng khiếp và không

ai biết điều đó sẽ dẫn tới cái gì. Chúng tôi không muốn trở thành cộng sản; chúng tôi không

muốn rơi vào quỹ đạo của Nga, nhƣng tôi hy vọng các anh không đẩy chúng tôi vào chỗ đó"

[ 1 11, 259; 99, II, 7].

Trƣớc đó mấy tháng (cuối tháng 11 - đầu tháng 12-1944), de Gaulle đã sang Moxkva

và ký với Liên Xô Hiệp ƣớc liên minh và tƣơng trợ.

Về phía Anh, trong một văn kiện về chính sách đối ngoại, Bộ ngoại giao Anh cũng

cảnh báo: "Việc mất Đông Dƣơng sẽ tàn phá nền kinh tế cũng nhƣ tinh thần dân tộc của

Pháp, có thể dẫn họ đến chỗ liên kết với Nga để chống lại Mỹ và Anh [72, 143].

67

Trƣớc tình hình đó, Roosevelt buộc phải điều chỉnh chủ trƣơng uỷ trị quốc tế ở Đông Dƣơng

của ông ta.

Ngày 23-2-1945, nói chuyện với các nhà báo, Roosevelt cho thấy ông mở rộng thành

phần tham gia uỷ trị quốc tế ở Đông Dƣơng, không chỉ có Mỹ và Trung Hoa, mà còn có cả

Pháp, Philippines v.v...

Hai ngày sau khi nhận đƣợc báo cáo (đề ngày 13-3-1945) của đại sứ Mỹ tại Pháp gửi

ngoại trƣởng Mỹ (trong đó trích lời của de Gaulle nói với Caffery nhƣ đã dẫn ở trên),

Roosevelt nói với Charles Taussig, cố vấn của tổng thống: "Nếu chúng ta đƣợc chính nƣớc

Pháp cam kết tự mình gánh vác mọi nghĩa vụ của sự uỷ trị thì lúc đó tôi sẽ đồng ý để cho

Pháp giữ lại những thuộc địa này [tức Đông Dƣơng và Nouvelle Calédonie)" [111, 259].

Ngày 3-4, đƣợc sự đồng ý của Roosevelt, ngoại trƣởng Slettinius tuyên bố: "Cơ cấu

về sự uỷ trị... phải đƣợc xác định nhƣ thế nào để cho phép đặt dƣới sự uỷ trị những lãnh thổ

lấy từ kẻ thù trong cuộc chiến tranh này... và những lãnh thổ khác tự nguyện đặt dƣới chế độ

uỷ trị" [105, 119](*).

Chủ trƣơng mới của Mỹ đƣợc các đế quốc thực dân châu Âu nhiệt liệt tán thành. Cho

đến 9-3-1945, Đông Dƣơng là của Pháp và Pháp không bao giờ có ý định "tự nguyện đặt nó

dƣới chế độ uỷ trị". Do đó chủ trƣơng đặt Đông Dƣơng dƣới sự uỷ trị quốc tế đƣợc khai tử 9

ngày trƣớc khi ngƣời cha đẻ của nó - tổng thống Franklin D. Roosevelt - chết (lúc 15 giờ rƣỡi

chiều 12-4-1945).

Phó tổng thống Harry S. Truman lên thay, có lập trƣờng chống Liên Xô gay gắt hơn.

(*) Chủ trƣơng mới của Mỹ sau đó đƣợc đƣa vào điều 77 chƣơng XII của Hiến chƣơng Liên hiệp quốc, theo đó chế độ uỷ trị đƣợc áp dụng cho: những lãnh thổ đang đƣợc đặt dƣới chế độ uỷ trị; những lãnh thổ đƣợc tách ra khỏi những nƣớc thù địch do hậu quả của Thế chiến thứ II; những lãnh thổ do những nƣớc chịu trách nhiệm quản lý tự nguyện đƣa vào chế độ uỷ trị.

Vừa mới bƣớc chân vào Nhà Trắng, ngày 23-4, Truman đã tuyên

68

bố: "Tôi chủ trƣơng phải có sự cứng rắn trong chính sách cùa mình đối với nƣớc Nga" [26,

215]. Do đó, ông ta phải tỏ ra hoà hoãn với các nƣớc đế quốc Tây Âu nhằm tranh thủ sự ủng

hộ của họ đối với chính sách chống cộng sản của Mỹ.

Quan hệ giữa Mỹ với Pháp trở nên đầm ấm hơn trƣớc.

Gặp ngoại trƣởng Pháp Georges Bidault tại hội nghị Liên hiệp quốc ở San Francisco

(25-4 - 26-6-1945), ngoại trƣởng Mỹ Steltinius muốn chối bỏ chủ trƣơng của Mỹ đối với

Pháp dƣới thời Roosevelt nên tuyên bố một cách quả quyết rằng "Mỹ chƣa bao giờ đặt thành

vấn đề - kể cả có ngụ ý - về chủ quyền của Pháp đối với Đông Dƣơng" [].

Giữa tháng 5-1945, Bidault tới Washington, D.C., đƣợc Truman và Slettinius đón một

cách nồng nhiệt, trong khi đô đốc William D. Leahy (cố vấn quân sự của Truman) và đại

tƣớng George C. Marshall (tham mƣu trƣởng Lục quân Mỹ) niềm nở tiếp đại tƣớng Alphonse

Juin (tổng tham mƣu trƣởng Bộ quốc phòng Pháp).

Ngày 7-6-1945, Truman "quyết định tán thành việc Pháp quay trở lại Đông Dƣơng"

sau chiến tranh [ 1 11, 257].

Ngày 22-6, đƣợc sự chuẩn y của tổng thống, Bộ ngoại giao Mỹ chính thức ra tuyên

bố: "Mỹ công nhận chủ quyền của Pháp ở Đông Dƣơng" [].

Tuy nhiên, sợ phản ứng của các viên chức và tƣớng tá Mỹ ở Trung Hoa, Truman giữ

thái độ lập lờ, "cẩn thận tránh thừa nhận có thay đổi hay vẫn tiếp tục chính sách" [111, 273]

về Đông Dƣơng của ngƣời tiền nhiệm. Trong thƣ gửi đại sứ Mỹ tại Trung Hoa, thiếu tƣớng

Palrick J. Hurley, quyền ngoại trƣởng Joseph Grew viết: "Tổng thống yêu cầu tôi nói rằng

không có thay đổi căn bản nào trong chính sách" của Mỹ đối với Đông Dƣơng [ 1 1 1 , 273].

Vì vậy, các viên chức chính trị và quân sự của Mỹ ở Viễn Đông nhƣ

69

"Wedemeyer và Hurley vẫn tiếp tục nỗ lực thi hành chính sách của Roosevelt một thời gian

dài sau khi Washington đã bỏ rơi nó" [].

70

CHƢƠNG II: VIỆT NAM TRONG "CHIẾN TRANH UỶ NHIỆM"

CỦA MỸ (1945-1954)

1. MỸ GIÚP PHÁP TÁI CHIẾM VIỆT NAM

2. MỸ GIÚP PHÁP ĐẨY MẠNH CHIẾN TRANH CHỐNG VIỆT NAM

3. MỸ GIÚP PHÁP KÉO DÀI CHIẾN TRANH CHỐNG VIỆT NAM

71

Đúng 23 giờ đêm 14-8-1945 (giờ Tokyo), Chính phủ Nhật gửi đến các chính phủ

Liên Xô, Mỹ, Anh, Trung Hoa bản thông cáo xin đầu hàng không điều kiện.

Hơn nửa tháng sau, sáng 2-9, lễ ký kết văn bản đầu hàng đƣợc tổ chức trên thiết giáp

hạm Missouri của Mỹ thả neo trong vịnh Tokyo. Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc.

Trong khi hầu hết các nƣớc trên thế giới bị thiệt hại hết sức nặng nề về nhân mạng và

vật chất, thì nƣớc Mỹ - nằm giữa hai đại dƣơng - lại tƣơng đối an toàn: "Mảnh đất Hoa Kỳ

không hề bị cuộc chiến đụng đến" [6, 7], "không có lấy một quả bom rơi trên đất Mỹ. Không

một viên đại bác nào bắn vào các thành phố của Mỹ" [ 1 1 , III, 381]. Mỹ có 407.316 ngƣời

chết (...), chỉ bằng 0,8% trong tổng số 50 triệu ngƣời chết trên toàn thế giới.

Ngƣợc lại, nhờ chiến tranh, "tổng sản lƣợng [của Mỹ] tăng gấp 3 lần []. Đặc biệt, Mỹ

trở thành tay lái súng giàu sụ, thu đƣợc 114 tỷ đô-la lợi nhuận nhờ bán vũ khí và các phƣơng

tiện chiến tranh cho các nƣớc tham chiến [33, 155]. "Vào lúc [Thế chiến] kết thúc, Mỹ có 20

tỷ đô-la vàng dự trữ, gần bằng 2/3 tổng số vàng dự trữ của thế giới là 33 tỷ. Mỹ còn sản xuất

ra 1/3 sản lƣợng hàng hóa các loại trên thế giới. Điều này làm cho Mỹ trở thành nƣớc xuất

khẩu hàng hóa lớn nhất khi chấm dứt chiến tranh" [14, 89].

Mỹ làm giàu trong chiến tranh, Mỹ tiếp tục giàu thêm sau chiến tranh. Các nƣớc tƣ

bản chủ nghĩa - cả những nƣớc thắng trận (nhƣ Anh, Pháp...) lẫn những nƣớc bại trận (nhƣ

Đức, Ý, Nhật...) đều kiệt quệ, đành phải mua lƣơng thực và hàng công nghiệp của Mỹ. Nhờ

vậy, nền sản xuất Mỹ phát triển ngày càng cao, sản lƣợng công nghiệp chiếm 2/3 tổng sản

lƣợng công nghiệp của các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa, sản lƣợng nông nghiệp gấp hai lần sản

lƣợng nông nghiệp của năm nƣớc Anh, Pháp, Cộng hoà liên bang Đức, Ý và Nhật cộng

72

lại. Hàng xuất khẩu của Mỹ chiếm 1/3 hàng xuất khẩu của thế giới [14, 89]. Đến năm 1949,

khối lƣợng vàng dự trữ của Mỹ lên tới gần 25 tỷ đô-la, bằng 73% khối lƣợng vàng dự trữ của

các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa, số vốn Mỹ đầu tƣ ra nƣớc ngoài vƣợt rất xa tổng số vốn đầu tƣ

của các nƣớc khác. Mỹ trở thành nƣớc chủ nợ lớn nhất thế giới, ngay cả Anh, Pháp cũng trở

thành con nợ của Mỹ.

Không chỉ giàu về kinh tế-tài chính, Mỹ còn mạnh về quân sự. "Vào cuối cuộc chiến

tranh, Mỹ kiểm soát 12,5 triệu quân, kể cả 7,5 triệu quân ở hải ngoại (...). Hải quân Mỹ

không thua ai với hạm đội gồm 1.200 tàu chiến loại lớn. Về không quân, Mỹ có trên 2.000

máy bay đã ném bom xuống quân đội Hitler ở châu Âu và 1.000 B.29 đã tàn phá các thành

phố Nhật Bản ra tro, ngoài ra còn đƣợc phụ thêm bằng máy bay ném bom chiến lƣợc B.36"

[14, 90].

Đặc biệt Mỹ đang nắm độc quyền về vũ khí hạt nhân. Ngày 25-4-2945, tức hơn 2

tháng rƣỡi trƣớc khi Mỹ thí nghiệm thành công bom nguyên tử (16-7-1945) và hơn 3 tháng

rƣỡi trƣớc khi Nhật đầu hàng Đồng minh (15-8-1945), Truman đã ví vũ khí mới này nhƣ

"một cây gậy để chống lại nƣớc Nga" [26, 215]. Ngoại trƣởng Mỹ James Byrnes nói bom

nguyên tử "sẽ làm cho Liên Xô trở nên dễ bảo hơn ở châu Âu" [26, 216]. Sau khi ném hai

quả bom A xuống Hiroshima (6-8-1945) và Nagasaki (9-8-1945) giết hàng chục vạn ngƣời

khác bị thƣơng, Truman tuyên bố: "Hiện nay, chúng tôi đang có một vũ khí không những có

thể cách mạng hoá chiến tranh mà còn có thể làm thay đổi cả tiến trình của lịch sử và văn

minh" [ 1 12, I, 415].

Việc nƣớc Mỹ sau chiến tranh trở thành một nƣớc hết sức giàu mạnh và độc quyền

bom nguyên tử đã kích thích những ngƣời cầm quyền nƣớc này có

73

tham vọng chiếm địa vị ƣu thế tuyệt đối trên toàn cầu, áp đặt "Pax Americana" (hoà bình

theo kiểu Mỹ) cho mọi dân tộc.

Truman không che dấu tham vọng đó: "Dù muốn hay không, chúng ta cũng phải thừa

nhận rằng chiến thắng mà chúng ta vừa đạt đƣợc đã đặt trên vai nhân dân Mỹ gánh nặng tiếp

tục trách nhiệm lãnh đạo thế giới" [65, 611]. Một lần khác, ông ta nói: "Nƣớc Mỹ sẽ nắm

quyền lãnh đạo bằng cách chỉ huy thế giới theo một cách mà thế giới phải đƣợc chỉ huy"

[120, 166]. Ngày 6-4-1946 tại Chicago, ông ta tuyên bố: "Nƣớc Mỹ ngày nay đã là một quốc

gia hùng mạnh. Không có một quốc gia nào có thể hùng mạnh hơn chúng ta... Điều đó có

nghĩa là, với một lực lƣợng nhƣ thế, chúng ta có quyền lãnh đạo việc tổ chức thế giới, và đó

là một đặc quyền, một trọng trách mà Đức Chúa Trời đã phó thác cho nƣớc Mỹ" [32, 96].

Tháng 3 năm sau, tại trƣờng đại học Baylor, Truman nói: "Cả thế giới phải theo hệ thống của

Mỹ" [66, 436] v.v...

Nhƣng tham vọng lãnh đạo thế giới của Mỹ vấp phải sự ra đời của khối xã hội chủ

nghĩa mà Liên Xô là trung tâm.

Những chiến công oanh liệt của Liên Xô trong cuộc chiến tranh chống phát-xít không

chỉ bảo vệ đƣợc nền độc lập và những thành quả của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

trên đất nƣớc mình, mà còn góp phần giải phóng và tạo điều kiện cho cách mạng thắng lợi ở

một loạt nƣớc Đông Âu (An-ba-ni, Ba Lan, Bun-ga-ri, Hung-ga-ri, Nam Tƣ, Ru-ma-ni và

Tiệp Khắc). Chủ nghĩa xã hội vƣợt khỏi phạm vi một nƣớc để trở thành một hệ thống thế

giới.

Mặt khác, ở phần còn lại của châu Âu, do những ngƣời cộng sản đã chiến đấu ngoan

cƣờng chống chủ nghĩa phát xít, nên sau khi chiến tranh kết thúc, Đảng cộng sản ở Pháp, Ý,

Luxembourg, Bỉ, Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan, Băng Đảo, Áo ... có uy tín cao và ảnh hƣởng

rộng trong quần chúng, giữ vai

74

trò quan trọng trong đời sống chính trị của đất nƣớc. Nhiều cán bộ của Đảng đƣợc bầu vào

các nghị viện, tham gia các chính phủ liên hiệp, lãnh đạo các tổ chức quần chúng ...

Ảnh hƣởng ngày càng lan tỏa của chủ nghĩa xã hội trở thành một thách thức, một

nguy cơ đối với Mỹ. Do đó, Truman đề ra "chính sách ngăn chặn Cộng sản" (the Policy of

Containing Communism - thƣờng gọi tắt là "chính sách ngăn chặn", the Containment Policy).

Chính sách này chi phối mọi chủ trƣơng, đƣờng lối đối nội và đối ngoại của Mỹ trong gần

nửa thế kỷ sau Thế chiến thứ hai, nhƣ lời giải thích của George K. Kennan, một viên chức

cao cấp của Bộ ngoại giao Mỹ: "Yếu tố chính của bất cứ chính sách nào của Mỹ đối với Liên

Xô đều phải là chính sách ngăn chặn những xu hƣớng bành trƣớng của Nga một cách lâu dài,

kiên trì nhƣng cƣơng quyết và cẩn mật" [169, 566].

Để thực hiện chính sách ngăn chặn đó, Truman tung ra học thuyết mang tên ông ta

(the Truman Doctrine): "Các dân tộc tự do trên thế giới trông cậy vào chúng ta giúp đỡ để

duy trì nền tự do của họ. Nếu chúng ta nao núng trong sự lãnh đạo của chúng ta, chúng ta có

thể gây nguy hiểm cho nền hoà bình thế giới và chắc chắn chúng ta sẽ gây nguy hiểm cho

hạnh phúc của chính đất nƣớc chúng ta" [109, 137]. Núp dƣới chiêu bài "bảo vệ thế giới tự

do, chống chủ nghĩa cộng sản", Mỹ tự gán cho mình vai trò "cảnh sát của thế giới" (the

world's policeman) có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của bất cứ nƣớc nào thế giới.

Nhƣ đã trình bày ở trƣớc, lúc này chủ nghĩa xã hội đang phát triển ảnh hƣởng mạnh ở

nhiều nƣớc châu Âu. Do đó, Truman đƣa ra chủ trƣơng "Châu Âu trƣớc hết" (Europe first),

xem châu Âu là khu vực ƣu tiên số một để thực hiện chính sách ngăn chặn.

75

Trong Thế chiến thứ hai, châu Âu là một bãi chiến trƣờng. Do đó, sau chiến tranh,

các nƣớc châu Âu, dù chiến thắng hay bại trận, đều bị tàn phá nặng nề, kinh tế tiêu điều, tài

chính kiệt quệ. Tài liệu Lầu năm góc nhận định: "Tình trạng đình đốn sau chiến tranh khuyến

khích những xu thế chính trị thiên tả rõ rệt" [98, I, 35]. Vì vậy, Mỹ đề ra "Chƣơng trình phục

hồi châu Âu" (the European Recovery Plan) - thƣờng gọi "kế hoạch Marshall" (the Marshall

Plan) theo tên của ngoại trƣởng Mỹ George C. Marshall - chi 12 tỷ đô-la trong vòng 4 năm

cho một số nƣớc châu Âu. Để nhận viện trợ, các nƣớc đó phải để cho Mỹ có quyền can thiệp

vào nội tình kinh tế, chính trị... Chẳng hạn, bộ trƣởng tài chính Mỹ Fred Vinson đã gặp Léon

Blum và yêu cầu Đảng xã hội Pháp (đảng cầm quyền ở Pháp) phải tham gia Liên minh chống

Cộng sản và loại bỏ những bộ trƣởng của Đảng cộng sản Pháp ra khỏi chính phủ (J.

Davidson, Correspondant à Washington 1945-1953, Paris, 1954, tr. 18, dẫn trong [139, III,

318]). Ngày 4-5-1947, đại sứ Mỹ ở Paris gọi điện cho thủ tƣớng Pháp Paul Ramadier nhắc lại

yêu cầu trên: "Quan hệ Mỹ - Pháp sẽ dễ dàng hơn nếu những đảng viên cộng sản không còn

ở trong chính phủ nữa". Ngày hôm sau, các bộ trƣởng cộng sản bị Ramadier cách chức (G.

Elgey, La République des illusions 1945-1951 ou La vie secrète de la IVè République, Paris,

1963, tr.278, dẫn trong [139, III, 335]). Cũng trong tháng 5-1947, thủ tƣớng Ý phải gạt các

bộ trƣởng cộng sản ra khỏi chính phủ v.v... Nhà sử học Mỹ Gary R. Hess nhận xét: "Kế

hoạch phục hồi kinh tế châu Âu mang tên Marshall đƣợc biện minh chủ yếu nhƣ một phƣơng

tiện để ngăn chặn sự bành trƣớng của Liên Xô [ ở châu Âu]" [72, 340].

Dƣới chiêu bài "an ninh tập thể" (collective security) theo đó an ninh của Mỹ và của

châu Âu quan hệ chặt chẽ với nhau, Mỹ tập hợp 10 nƣớc châu Âu (Pháp, Anh, Luxembourg,

Ý, Bỉ, Hà Lan, Đan Mạch, Na Uy, Bồ Đào Nha,

76

Băng Đảo) và 1 nƣớc Bắc Mỹ (Canada) vào "Tổ chức hiệp ƣớc Bắc Đại Tây Dƣơng"

(NATO) để thực hiện chính sách ngăn chặn Cộng sản bằng quân sự. NATO có lực lƣợng vũ

trang riêng (trong đó có 6 sƣ đoàn Mỹ) do đại tƣớng Dwight D. Eisenhower - nguyên tổng

tham mƣu trƣởng Lục quân Mỹ - làm tổng chỉ huy tối cao.

Đến đây, với kế hoạch Marshall và tổ chức NATO, Mỹ "bắt đầu một kỷ nguyên thống

trị về quân sự, chính trị và kinh tế của Mỹ tại châu Âu" [40, 103] nhƣ nhận xét của tiến sĩ sử

học Mỹ Stephen A. Ambrose.

77

Tiết 1: Mỹ giúp Pháp tái chiếm Việt Nam (1945 – 1950)

1.2. Mỹ giúp Pháp tái chiếm Việt Nam

1.3. Mỹ dùng "lá bài Bảo Đại".

1.1. Mỹ muốn loại bỏ cách mạng Việt Nam

78

H.ll. Harry S. Truman: "Chính phủ tôi không phản đối việc chính quyền và quân đội Pháp quay trở lại

[Đông Dƣơng]... ".

H.12. Truman thảo luận với ngoại trƣởng James F. Byrnes.

1.1. Mỹ muốn loại bỏ cách mạng Việt Nam

Trong con mắt những ngƣời cầm đầu nƣớc Mỹ sau Thế chiến thứ hai, "Việt Nam sắp

sửa trở thành một con tốt trên bàn cờ lớn toàn cầu của cuộc chiến tranh lạnh mới phát sinh

giữa hai khối Đông và Tây" [, 65].

Chỉ một tuần sau khi chiến tranh kết thúc, ngày 21-8-1949, chủ tịch Chính phủ lâm

thời Pháp de Gaulle cùng ngoại trƣởng Georges Bidault bay sang Washington, D.C gặp tổng

thống Mỹ Truman và ngoại trƣởng James F. Byrnes.

Khác với thái độ lạnh lùng và nghi kỵ thời Roosevelt, trong cuộc hội đàm ngày 24-8,

Truman "cho rằng từ nay trở đi, sự chống đối giữa thế giới tự do và thế giới Xô-viết vƣợt lên

trên tất cả. Vì vậy, điều chủ yếu là tránh những chuyện tranh cãi giữa các nƣớc [tƣ bản chủ

nghĩa] với nhau và những xáo động cách mạng để tất cả những gì không phải là cộng sản

không trở thành cộng sản" [131, III, 245].

Rõ ràng Mỹ muốn lôi kéo Pháp tham gia vào một liên minh chống Cộng - do Mỹ cầm

đầu - nhằm ngăn chặn sự bành trƣớng ảnh hƣởng của Liên Xô ở châu Âu, nhƣ một tuyên bố

sau này của Bộ ngoại giao Mỹ khẳng định: "Chúng ta sẽ có lợi khi duy trì ở vị trí cầm quyền

một chính phủ Pháp hữu nghị [với Mỹ] để giúp chúng ta trong việc xúc tiến những mục đích

của chúng ta ở châu Âu" [72, 321].

Nửa thế kỷ sau, Robert McNamara cũng thừa nhận lúc đó Mỹ "sự rằng một sự rạn nứt

trong quan hệ Mỹ - Pháp có thể làm cho việc ngăn chặn Liên Xô bành trƣớng ở châu Âu trở

nên khó khăn hơn" [31].

Hơn nữa, lúc đó, "một sự tiếp quản [chính quyền] của Cộng sản ở Pháp là một khả

năng thực sự", nhƣ nhận định của Tài liệu Lầu năm góc [98, I, 76]. Do vai trò tích cực trong

cuộc kháng chiến giải phóng đất nƣớc khỏi ách

79

chiếm đóng của Đức quốc xã, lại cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến ngày 21-10-1945, Đảng

cộng sản Pháp - "Đảng của những ngƣời bị xử bắn" (le Parli des fusillés)(*) - đƣợc cử tri Pháp

dồn nhiều phiếu nhất (hơn 5 triệu phiếu), trở thành "chính đảng lớn nhất trong nƣớc" nhƣ Tài

liệu Lầu năm góc thừa nhận [98, I, 76]. Nhiều cán bộ của Đảng giữ các ghế bộ trƣởng trong

các chính phủ liên hiệp của de Gaulle, Félix Gouin, Georges Bidault, Paul Ramadier; tổng bí

thƣ của Đảng Maurice Thorez có lúc làm phó thủ tƣớng. Robert S. McNamara viết: "Đối với

những ngƣời vạch ra chính sách ở Washington, bao gồm cả tổng thống Truman (...), nƣớc

Pháp vừa đƣợc giải phóng có thể gặp nguy cơ bị Cộng sản tiếp quản bằng các cuộc bầu cử

hay các biện pháp khác" [93, 64]. Nhà sử học Mỹ gốc Pháp Bernard B. Fall nhận xét tƣơng

tự: "Trong số các cƣờng quốc thực dân ở Viễn Đông (Anh, Hà Lan, Mỹ và Pháp), Pháp là

nƣớc duy nhất có thể rơi vào sự kiểm soát của cộng sản. Đế quốc thực dân của Pháp khi đó

sẽ đi theo chính quốc và gia nhập khối Xô-viết" [130, 228].

Trong khi đó, ở Việt Nam, dƣới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dƣơng và Mặt

trận Việt Minh do Hồ Chí Minh đứng đầu, Cách mạng tháng Tám thành công. Mặc dù biết

"Hồ Chí Minh - dƣới bí danh Licius - đã cung cấp cho tổ chức tình báo Mỹ OSS những tin

tức tình báo về lực lƣợng Nhật Bản và (...) các du kích quân của ông đã cứu thoát 17 phi

công Mỹ bị bắn hạ" [190, 22], đại sứ Mỹ ở Trung Hoa Patrick J. Hurley "tỏ ra không vừa

lòng với Hồ Chí Minh và việc cộng sản nắm chính quyền ở Việt Nam" [105, 265] vì - theo

ông - Việt Minh là "một ổ Cộng sản" [105, 232], là "sự mở rộng của mối đe doạ đỏ ở phƣơng

Đông của Mao Trạch Đông" [105, 238]. Tuy Chính phủ lâm thời nƣớc Việt Nam dân chủ

(*) 75.000 đảng viên đã hy sinh trong 4 năm kháng chiến (A. Manfred (chủ biên), Histoire de la France, NXB Progrès, Moscou, 1980, lập III, tr.295).

cộng hoà bao gồm các nhà yêu nƣớc thuộc

80

Về nƣớc, Moffat phát biểu trƣớc Uỷ ban đối ngoại của Thƣợng viện Mỹ: "Hồ Chí

Minh "là một ngƣời cộng sản tin tƣởng rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ mang lại niềm hy vọng tốt

đẹp nhất cho dân tộc Việt Nam" [99, II, 7].

Chỉ thị ngày 3-2-1947 của ngoại trƣởng Mỹ George C. Marshall gửi đại sứ J. Caffery

viết: "Chúng ta phải thấy rằng Hồ Chí Minh có liên hệ trực tiếp với cộng sản và rõ ràng rằng

chúng ta không thích thú gì khi thấy chính quyền của đế quốc thực dân bị thay thế bởi triết lý

và những tổ chức chính trị bắt nguồn từ Kremlin và bị Kremlin kiểm soát" [98, I, 4].

Tháng 7-1947, lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn Charles S. Reed báo cáo: "Không có bằng cớ

cho thấy Hồ Chí Minh đã từ bỏ sự đào tạo cộng sản của ông", do đó "sự lãnh đạo sinh động

của ông có thể đƣa đến sự ra đời của một quốc gia cộng sản ở Việt Nam đối kháng với quyền

lợi của Mỹ" [44, 167].

Tháng 6-1948, tại một hội nghị ở Bangkok (Thái Lan), tổng lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn

George Abbolt nói: "Xung quanh Hồ Chí Minh là một nhóm những ngƣời cộng sản An Nam

[sic] tuy ít nhƣng có năng lực. Ông Hồ cùng với họ kiểm soát một cách có hiệu quả chính

phủ và quân đội Việt Minh" [44, 172].

Tháng 7-1948, một tài liệu của Bộ ngoại giao Mỹ viết: "Hồ Chí Minh là cộng sản. Hồ

sơ trong một thời gian dài và đƣợc nhiều ngƣời biết đến của ông tại Quốc tế cộng sản trong

những thập niên 30 và 40, việc tờ báo L'Humanité của Đảng cộng sản Pháp từ 1945 liên tục

ủng hộ ông, việc Đài phát thanh Mockba ca ngợi ông (trong 6 tháng qua đài này ngày càng

chú ý tới Đông Dƣơng) và việc sách báo ở Nga gần đây cũng nhƣ tờ báo Daily Worker [của

Đảng cộng sản Anh] gọi ông là "ngƣời cộng sản hàng đầu" khiến cho bất cứ kết luận nào

khác [với kết luận "Hồ Chí Minh là cộng sản"] chỉ là chuyện lấy ƣớc mơ làm sự thật" [98, I,

4-5].

82

Với nhận định nhƣ thế, phía Mỹ không trả lời ít nhất 8 thông điệp mà Hồ Chí Minh

đã gửi cho tổng thống hay ngoại trƣởng Mỹ trong khoảng thời gian từ tháng 10-1945 đến

tháng 2-1946 đề nghị Mỹ can thiệp để ngăn chặn bàn tay xâm lƣợc của Pháp và giúp đỡ nhân

dân Việt Nam bảo vệ nền độc lập.

Tuyên bố ngày 27-9-1948 của Bộ ngoại giao Mỹ đi đến kết luận: chính sách của Mỹ

là "loại trừ càng xa càng tốt ảnh hƣởng của cộng sản ở Đông Dƣơng" [44, 172].

Robert McNamara viết trong hồi ký: "Mỹ coi Đông Dƣơng là một bộ phận cần thiết

trong chính sách ngăn chặn của chúng ta, một bức tƣờng thành quan trọng trong chiến tranh

lạnh" [19, 43]. Trƣớc mắt, Mỹ đang tập trung lực lƣợng và chú ý cho việc "ngăn chặn cộng

sản" ở châu Âu - khu vực ƣu tiên số 1 theo chủ trƣơng "Châu Âu trƣớc hết" - nên Mỹ giao

cho Pháp chiếm giữ "bức tƣờng thành" ấy. Đó là hình thức "chiến tranh uỷ nhiệm" (hay còn

gọi là "chiến tranh qua tay người khác"): Mỹ ủy nhiệm cho Pháp tiến hành chiến tranh tái

chiếm Việt Nam để duy trì Việt Nam trong vùng ảnh hƣởng của Mỹ.

1.2. Mỹ giúp Pháp tái chiếm Việt Nam

Trong cuộc hội đàm ngày 24-8-1945 tại Washington, D.C. với de Gaulle và Georges

Bidaull, tổng thống Mỹ Truman hứa: "Trong mọi trƣờng hợp, đối với Đông Dƣơng, chính

phủ tôi không chống lại việc chính quyền và quân đội Pháp quay trở lại xứ ấy" [131, III, 249-

250].

Đƣợc Truinan "bật đèn xanh" nên ngay ngày hôm sau, tại thủ đô nƣớc Mỹ, de Gaulle

tuyên bố cho thế giới biết: "Lập trƣờng của Pháp về Đông Dƣơng rất đơn giản: Pháp có ý

định thu hồi chủ quyền của mình trên toàn Đông Dƣơng. Dĩ nhiên là sự khôi phục đó sẽ kéo

theo một thể chế mới, nhƣng đối với chúng tôi, chủ quyền của Pháp là vấn đề hàng đầu"

[143, 74].

83

H.13-14. Hai trong số những thư và điện của chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Truman

Về mặt pháp lý, nghị quyết Hội nghị Potsdam không giao cho Pháp mà lại giao cho

Anh và Trung Hoa tiếp quản phía nam và phái bắc của Đông Dƣơng từ tay Nhật Bản, do đó

Pháp phải nói chuyện với hai nƣớc này.

Với Anh, việc thƣơng lƣợng không khó, vì lâu nay Anh vẫn tích cực ủng hộ việc

Pháp tái chiếm Đông Dƣơng, vì sợ phong trào đòi độc lập ở đây lây lan sang các thuộc địa

của Anh ở Nam Á và Đông Nam Á. Ngày 24-8-1945, Pháp và Anh đạt đƣợc một hiệp ƣớc

theo đó Anh công nhận chủ quyền của Pháp ở Đông Dƣơng. Một tháng rƣỡi sau, ngày 9-10,

Anh ký với Pháp một hiệp ƣớc khác, đồng ý nhƣờng quyền chiếm đóng phía nam Đông

Dƣơng (từ vĩ tuyến 16° trở xuống, theo Hiệp định Potsdam) cho Pháp.

Với Trung Hoa, dù de Gaulle đã hai lần gặp ngoại trƣởng Tống Tử Văn - một lần hồi

tháng 8-1945 ở Washington, lần sau ngày 19-9 tại Paris -, việc thƣơng lƣợng chƣa có kết quả.

Ngày 2-9-1945, giữa lúc nhân dân Việt Nam vui mừng cử hành lễ tuyên bố nền độc

lập, tƣớng Mỹ Mac Arthur và tƣớng Pháp Leclerc có mặt tại Tokyo để thay mặt chính phủ

của mình dự buổi ký văn bản đầu hàng của Nhật. Mác Arthur đã nói riêng với Leclerc: "Nếu

tôi có điều gì để khuyên anh thì lời khuyên đó là: Anh hãy mang quân sang [Việt Nam],

mang thêm nhiều quân hơn nữa, nhiều chừng nào mà anh có thể làm đƣợc" [, 150].

Quân viễn chinh thì Pháp đã chuẩn bị từ lâu, nhƣng tàu bè để chở số quân ấy sang tái

chiếm Việt Nam thì Pháp thiếu nghiêm trọng. Do đó, trong tháng 10-1945, Truman cấp 7 tàu

chiến để chở hơn 13.000 lính Pháp đến Sài Gòn []. Đến tháng 12, Truman lại cấp thêm 8 tàu

chiến nữa để chở Sƣ đoàn Bộ binh thuộc địa số 9 (9ème DIC) và một tiểu đoàn dù gồm 5.000

quân sang Sài Gòn. Nhà báo Mỹ Haiold Isaacs kể lại: "... Một loạt tàu của Mỹ, treo cờ Mỹ,

do thủy thủ Mỹ điều khiển. Từ những tàu này, lính Pháp lên bờ, mặc quân phục

84

H.15. Tƣớng Douglas MacArthur: "[Pháp] hãy mang quân sang [Việt Nam], mang thêm nhiều hơn nữa...".

do Mỹ sản xuất, mở các cuộc tiến công đầu tiên với vũ khí, xe tăng, xe vận tải và xe jeep do

Mỹ cho thuê cho mƣợn" [78, l61]. Để tránh tiếng, ngày 15-1-1946 Bộ ngoại giao Mỹ khuyến

cáo Bộ chiến tranh Mỹ không nên "dùng tàu thủy hay máy bay mang cờ Mỹ để chở quân của

bất cứ quốc tịch đến hay đi từ (...) Đông Dƣơng thuộc Pháp" [98, I, 17]. Nhà sử học Mỹ

Joseph Buttinger nhận định: "Việc Mỹ giúp tàu bè chuyên chở khiến cho Pháp có đủ quân

lính tới Sài Gòn để đánh bại cuộc cách mạng trong Nam" [46, 343]. Sau khi đánh chiếm Sài

Gòn trong đêm 22 rạng 23-9-1945, Pháp đánh nống ra các tỉnh Nam Bộ và nam Trung Bộ.

Tham vọng của Pháp không dừng lại ở vĩ tuyến 16°. Họ muốn chiếm toàn bộ Việt

Nam. Tham vọng đó đƣợc Mỹ ủng hộ. Theo giáo sƣ Mỹ George McTurnan Kahin, "ít ra là từ

cuối tháng 9-1945, Mỹ đã kêu gọi Trung Hoa để cho Pháp dễ dàng thu hồi quyền lực [ở Việt

Nam]. Lúc đó, [tƣớng Philip E. Gallagher] cam kết sẽ thúc đẩy [tƣớng] Lƣ Hán giúp Pháp

lấy lại quyền kiểm soát nửa phía bắc của Việt Nam" [80, 19]. Đƣợc Mỹ tán trợ, Pháp gửi

nhiều nhân vật có thẩm quyền sang Trùng Khánh để thƣơng lƣợng việc quân Pháp thay quân

Trung Hoa chiếm đóng miền Bắc Việt Nam: d'Argenlieu gặp Tƣởng Giới Thạch từ l 0 đến

12-10-1945, Raoul Salan gặp Tseng Kai-min từ 8-1-1946... Kết quả: ngày 28-2-1946, ngoại

trƣởng Trung Hoa Wang Shih Chieh và đại sứ Pháp Jacques Meyrier ký hiệp ƣớc, theo đó

Pháp đƣa quân vào bắc vĩ tuyến 16° thay cho quân Trung Hoa, bù lại Pháp dành cho Trung

Hoa một số quyền lợi kinh tế.

Nhƣng, nhƣ giáo sƣ Kahin nhận định, "nƣớc Pháp hậu chiến bị tàn phá nặng nề không

có cả trang bị quân sự lẫn nguồn tài chính để có thể tiến hành một nỗ lực quân sự lớn ở Đông

Dƣơng" [80, 7]. Do đó, có đƣợc Mỹ giúp, Pháp mới chiếm lại Đông Dƣơng đƣợc.

85

Trong cuộc hội đàm cuối tháng 8-1945 ở Washington, Truman đồng ý cho de Gaulle

vay dài hạn 650 niệu đô-la [131, III, 249]. Tháng 12 năm ấy, Pháp nhận đƣợc khoản tiền

550 triệu đô-la do Ngân hàng xuất-nhập khẩu (Import-Export Bank) của Mỹ cho vay "để

tài trợ cho phần bổ sung đặt hàng đƣợc thông qua với danh nghĩa cho thuê - cho mƣợn" [124,

III, 156]. Theo giáo sƣ Kahin, "Washington cung cấp tiền bạc cho Paris để giúp Pháp mua 75

tàu chở quân của Mỹ" []. Tháng 5-1946, Mỹ xoá món nợ 1 tỷ 800 triệu đô-la của Pháp trong

thời gian chiến tranh, đồng thời cho Pháp vay thêm 500 triệu đô-la thông qua Ngân hàng

quốc tế tái thiết và phát triển BIRD [124, 157]. "Năm 1947, Truman cho Pháp vay 160 triệu

đô-la mua xe cộ và phụ tùng liên quan để dùng ở Đông Dƣơng" [98, I, 51].

Theo Peler A. Poole, từ tháng 7-1945 đến tháng 7-1948, Mỹ viện trợ cho Pháp 1,2 tỉ

đô-la [25, 28], trong đó có những khoản tiền của kế hoạch Marshall giúp Pháp phục hồi kinh

tế. Nhƣng trong thực tế, "một phần đáng kể số tiền [của Mỹ] bơm vào nƣớc Pháp để phục hồi

nền kinh tế bị chiến tranh làm tiêu tan, lại bị bơm ra [ngoài nƣớc Pháp] để duy trì đạo quân

viễn chinh ở Đông Dƣơng" [80, 8]. Nhà báo Mỹ Ellen J. Hammer viết: "Những đồng đô-la

của kế hoạch Marshall đã nhả ra những đồng phrăng để chi dùng trong chiến tranh Việt

Nam" [166, 260].

Graham Marlin, cố vấn Tòa đại sứ Mỹ ở Pháp sau Thế chiến thứ II (ba mƣời năm sau

là đại sứ Mỹ cuối cùng ở Miền Nam Việt Nam tháo chạy khỏi Sài Gòn rạng sáng 30-4-1975)

nhận xét: "Quả thật, Pháp đã chi hết ở Việt Nam những gì chúng ta đã cho họ qua kế hoạch

viện trợ và tái thiết Marshall. Có thể nói một cách khác rằng chúng ta đã chi cho chiến tranh

của Pháp tại Đông Dƣơng" [91, 39].

86

Không chỉ cung cấp đô-la, Mỹ còn cung cấp súng đạn và phƣơng tiện chiến tranh.

"Mỹ cung cấp cho Paris một lƣợng lớn vũ khí hiện đại - bề ngoài nói là để bảo vệ nƣớc Pháp

và Tây Âu, nhƣng với thoả thuận rằng một phần quan trọng [vũ khí ấy] có thể đƣợc dùng cho

chiến dịch quân sự ở Đông Dƣơng" [80, 8].

Để không mang tiếng "giúp thực dân Pháp tái chiếm thuộc địa", chính phủ Mỹ tuyên

bố không bán vũ khí cho Pháp "trong những trƣờng hợp có vẻ liên quan tới Đông Dƣơng"

[80, 8], nhƣng trong thực tế, "nhiều vũ khí của Mỹ gửi sang Pháp lại đƣợc chuyển hƣớng

sang Việt Nam" [80, 8].

Giữa tháng 3-1946, Anh rút quân, chuyển miền Nam vĩ tuyến 16° lại cho Pháp. Anh

giao cho Pháp nhiều trang bị quân sự trị giá hơn 70 triệu đô-la [193,], trong đó có khoảng

800 xe jeep và xe vận tải quân sự mà Mỹ cung cấp cho Anh theo đạo luật cho mƣợn - cho

thuê (Lend-lease aet) trong thời kỳ Thế chiến thứ II [113, I, A-24]. "Tổng thống Truman

đồng ý cách giải quyết đó, lấy cớ rằng không thể thực hiện đƣợc việc di chuyển các trang bị

này [ra khỏi Việt Nam]" [98, I, 18]. Để tránh tiếng, ngoại trƣởng Mỹ James Byrnes yêu cầu

Pháp xóa đi các dấu hiệu của Mỹ vẽ trên các trang bị quân sự đó [, 7].

Trƣớc âm mƣu của thực dân Pháp muốn áp đặt ách thống trị lên Việt Nam một lần

nữa, ngƣời Việt Nam phải cầm súng bảo vệ nền độc lập mới giành đƣợc. Chính phủ Mỹ một

mặt lên án những ngƣời kháng chiến: "Chúng tôi nhận thức rằng Việt Nam đã bắt đầu cuộc

chiến hiện nay ở Đông Dƣơng ngày 19-12 [-1946] và rằng hành động này khiến cho Pháp

càng khó chấp nhận một thái độ rộng lƣợng và hoà giải" [98, I, 31], mặt khác ủng hộ cả về

vật chất lẫn tinh thần chiến tranh xâm lƣợc của Pháp, vì trong quan điểm của họ, "cuộc viễn

chinh mang tính thực dân đƣợc chỉ huy từ Paris đã đƣợc đổi thành cuộc

87

thập tự chinh chống Cộng sản của Pháp - Mỹ (a Franco - American anti-Communist

crusade)" [51,22].

Nhiều lần, chính phủ Hồ Chí Minh đề nghị Pháp mở cuộc đàm phán để sớm chấm dứt

cuộc đổ máu. Trong công văn ngày 30-6-1948 gửi Bộ ngoại giao Mỹ, tổng lãnh sự Mỹ ở Sài

Gòn George Abbot viết: nếu Pháp ngƣng bắn với Hồ Chí Minh thì "những phần tử không

Cộng sản [chỉ những ngƣời Việt Nam không tham gia chống Pháp] sẽ bị nuốt chửng theo

kiểu Tiệp Khắc" [110, 92]. Ngày 27-9-1948, Bộ ngoại giao Mỹ ra tuyên bố: "Chúng ta không

yêu cầu Pháp thƣơng thuyết nực tiếp với Hồ Chí Minh, ngay cả dù hiện nay có lẽ ông đƣợc

một đa số đáng kể dân chúng Việt Nam ủng hộ, bởi vì lý lịch của ông nhƣ một ngƣời cộng

sản và quá trình cộng sản của nhiều nhân vật có thế lực trong và xung quanh chính phủ của

ông" [44, 173].

Mỹ mong muốn thực dân Pháp chiến thắng nên 5 ngày sau khi kháng chiến toàn quốc

bùng nổ, trong giác thƣ ngày 24-12-1946 gửi cho thứ trƣởng ngoại giao Dean Achcson, vụ

trƣởng Vụ Viễn Đông John Carler Vincent bày tỏ mối lo lắng giùm cho Pháp: "Họ [tức Pháp]

thiếu sức mạnh quân sự để tái chiếm Việt Nam, thiếu sự ủng hộ mạnh mẽ của công chúng

cho một tiến trình nhƣ vậy và bị bất lợi vì chính phủ ở Paris yếu ớt và chia rẻ. Trong trƣờng

hợp nhƣ thế, chiến tranh du kích có thể kéo dài bất tận" [110, 83].

1.3. Mỹ dùng "lá bài Bảo Đại".

Đúng nhƣ lo lắng của John C. Vincent, chiến lƣợc chiến tranh chớp nhoáng của Pháp

ở Việt Nam thất bại, Pháp đứng trƣớc nguy cơ lún sâu trong vũng bùn chiến tranh. Trƣớc

tình hình đó, "Mỹ tỏ ra quan tâm ngày càng tăng đến cuộc xung đột ở Việt Nam" [98, I, 28].

Không chỉ quan tâm, Mỹ còn phê phán Pháp. Trong bức điện gửi cho đại sứ Mỹ ở Paris

tháng 2-1947, ngoại trƣởng

88

George C. Marshall viết: "Các báo cáo của chúng ta chỉ ra rằng Pháp thiếu am hiểu phía bên

kia [tức những ngƣời kháng chiến Việt Nam], ở Sài Gòn thiếu nhiều hơn ở Paris, và tiếp tục

có quan điểm và phƣơng pháp thực dân đã lỗi thời một cách nguy hiểm ở khu vực đó" [97, 7-

8].

Lỗi thời vì Pháp chỉ sử dụng biện pháp quân sự đơn thuần hòng lập lại ách thống trị

thực dân ở Việt Nam.

Nguy hiểm vì thất bại của Pháp sẽ dẫn tới việc thiết lập chính phủ dân tộc dân chủ do

Đảng cộng sản Đông Dƣơng lãnh đạo.

Trong khi đó, ngày 4-7-1946 Mỹ đã trao trả độc lập cho thuộc địa Philippines. Với

Manuel Roxas - một ngƣời thân Mỹ, chống Cộng, có thành tích "ủng hộ chính phủ do Nhật

Bản bảo trợ trong Thế chiến thứ hai" [45, 1548] và với những hiệp ƣớc mà Mỹ ký với ông ta,

Mỹ "vẫn có thể duy trì vị trí kinh tế ƣu thế" [127, 397] và sự hiện diện quân sự của họ ở

Philippines nhƣ trƣớc. Hiệp ƣớc thƣơng mại Mỹ - Philippines bảo đảm việc buôn bán giữa

hai nƣớc đƣợc miễn thuế nhập khẩu (trong khi hàng hoá Philippines nhập khẩu vào Mỹ

không đáng kể thì hàng hoá Mỹ tràn vào Philippines một cách tự do, không bị đánh thuế, chi

phối mạnh mẽ thị trƣờng nƣớc cộng hoà non trẻ này). Hiệp ƣớc phòng thủ chung (14-3-1947)

cho phép Mỹ có 23 căn cứ quân sự trên lãnh thổ Philippines trong 99 năm, nhân viên quân sự

Mỹ thuộc các căn cứ ấy đƣợc hƣởng đặc quyền ngoại giao [129, 321], nằm ngoài thẩm quyền

xét xử của luật pháp Philippines. Hiệp ƣớc viện trợ quân sự (21-3-1947) giao cho các cố vấn

Mỹ trách nhiệm đào tạo và huấn luyện quân đội Philippines. Chính phủ Roxas cộng tác chặt

chẽ với Mỹ, cấm Đảng cộng sản, Liên minh nông dân toàn quốc và Đại hội các tổ chức công

nhân Philippines hoạt động, đàn áp thẳng tay phong trào Hukbalahap (ra đời từ 1942 trong

cuộc kháng chiến chống phát-xít Nhật)...

89

Mỹ xem "giải pháp Roxas" là khôn ngoan, vừa có tiếng (đƣợc tiếng "không thực

dân"), vừa có miếng (duy trì mọi quyền lợi nhƣ trƣớc) và muốn Pháp áp dụng một giải pháp

tƣơng tự ở Việt Nam. Ngày 17-6-1947, ngƣời phát ngôn Bộ ngoại giao Mỹ tuyên bố: "Mỹ

mong muốn một cách sâu sắc rằng một giải pháp ôn hoa sẽ đƣợc tìm thấy ở Đông Dƣơng"

[127, 393].

Không chỉ mong muốn, Mỹ còn nhập cuộc một cách tích cực. Truman cử nhà ngoại

giao kỳ cựu William C. Bullitt - từng làm đại sứ tại Liên Xô trong thập niên 30 và tại Pháp

trƣớc Thế chiến thứ hai - sang Việt Nam.

Sau khi nghiên cứu tình hình tại chỗ, Bullitt viết trên tạp chí Life ra ngày 26-12-1947:

"Trong một trăm ngƣời Việt Nam, chƣa có tới một ngƣời theo cộng sản". Nhƣng "hiện nay,

hàng triệu ngƣời Việt Nam đang đi theo Hồ Chí Minh vì ông là biểu tƣợng của cuộc kháng

chiến chống Pháp". Theo Bullitt, "cuộc kháng chiến của họ là một tấn bi kịch đen tối, bởi vì

cộng sản đã nắm lấy quyền lãnh đạo cuộc kháng chiến giành độc lập của họ". Do đó, "điểm

trọng yếu trong vấn đề Việt Nam là phải thiết lập cho đƣợc sự cộng tác giữa ngƣời Pháp và

những ngƣời quốc gia Việt Nam để loại trừ cộng sản". Bullitt khuyên Pháp "cho phép những

ngƣời Việt Nam quốc gia, không cộng sản chuẩn bị những tổ chức chính trị, kinh tế và quân

sự hoàn chỉnh để kiểm soát đất nƣớc, (...) giao cho những ngƣời Việt Nam quốc gia nhiệm vụ

lôi kéo những phần tử quốc gia - đang chiếm hai phần ba lực lƣợng của Hồ Chí Minh - và

cộng tác với những lực lƣợng quốc gia để nghiền nát những ngƣời cộng sản không thể hoá

giải đƣợc". Bullitt tin tƣởng rằng, nếu Pháp làm theo lời khuyên đó, "họ vẫn có thể duy trì tất

cả những quyền lợi đích thực của họ ở Việt Nam" và ngƣời quốc gia Việt Nam có thể sẽ "cấp

cho Pháp một căn cứ quân sự và hải quân, có thể là ở vịnh Cam Ranh" [162, 64-69].

90

Nhận định của Bullilt đƣợc chính phủ Washington tán thành. "Tuyên bố về chính

sách ở Đông Dƣơng" ngày 27-9-1948 của Bộ ngoại giao Mỹ viết: "Trong khi phong trào dân

tộc ở Việt Nam (Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ) đang lên mạnh và mặc dù đại đa số ngƣời

Việt Nam không phải căn bản là cộng sản, yếu tố năng động nhất trong cuộc kháng chiến

chống Pháp của các dân tộc bản xứ là một nhóm cộng sản do Hồ Chí Minh đứng đầu (...)

Nhóm này đã thành công trong việc bành trƣớng ảnh hƣởng để bao gồm hầu nhƣ tất cả các

lực lƣợng vũ trang hiện đang đánh Pháp và do đó đã kiểm soát phong trào dân tộc ... Ngƣời

cộng sản Hồ Chí Minh là nhân vật mạnh nhất và có lẽ có năng lực nhất ở Đông Dƣơng ...

đang đƣợc đa số đáng kể nhân dân Việt Nam ủng hộ" [113, VIII, 143-149].

Do đó, chính phủ Truman chỉ thị cho các nhà ngoại giao Mỹ ở Paris gây sức ép để

Pháp "đạt tới một giải pháp không cộng sản (non-communist solution) ở Đông Dƣơng xây

dựng trên sự hợp tác với những ngƣời quốc gia chân chính của xứ ấy" [98, I, 4].

Rõ ràng Mỹ muốn biến cuộc chiến tranh tái chiếm thuộc địa của Pháp ( a colonial

war) thành một cuộc nội chiến (a civil war) giữa những ngƣời Việt kháng chiến chống Pháp

và những ngƣời Việt "quốc gia" thân Pháp, dùng ngƣời Việt đánh ngƣời Việt. Nói một cách

khác, Mỹ muốn "Việt Nam hóa" cuộc chiến tranh đó để nhân dân Việt Nam không chống

Pháp nữa.

Mỹ chọn Bảo Đại làm lãnh tụ của những ngƣời Việt "quốc gia" ấy.

Tháng 3-1946, Bảo Đại đƣợc Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà cử đi theo một

phái đoàn ngoại giao sang Phùng Khánh. Tại đây, "sau khi hội thảo với Tƣởng ông ta nhận

đƣợc lời mời đến gặp viên đại sứ toàn quyền của Mỹ ở Trung Hoa, tƣớng George C.

Marshall, ngƣời sẽ trở thành ngoại trƣởng mƣời

91

tháng sau đó (...). Bảo Đại quyết định không quay trở lại Hà Nội" [80, 25], lƣu lại Trùng

Khánh một thời gian rồi sang Hồng Kông.

Mỹ chọn Bảo Đại trƣớc hết vì Bảo Đại không bao giờ có thể trở thành cộng sản. Mặc

dù trong và sau Cách mạng tháng Tám 1945, đƣợc chính quyền cách mạng đối xử một cách

nhân đạo (không phải mất mạng nhƣ Louis XVI ở Pháp và Nicholas II ở Nga) và tạo điều

kiện để phục vụ đất nƣớc (cử làm cố vấn tối cao của Chính phủ), Bảo Đại đã đào ngũ và sống

lƣu vong.

Hơn nữa, Bảo Đại - theo nhận xét của Philippe Devillers - là một ngƣời "nhu nhƣợc,

không có ý chí, mềm mỏng và dễ sai khiến" [127, 397], từng làm tay sai cho Pháp, rồi làm bù

nhìn cho Nhật, và trong tƣơng lai có thể trở thành một con cờ của Mỹ nếu cần.

Chính phủ Truman giao cho Bullitt làm nhiệm vụ móc nối giữa Bảo Đại và Pháp

nhằm thực hiện "giải pháp Bảo Đại" (the Bao Dai solution).

Tháng 8-1947, Bullitt sang Hồng Kông khuyên Bảo Đại về nƣớc để đứng đầu phe

quốc gia chống cộng, cam kết hết lòng ủng hộ Bảo Đại nhƣ đang ủng hộ Manuel Roxas ở

Philippines.

Bảo Đại đồng ý, cử Trần Văn Tuyên về nƣớc. Ngày 22-8 tại Sài Gòn, Trần Văn

Tuyên tuyên bố: "Ngài Bảo Đại không xem mình là cố vấn tối cao của chính phủ Hồ Chí

Minh nữa... Cựu hoàng có thể sẽ lập một chính phủ. Việt Minh bị xem là bọn phiến loạn, sẽ

bị đánh tan. Ngài tin rằng việc tuyên bố độc lập và thống nhất sẽ gây ra những vụ đào ngũ

quan trọng trong hàng ngũ Việt Minh vì nhân dân ba kỳ không còn lý do gì để tiếp tục chiến

đấu nữa" [193].

Thuyết phục đƣợc Bảo Đại, ngày 22-9, Bullitt đến Sài Gòn hội đàm với cao uỷ Pháp

Emile Bollaert rồi bay sang Paris gặp những đại diện cao cấp của chính phủ Pháp để khuyên

Pháp chấp nhận "giải pháp Bảo Đại".

92

Tài liệu Lầu Năm Góc nhận định: "Mỹ đã dính líu vào Đông Dƣơng nhƣ một bên của

cái tam giác rối loạn, cùng với Pháp và chế độ Bảo Đại. Quả thật, Mỹ đã có một vai trò trong

cái "giải pháp Bảo Đại" ngay từ đầu" [].

Về phía Pháp, sau khi cuộc tấn công lên Việt Bắc vào thu - đông 1947 thất bại, chiến

lƣợc chiến tranh chớp nhoáng bị phá sản, Pháp cảm thấy bị sa lầy trong cuộc chiến tranh hao

ngƣời tốn của ở Đông Dƣơng. Chi phí chiến tranh Đông Dƣơng leo thang liên tục: từ 3 tỷ

phrăng (1945) tăng vọt lên 27 tỷ (1946) rồi 53 tỷ (1947), trở thành gánh nặng quá sức chịu

đựng đối với nền kinh tế - tài chính kiệt quệ của nƣớc Pháp sau Thế chiến thứ hai. Đó cũng là

nguyên nhân dẫn tới phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân Pháp. Ngày 25-3-1947,

hàng triệu ngƣời Pháp xuống đƣờng đòi châm dứt chiến tranh, giảm ngân sách quân sự để cải

thiện đời sống nhân dân. Hoà cùng tiếng súng kháng chiến của nhân dân ba nƣớc Đông

Dƣơng, nhân dân các thuộc địa Pháp ở châu Phi cũng đứng lên đòi độc lập: Madagascar (30-

3-1947), Maroc (7-4-1947), Algérie (8-4-1947), Tây Phi thuộc Pháp AOF (19-4-1947)...

Do đó, Pháp cũng muốn sử dụng "lá bài Bảo Đại" (la carte Bao Dai) trong âm mƣu

"dùng ngƣời Việt đánh ngƣời Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", đánh bại cuộc kháng

chiến do Hồ Chí Minh lãnh đạo để duy trì những quyền lợi thực dân ở Việt Nam. Song Pháp

lại sợ Bảo Đại vuột khỏi tay mình và rơi vào quỹ đạo của Mỹ - vốn giàu hơn, mạnh hơn Pháp

nên hấp dẫn Bảo Đại nhiều hơn. Một nhà ngoại giao Mỹ nói: "Pháp không vui vẻ gì khi thấy

ngƣời Mỹ chúng ta có những quan hệ tốt với Bảo Đại" [98, I, 60] vì "Pháp không muốn cho

Mỹ cơ hội có đƣợc ảnh hƣởng chính trị đối với Bảo Đại" [82, 66].

Vì vậy những cuộc hội đàm với Bảo Đại của cao uỷ Bollaert tại vịnh Hạ Long (trong

hai ngày 6 và 7-12-1947) và lại Genève (năm lần trong khoảng

93

thời gian từ 7 đến 13-1-1948) cũng nhƣ của các đại diện Chính phủ Pháp tại Paris (trong

tháng 2-1948) đều tiến triển rất chậm.

Trƣớc sức ép của Mỹ, Bollaert ký với Nguyễn Văn Xuân (thiếu tƣớng trong Quân đội

Pháp, thủ tƣớng Chính phủ trung ƣơng lâm thời) - trƣớc mặt "Bảo Đại - Hiệp định Vịnh Hạ

Long ngày 5-6-1948 "long trọng công nhận nền độc lập của Việt Nam". Nhƣng trong thực

tế, nhƣ Tài liệu Lầu Năm Góc nhận xét, "Pháp chẳng chuyển giao quyền lực chính trị có ý

nghĩa nào cho phía Việt Minh" [98, I, 27]. Chính phủ Nguyễn Văn Xuân "không thể cai trị

đƣợc [vì] không có nguồn tài chính riêng, không có quân đội, không có cảnh sát" trong khi

"các công chức Pháp vẫn ở nguyên vị trí" [127, 442]. Một kiểu "độc lập bánh vẽ" không hơn

không kém.

Thấy Pháp không nhiệt tình với "giải pháp Bảo Đại", Truman bắt đầu sốt ruột. Một

mặt ông cử Bullitt đi gặp Bảo Đại (lúc này đang có mặt ở Thụy Sĩ) vào cuối tháng 9-1948,

khẳng định một lần nữa sự ủng hộ của Mỹ đối với "giải pháp Bảo Đại"; mặt khác chỉ thị cho

đại sứ Caffrey báo cho chính phủ Pháp rằng Mỹ muốn thấy Pháp áp dụng ở Việt Nam "một

chính sách rộng rãi hơn" [127,443].

Trên tờ New York Times ngày 25-1-1949, Mỹ đánh giá Bảo Đại là "lãnh tụ quốc gia

có thể ngăn chặn ảnh hƣởng của cộng sản từ phƣơng Bắc", là "niềm hy vọng duy nhất [đem

lại] sự ổn định ở cái góc bị suy yếu về chiến lƣợc và kinh tế đó của châu Á" [].

Trƣớc sức ép mới của Mỹ, một lần nữa Pháp lại "long trọng công nhận nền độc lập

của Việt Nam" bằng một hiệp định mới, Hiệp định Élysée, giữa tổng thống Pháp Vincent

Auriol và Bảo Đại ngày 8-3-1949. So với Hiệp định Vịnh Hạ Long, Hiệp định Élysée chẳng

hơn gì. Tài liệu Lầu Năm Góc nhộn xét: "Pháp vẫn giữ quyền kiểm soát lực lƣợng vũ trang

và quan hệ đối ngoại của

94

Việt Nam. Còn ƣu thế kinh tế và quân sự của Pháp chẳng thay đổi gì, ngay cả về nguyên tắc"

[98, I, 27]. Hai nhà sử học Mỹ George McT Kahin và John W. Lewis viết: "Hiệp ƣớc Élysée

nếu đƣợc thực thi thi cũng chỉ ban cho một sự tự trị có giới hạn, chứ không phải một nền độc

lập thực sự" [81, 28] vì chính phủ " Việt Nam "không có quyền điều khiển ngân quỹ, kế

hoạch kinh tế, ngoại thƣơng, thuế quan và giao thông của chính họ" [81, 29].

Tuy vậy, đây là lần đầu tiên ngƣời cầm đầu cao nhất của nƣớc Pháp chịu ký một hiệp

định với Bảo Đại. Nhƣ thế, từ nay Pháp không thể rút lui khỏi tiến trình thực hiện "giải pháp

Bảo Đại". Do đó, ngay ngày Hiệp định đƣợc chính thức công bố (21-6-1949), Bộ ngoại giao

Mỹ phải "ngậm bồ hòn làm ngọt" lên tiếng tán thành: "Chính phủ Mỹ hy vọng rằng Hiệp

định ngày 8-3[-1949] giữa tổng thống Auriol và Bảo Đại - ngƣời có những cố gắng chân

thành để thống nhất mọi phần tử quốc gia chân chính ở Việt Nam - sẽ tạo ra cơ sở cho việc

thực hiện ngày càng tiến tới những nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam" [174,

75]. Chính phủ Mỹ "cƣờng điệu biện pháp tự trị mà Paris ban cho (...) Việt Nam, trình bày

những việc Pháp định làm này nhƣ những đảm bảo thực tế rằng Pháp đã từ bỏ mọi tham

vọng đế quốc" [].

Trƣớc đó, ngày 10-5-1949, Bộ ngoại giao Mỹ điện cho tòa lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn,

nhấn mạnh: "Giải pháp Bảo Đại là phƣơng tiện duy nhất để bảo vệ Việt Nam thoát khỏi

những ý đồ xâm lƣợc của Trung Cộng"(*) [98, I, 63] và dự kiến: "Vào thời điểm thích hợp và

trong những hoàn cảnh thích hợp, Bộ ngoại giao sẽ sẵn sàng làm phần việc của mình bằng

cách công nhận chính phủ Bảo Đại và đồng ý với bất cứ yêu cầu viện trợ kinh tế và vũ khí

của chính phủ ấy"(**) [98, I, 63].

(*) Mãi đến 1-10-1949, tức gần 5 tháng sau, cách mạng Trung Quốc mới thành công! (**) Lúc đó, chính phủ Bảo Đại chƣa đƣợc thành lập!

95

Ngày 1-7-1949, chính phủ của Quốc gia Việt Nam ra đời, do Bảo Đại làm quốc

trƣởng kiêm thủ tƣớng. Tuy Pháp "không trao cho Việt Nam quyền hạn và thế lực thực sự,

Quốc gia Việt Nam trở thành một vật để nguỵ trang cho việc Pháp tiếp tục cai trị ở Đông

Dƣơng" [98, I, 59] nhƣ Tài liệu Lầu Năm Góc nhận định, Truman vẫn gửi tới Bảo Đại một

thông điệp chào mừng sự ra đời của Quốc gia Việt Nam. Báo New York Times viết: Mỹ "hy

vọng rằng Quốc gia mới do Bảo Đại cầm đầu sẽ trở thành một pháo đài chống Cộng" ở Đông

Nam Á [, 86].

Tuy nhiên, Quốc hội Pháp chƣa chịu phê chuẩn Hiệp định Elysée. Truman cảm thấy

khó chịu trƣớc sự chần chừ của Pháp, cử ngoại trƣởng Dcan Acheson sang Paris (tháng 9-

1949). "Cuộc trao đổi đầu tiên của ông ta với bộ trƣởng ngoại giao Pháp R. Schuman là vấn

đề Đông Dƣơng" [25, 29]. Acheson yêu cầu chính phủ Pháp tìm mọi cách hối thúc Quốc hội

Pháp nhanh chóng phê chuẩn Hiệp định Elysée để chính phủ Bảo Đại có cơ sở pháp lý. Mặc

dù đang nhận viện trợ tiền bạc và vũ khí Mỹ để tiến hành chiến tranh ở Đông Dƣơng,

"Schuman rất thận trọng trong khi bàn luận tình hình Đông Nam Á và không tỏ thái độ hoan

nghênh đối với sự quan tâm của Mỹ" [25, 29].

Mƣời một tháng sau khi ký, Hiệp định Elysée mới đƣợc Quốc hội Pháp phê chuẩn

ngày 2-2-1950. Đại sứ lƣu động Philip C. Jessup (đang có mặt tại Việt Nam) thay mặt Chính

phủ Mỹ "bày tỏ đến Hoàng đế [sic] Bảo Đại những lời chúc mừng tốt đẹp nhất của chúng tôi

vì sự phồn vinh và ổn định ở nƣớc Việt Nam và hy vọng những quan hệ gần gũi hơn sẽ đƣợc

thiết lập giữa Việt Nam và Mỹ" [98, I, 41]. Ngày 7-2, Mỹ là một trong những nƣớc đầu tiên

trên thế giới công nhận về mặt ngoại giao chính phủ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại. Hơn

thế nữa, "chính quyền Truman còn gây sức ép với các nƣớc mới giành đƣợc độc lập trong

vùng [châu Á] để công nhận chính phủ Bảo Đại"

96

[44, 181] nhƣng phần lớn những nƣớc này nhƣ Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Indonesia... từ

chối, vì cho rằng "chính phủ Bảo Đại chỉ là bù nhìn, không đƣợc nhân dân Việt Nam ủng hộ"

[72, 330]. Điều đó làm cho ngoại trƣởng Acheson nổi giận, nói: "Sự thờ ơ hoặc thiếu hiểu

biết này có thể tỏ ra tai hại cho những nƣớc này bởi vì chủ nghĩa cộng sản vẫn tiến lên

không hề nao núng" [44, 181].

Thế là sau hơn hai năm rƣỡi liên tục vận động của Mỹ (kể từ chuyến đi của William

C. Bullitt sang Hong Kong gặp Bảo Đại tháng 8-1947), "giải pháp Bảo Đại" trở thành hiện

thực. Tuy nhiên quan điểm của Mỹ và Pháp về giải pháp ấy không phải hoàn toàn giống

nhau. Pháp chỉ muốn Quốc gia Việt Nam là "một nƣớc độc Lập trên danh nghĩa" [44, 178],

Bảo Đại là một bù nhìn không hơn không kém, ràng buộc Việt Nam trong hai tổ chức "Các

quốc gia liên kết" (États associés) và "Liên hiệp Pháp" (Union française) dƣới chiếc gậy chỉ

huy của Paris. Ngƣợc lại, Mỹ đòi Pháp trao cho Quốc gia Việt Nam càng nhiều quyền hạn

càng tốt - nhƣ Mỹ đã làm ở Philippines năm 1946 - để trƣớc mắt, chính phủ Bảo Đại có thể

ngăn chặn Cộng sản ở Việt Nam một cách hữu hiệu - nhƣ chính phủ Manuel Roxas chống

phong trào Hukbalahap -và về lâu dài, Quốc gia Việt Nam thoát khỏi vòng kiểm soát của

Pháp để nằm trong quỹ đạo của Mỹ.

Đồng thời với việc công nhận chính phủ Bảo Đại, Mỹ nâng tòa tổng lãnh sự ở Sài

Gòn lên thành toà công sứ và đến tháng 7-1952 nâng tiếp lên thành toà đại sứ. Đổi lại, chính

phủ Bảo Đại đƣợc mở một tòa đại sứ tại Washington, D.C. Các nhà nghiên cứu Mỹ Marvin

Kalb và Elic Abel nhận xét: "Bức thông điệp ngoại giao [của Mỹ] thật rõ ràng: một quốc gia

có chủ quyền bang giao với một quốc gia [có chủ quyền] khác. Ớ Paris, ngƣời ta tức

97

giận khi đọc bức thông điệp ấy, xem đó là một trƣờng hợp nữa Mỹ can thiệp vào công việc

của Pháp" [82, 70].

Trƣớc đó, nằm trong ý đồ "nâng cấp quy chế ngoại giao" [82, 68] của chính phủ Bảo

Đại, ngày 8-9-1951 Mỹ mời Trần Văn Hữu, thủ trƣởng kiêm ngoại trƣởng của chính phủ ấy,

sang San Francisco dự lễ ký Hiệp định hoà bình với Nhật Bản. Đích thân ngoại trƣởng

Acheson tiếp kiến Hữu.

Từ tháng 9-1950, Đài "Tiếng nói Hoa Kỳ" (VOA) bắt đầu chƣơng trình phát thanh

bằng tiếng Việt.

Để trực tiếp nắm lấy Quốc gia Việt Nam, chính phủ Mỹ quyết định viện trợ kinh tế và

quân sự thẳng cho chính phủ Bảo Đại, thay vì thông qua Pháp nhƣ trƣớc kia, theo đúng

nguyên tắc "Ai chi tiền thì sẽ chỉ huy" (Qui paye, gouverne) của thế giới tƣ bản chủ nghĩa.

Quyết định này đƣợc Jessup chính thức thông báo tại Hội nghị các nhà ngoại giao Mỹ ở các

nƣớc Viễn Đông, tổ chức tại Bangkok từ 13 đến 15-2-1950

Mỹ định ký Hiệp ƣớc hợp tác kinh tế với chính phủ Bảo Đại vào ngày 20-6-1951.

Các viên chức Pháp ở Việt Nam "cảm thấy tức giận trƣớc sự xâm nhập (intrusion) của Mỹ"

vào Việt Nam, "xem viện trợ kinh tế của Mỹ [cho Bảo Đại] là đặc biệt độc hại (especially

pernicious)" [98, I, 72] nên tìm cách ngăn cản, viện cớ: theo Hiệp định Elysée ngày 8-3-

1949, một hành động nhƣ thế của Quốc gia Việt Nam - một thành viên của Liên hiệp Pháp -

phải đƣợc sự thỏa thuận trƣớc của Thƣợng hội đồng Liên hiệp Pháp. Hơn 2 tháng rƣỡi sau,

ngày 7-9-1951 Hiệp ƣớc nói trên mới đƣợc ký. Cũng trong năm 1951, Mỹ thành lập ở Đông

Dƣơng một "Cơ quan quản lý hợp tác kinh tế" (Economic co-operation Administration) để

chỉ đạo việc viện trợ kinh tế cho Pháp, Việt Nam Lào và Cambodge. "Theo một báo cáo mật

của Mỹ, Bảo Đại nhận đƣợc mỗi năm hơn 4 triệu đô-la" [133, 103].

98

Tiến thêm một bƣớc nữa, Mỹ định viện trợ quân sự trực tiếp cho chính phủ Bảo Đại.

Pháp kịch liệt phản đối. "Họ nhấn mạnh rằng nếu viện trợ kinh tế của Mỹ đƣợc giao trực tiếp

cho Việt Nam thì ít ra viện trợ quân sự của Mỹ chỉ nên trao cho Pháp" [71, 81]. Ngày 7-3-

1950, tƣớng Marcel Carpenlier, tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp tại Đông Dƣơng, doạ:

"Tôi sẽ chẳng bao giờ đồng ý để cho trang bị [của Mỹ] đƣợc trao trực tiếp cho ngƣời Việt

Nam. Nếu điều đó xảy ra, tôi sẽ từ chức trong vòng 24 tiếng đồng hồ". Theo viên tƣớng này,

"ngƣời Việt Nam không có tƣớng tá, không có tổ chức quân sự để có thể sử dụng trang bị đó

một cách hữu hiệu. Trang bị đó sẽ bị lãng phí và, ở Trung Hoa, Mỹ từng chán ngấy chuyện

đó" [195].

Ngày 14-9-1950, chính phủ Bảo Đại lập một phái đoàn - do tổng trƣởng quân lực

Trần Quang Vinh cầm đầu - để tiếp nhận và sử dụng viện trợ quân sự Mỹ [34, 77].

Đƣợc Mỹ viện trợ, Bảo Đại và một số tay sai khác của Pháp bắt đầu trở mặt. "Bảo

Đại nhiều lần phê phán Pháp không chịu thực hiện những cải cách mà họ đã hứa" [72, 352].

Trong hồi ký của mình, Acheson trích dẫn lời phàn nàn của Bảo Đại, theo đó "Pháp chần chừ

và keo kiệt trong việc để ông ta tạo ra những yếu tố cần thiết của một quốc gia độc lập" [38,

859]. Nguyễn Phan Long (ngoại trƣởng trong chính phủ Quốc gia Việt Nam đầu tiên, sau đó

làm thủ tƣớng) lên tiếng "yêu cầu viện trợ quân sự và viện trợ kinh tế của Mỹ phải đƣợc trao

cho Việt Nam không qua trung gian của Pháp". Theo Long, "viện trợ trực tiếp và đầy đủ của

Mỹ cho chính phủ của ông ta sẽ giúp ông ta có thể đánh bại Việt Minh trong vòng sáu tháng"

[46, 729]. Trần Văn Hữu (thay Long làm thủ tƣớng) kêu gọi Mỹ "gây sức ép với Pháp để

Pháp kiện toàn tự do dân chủ" cho Quốc gia Việt Nam [98, I, 6] v.v...

99

Các viên chức Pháp lo lắng trƣớc việc Mỹ lợi dụng viện trợ để lôi kéo tay sai của

Pháp làm tay sai cho Mỹ. Cao uỷ Pignon nói: "Một số ngƣời Mỹ đến Việt Nam có lẽ đã dụ

dỗ đƣợc một số nhân vật chính trị của Việt Nam, làm cho tầm mắt của những ngƣời này rời

bỏ Paris mà hƣớng về Washington. Chúng ta không thể che giấu một sự thật là nếu chúng ta

không ta trƣớc thì việc ngƣời Mỹ xuất hiện ngày càng nhiều sẽ làm tăng thêm khó khăn cho

chúng ta hơn nữa". Pignon đòi viện trợ Mỹ phải giao trực tiếp cho ngƣời Pháp và để cho

"ngƣời Pháp một mình phụ trách" [152, 35].

Điều Pháp lo sợ hơn nữa là quân đội Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại có thể vuột

khỏi sự kiểm soát của Pháp và rơi vào tay Mỹ. Vì vậy, tƣớng de Lattre ngăn cản việc cố vấn

quân sự Mỹ tiếp xúc với sĩ quan và binh lính của Bảo Đại, buộc mọi việc phải thông qua

ngƣời Pháp [98, I, 68]. "Khi Mỹ đề nghị gửi những huấn luyện viên [Mỹ] có kinh nghiệm từ

[Nam] Triều Tiên sang Việt Nam để huấn luyện sĩ quan Việt Nam, Pháp từ chối một cách

thẳng thừng và xem đề nghị ấy là một sự lăng nhục đối với Pháp" [82, 69].

Ngoại trƣởng Acheson kể trong hồi ký của ông ta: có lần gặp ngoại trƣởng Pháp

Robert Schuman, "chúng tôi đề nghị viện trợ vũ khí quân dụng và giúp huấn luyện quân đội

Việt Nam, nhƣng ông ta chỉ chấp nhận điều thứ nhất, lo ngại những động cơ của chúng ta khi

đề nghị điều thứ hai" [38, 843].

100

Tiết 2: Mỹ giúp Pháp đẩy mạnh chiến tranh chống Việt Nam

2.1. Sau thắng lợi của Cách mạng Trung Quốc

2.2. Sau khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ

101

2.1. Sau thắng lợi của Cách mạng Trung Quốc

Trong số những sự kiện quan trọng nhất xảy ra trên thế giới trong năm 1949 đƣợc

nhắc lại trong hồi ký "Argument Wilhout End" xuất bản nửa thế kỷ sau, Robert S.

McNamara nhấn mạnh hai sự kiện, Liên Xô thí nghiệm thành công quả bom nguyên tử đầu

tiên của họ và những ngƣời cộng sản của Mao Trạch Đông chiến thắng ở Trung Quốc" [93, ].

Sự kiện thứ nhất - xảy ra ngày 3-9-1949 - đã phá vỡ thế độc quyền về vũ khí hạt nhân

của Mỹ lúc đó. Hay tin đó, thƣợng nghị Arthur Vandenberg, chủ tịch Uỷ ban đối ngoại của

Thƣợng viện Mỹ, thảng thốt nói: "Bây giờ đã là một thế giới khác rồi!" [40, 108]. Một nhà

ngoại giao cao cấp Mỹ, John Fosler Dulles, giải thích: "Bằng cách chấm dứt một cách nhanh

chóng độc quyền của chúng ta, Liên Xô đã làm thay đổi một cách triệt để tình thế chiến lƣợc

có lợi cho họ. Khả năng của Mỹ ném bom nƣớc Nga bây giờ đã bị trung hoà một cách lớn lao

bởi khả năng của Liên Xô ném bom nguyên tử xuống Mỹ và Tây Âu. Có lẽ tình hình còn

hơn là bị trung hoà nữa, vì nền kinh tế của chúng ta có lẽ dễ bị thƣơng tổn bởi một cuộc tấn

công bằng vũ khí nguyên tử hơn nền kinh tế của Liên Xô" [59, 151].

Trong vòng một năm, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới có thêm 3 nƣớc thành viên

mới: Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên (9-9-1948), Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (1-

10-1949) và Cộng hoà dân chủ Đức (7-10-1949). Đặc biệt, thắng lợi vang dội của cách mạng

Trung Quốc - một quốc gia rộng lớn với dân số bằng 1/4 nhân loại - là một đòn nặng nề

giáng xuống chính sách ngăn chặn Cộng sản của Mỹ. Mặc dù đƣợc Washington ủng hộ, chế

độ Quốc dân đảng không tránh khỏi sụp đổ tan tành. Tƣởng Giới Thạch phải dẫn tàn quân

tháo chạy ra đảo Đài Loan, núp dƣới cái ô quân sự của Mỹ.

102

H.16. Truman (bên trái) thảo luận với thủ tướng Pháp René Pleven về Việt Nam. Đứng sau Truman là

bộ trưởng ngoại giao Dean Achcson và bộ trưởng quốc phòng Gcorge Marshall.

H.17. Tướng J. Lawton Collins, tham mưu trưởng lục quân Mỹ, được gửi sang Việt Nam (tháng 10-

1951) và được tướng de Lathe, tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương, t í. Nghị sĩ John F. Kennedy có

mặt ở hàng cuối.

H.18. Dean Acheson: Hồ Chí Minh là “kẻ tử thù của nền độc lập bản xứ ở Đông Dương”.

H.19. Nhân dân Sài Gòn xuống đường chống sự can thiệp của Mỹ (19-3-1950).

Mặc dù từ 1945 đến 1949, Mỹ viện trợ cho chế độ Tƣởng Giới Thạch hơn 3 tỷ đô-la

[116, 757] nhƣng nhiều chính khách Mỹ vẫn lớn tiếng chỉ trích chủ trƣơng "Châu Âu trƣớc

hết", phê phán chính phủ Truman quá chú trọng phòng thủ châu Âu mà không quan tâm đúng

mức việc ngăn chặn Cộng sản ở châu Á.

Do đó, Truman quyết định xem xét lại toàn bộ chính sách của Mỹ đối với châu Á,

trong đó có chính sách đối với Đông Dƣơng.

Khi hơn một nửa lãnh thổ Trung Quốc nằm ở phía bắc sông Trƣờng Giang đƣợc giải

phóng, Bộ ngoại giao Mỹ chỉ đạo cho Ban tham mƣu hoạch định chính sách (Policy

Planning Staff) viết tắt PPS) nghiên cứu tình hình Đông Nam Á để đề xuất với chính phủ một

chính sách phù hợp. Văn kiện PPS.51 dày 39 trang nhan đề "Chính sách Mỹ đối với Đông

Nam Á" đƣợc thông qua ngày 29-3-1949 đánh giá cao tầm quan trọng của Đông Nam Á về

mặt chiến lƣợc ("Đông Nam Á là một cung đoạn quan trọng sống còn trên tuyến đƣờng ngăn

chặn [Cộng sản] trải dài từ Nhật Bản xuống phía nam đến tận bán đảo Ấn Độ") cũng nhƣ về

mặt kinh tế ("Đông Nam Á quan trọng đối với thế giới tự do vì đây là một nguồn nguyên

liệu, kể cả cao su, thiếc, dầu lửa, và là một giao điểm của các đƣờng giao thông thế giới từ

đông sang tây, từ bắc xuống nam"), do đó "sự bành trƣớng của thế lực cộng sản ở Trung

Quốc biểu hiện một thất bại chính trị nghiêm trọng đối với chúng ta. Nếu Đông Nam Á cũng

bị cộng sản lấy đi, chúng ta sẽ gặp một thảm bại chính trị to lớn, ảnh hƣởng của thảm bại này

sẽ đƣợc nhận thấy ở phần còn lại của thế giới, đặc biệt là ở Trung Đông và ở Auslralia lúc đó

sẽ bị phơi bày một cách nguy hiểm" [72, 335-336].

Ba tháng sau, Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ (National Security Council, viết tắt

NSC) đƣa ra văn kiện NSC.48/1 nhấn mạnh: "Bây giờ rõ ràng rằng

103

Đông Nam Á là mục tiêu của một cuộc tấn công phối hợp do Kremlin chỉ huy... Cuộc xung

đột hiện nay giữa chủ nghĩa thực dân và nền độc lập của ngƣời bản xứ là yếu tố chính trị

quan trọng nhất tại Đông Nam Á... Trong bất kỳ trƣờng hợp nào, xung đột giữa chủ nghĩa

thực dân và chủ nghĩa dân tộc tạo ra mảnh đất màu mỡ cho cộng sản hoạt động phá hoại...

Mỹ phải tiếp tục dùng ảnh hƣởng của mình tìm cách giải quyết xung đột giữa chủ nghĩa thực

dân và chủ nghĩa dân tộc sao cho thỏa mãn đƣợc những yêu cầu cơ bản của cuộc xung đột

này, đặt cơ sở cho sự ổn định về chính trị và cho công cuộc chống Cộng và tránh làm suy yếu

các cƣờng quốc thực dân vốn là đồng minh phƣơng Tây của chúng ta" [98, I, 37-38].

Ngày 6-10-1949, hai Viện của Quốc hội Mỹ phê chuẩn Đạo luật viện trợ phòng thủ

hỗ tƣơng (Mutual Defense Assistance Act) lập ra chƣơng trình "cung cấp vũ khí, trang bị

quân sự và giúp huấn luyện nhằm phòng thủ tập thể (collective defense) trên quy mô toàn thế

giới" [98, I, 36], không chỉ ở châu Âu mà cả châu Á và những nơi khác nữa.

Để thành lập "tuyến đƣờng ngăn chặn" (line of containment), Mỹ ký với các chính

phủ một số nƣớc châu Á - Thái Bình Dƣơng một loạt hiệp ƣớc phòng thủ hỗ tƣơng tay đôi

hay tay ba (nhƣ Mỹ-Đài Loan, 6-1950; Mỹ-Thái Lan, 17-10-1950; Mỹ-Philippines, 31-8-

1951; Mỹ-Australia-New Zealand, 1-9-1951, Mỹ-Nhật, 18-9-1951 ...) cho phép Mỹ lập căn

cứ quân sự và đóng quân trên lãnh thổ những nƣớc ấy.

Ỡ Việt Nam mặc dù Mỹ viện trợ Pháp một cách dồi dào qua "Kế hoạch Marshall",

theo ngoại trƣởng Mỹ Acheson "tình hình quân sự trở nên xấu hơn (...) Năm 1949 chế độ

Việt Minh của Hồ [Chí Minh] thi hành quyền lực trên một phần lớn của đất nƣớc" [38, 859].

Một tác giả Mỹ viết: "Theo các đánh

104

giá chính thức vào cuối năm 1949, nếu thiếu viện trợ Mỹ thì lực lƣợng của Pháp ở Bắc Kỳ

chỉ [có thể cầm cự] từ 6 đến 9 tháng nữa thôi" [83].

Vì vậy, đích thân Truman chủ tọa phiên họp ngày 30-12-1949 của Hội đồng an ninh

quốc gia NSC để thông qua văn kiện NSC.48/2: "Phải đặc biệt chú ý đến vấn đề Đông

Dƣơng thuộc Pháp" [98, I, 39].

Gần hai tháng sau, NSC đƣa ra văn kiện NSC.64 ngày 27-2-1950. Đây là văn kiện

đầu tiên của NSC dành riêng cho vấn đề Đông Dƣơng: "Đông Dƣơng là một khu vực then

chốt và đang bị trực tiếp đe dọa .. Việc Cộng sản đe dọa xâm lăng Đông Dƣơng chỉ là một

phần trong kế hoạch đã định trƣớc của Cộng sản nhằm kiểm soát toàn bộ Đông Nam Á ...

Nếu Đông Dƣơng bị một chính phủ cộng sản kiểm soát, các nƣớc láng giềng nhƣ Thái Lan

và Miến Điện có thể rơi vào ách thông trị của Cộng sản ... Do đó Bộ ngoại giao và Bộ quốc

phòng phải ƣu tiên chuẩn bị một chƣơng trình gồm những biện pháp thực tế nhằm bảo vệ lợi

ích an ninh của Mỹ ở Đông Dƣơng" [98, I, 361 ].

Trong một giác thƣ gửi Bộ trƣởng quốc phòng Mỹ, Hội đồng tham mƣu Liên

quân Mỹ đề cập đến điều sau này đƣợc gọi là "thuyết đô-mi-nô" (the domino theory):

"Không còn nghi ngờ gì nữa sự sụp đổ của Đông Dƣơng sẽ dẫn tới sự sụp đổ của những quốc

gia khác ở lục địa Đông Nam Á" [98, I, 187]. Để nắm tình hình tại chỗ, trong nửa dầu năm

1950, Tru man liên tiếp cứ 3 phái đoàn (do Philip C.Jessup, R. Allen Griffin và Robert Blum

cầm đầu) sang Việt Nam, chƣa kể chuyến đi của Kenneth P. Landon, vụ trƣởng Vụ Đông

Nam Á thuộc Bộ ngoại giao Mỹ vào tháng 4-1950.

Pháp nhân cơ hội này tìm cách đòi Mỹ viện trợ càng nhiều càng tốt.

Gặp Dean Acheson tại Hội nghị ngoại trƣởng Mỹ-Pháp-Anh rổ chức ở Washington,

D.C vào đầu tháng 9-1949, Robert Schuman than thở: "Nƣớc Pháp đã chi phí cho chiến tranh

Đông Dƣơng mỗi năm gần 500 triệu đô-la, tức

105

một nửa tổng ngân sách quân sự của mình" [133, 101]. Ông nói tiếp: vì quân Pháp đang ngăn

chặn Cộng sản bành trƣớng ở Đông Nam Á, Mỹ cần phải viện trợ quân sự nhiều hơn nữa cho

Pháp và 3 nƣớc Đông Dƣơng [72, 326].

Ngày 29-1-1950, Frédéric Duponl tuyên bố trƣớc Hạ viện Pháp: "Chiến tranh Đông

Dƣơng luôn luôn là một cuộc trắc nghiệm của Liên hiệp Pháp trƣớc Cộng sản quốc tế.

Nhƣng từ khi Trung Cộng tiến đến biên giới Bắc Kỳ, Đông Dƣơng trở thành biên giới của

nền văn minh phƣơng Tây và chiến tranh Đông Dƣơng hoà nhập vào chiến tranh lạnh" [98, I,

64].

Ngày 16-2-1950, đại sứ Mỹ tại Paris đƣợc mời đến trụ sở Bộ ngoại giao Pháp để nghe

trình bày "tình hình cực kỳ nghiêm trọng ở Đông Dƣơng". "Nƣớc Pháp không thể tiếp tục vô

thời hạn một mình đảm đƣơng gánh nặng này". Phía Pháp doạ: nếu Mỹ không tăng thêm viện

trợ thì "Pháp có thể bị buộc phải xem xét lại toàn bộ chính sách của mình và có thể dự kiến

rút lui khỏi Đông Dƣơng" []. Thậm chí một viên chức Pháp còn nói thẳng ra rằng, thiếu viện

trợ của Mỹ, Pháp có thể "để Đông Dƣơng rơi vào tay Mockba" [133, 101].

Ngày 8-5-1950, sau khi hội đàm với R. Schuman ở Paris, Acheson cho biết: "Ngoại

trƣởng [Pháp] và tôi vừa trao đổi ý kiến về tình hình Đông Dƣơng và nhất trí với nhau về tính

chất khẩn cấp của tình hình ở khu vực đó cũng nhƣ sự cần thiết phải có hành động cứu chữa"

[176].

Cùng ngày hôm đó, tại Washington, Truman thông báo chƣơng trình viện trợ cho

Pháp ở Đông Dƣơng, bắt đầu bằng khoản tiền 10 triệu đô-la.

2.2. Sau khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ

Ngày 25-6-1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ.

106

Tại cuộc họp chung của Uỷ ban quân vụ và Uỷ ban đối ngoại (thuộc Thƣợng viện

Mỹ), đại tƣớng George C. Marshall, bộ trƣởng Quốc phòng Mỹ, nhận định: "Tôi nghĩ có

một mối quan hệ rất trực tiếp [giữa Chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Đông Dƣơng]" []

vì phía sau hai cuộc chiến ấy đều có bóng dáng của nƣớc Trung Hoa mới. "Triều Tiên và

Đông Dƣơng đƣợc xem là hai trận đánh sinh đôi (twin battles)trong cùng một nỗ lực của

Cộng sản quốc tế nhằm chiếm châu Á" [51, 23].

Vì giữa hai cuộc chiến tranh đó có một quan hệ mật thiết nên "Việt Nam và Triều

Tiên (...) đƣợc xem là hai đoạn phụ thuộc lẫn nhau của cùng một con đê chống lại sự bành

trƣớng của Trung Cộng" [80, 38], "các cuộc chiến tranh ở Triều Tiên và Đông Dƣơng đƣợc

xem nhƣ hai mặt của cùng một cuộc chiến chống lại Cộng sản" [72, 362-363].

Theo tƣớng Marshall, "tiêu diệt quân Trung Cộng trong các cuộc hành quân ở Triều

Tiên có thể hạn chế hành động của các lực lƣợng Trung Cộng trên biên giới Đông Dƣơng [],

bù lại, "nỗ lực quân sự [của Pháp] ở Việt Nam lúc này làm nhẹ bớt gánh nặng của Mỹ ở

Triều Tiên" [130, 279]. Vì vậy, tổng thống Mỹ Truman nói cuộc chiến tranh của Pháp ở

Đông Dƣơng "cũng là một cuộc chiến đấu cho tự do" [84, 43] giống nhƣ cuộc chiến tranh

của Mỹ ở Triều Tiên.

Cho nên, ngày 27-6, tức chỉ hai ngày sau khi chiến tranh Triều Tiên bắt đầu, Truman

tuyên bố "đã chỉ thị đẩy nhanh việc cung cấp viện trợ quân sự cho các lực lƣợng của Pháp và

các Quốc gia liên kết ở Đông Dƣơng". Đặc biệt, ông quyết định "gửi [sang Đông Dƣơng]

một phái đoàn quân sự để có những mối quan hộ cộng tác mật thiết với các lực lƣợng này

[của Pháp và các nƣớc Đông Dƣơng]" [112, II, 386].

107

Thi hành quyết định này của Truman, 35 cố vấn quân sự Mỹ trong Phái đoàn cố vấn

viện trợ quân sự" (Military Assistance Advisory Group, viết tắt MAAG) đặt chân lên Việt

Nam. Đây là những quân nhân Mỹ đầu tiên hoạt động tại Việt Nam, mở đầu cho sự hiện diện

quân sự của Mỹ ở đất nƣớc này. Gần hai thập niên sau, số lính Mỹ ở Việt Nam tăng lên tới

hơn nửa triệu. Nhà sử học Mỹ Draper nhận định: "Việc cử phái đoàn cô vấn này [sang Việt

Nam] là bƣớc ngoặt đầu tiên trong quá trình dính líu của Mỹ vào Việt Nam" []. Sự dính líu

càng sâu đòi hỏi số quân Mỹ ở Việt Nam càng đông, số thƣơng vong cũng càng nhiều. Vì

vậy, các tác giả cuốn "Nguồn gốc của sự dính líu" (Roots of Involvment) gọi quyết định của

Truman trong ngày 27-6-1950 là "một quyết định gây tai hoạ" [82, 62].

Để đáp lễ, một tiểu đoàn Pháp đƣợc gửi sang Triều Tiên "sáp nhập vào sƣ đoàn bộ

binh số 2 của Mỹ, tham dự các trận đánh ở Chipyong-ni, Wonju, núi Trọc ..." [129].

Ngày 10-10, thiếu tƣớng Francis G. Brink đƣợc cử sang cầm đầu MAAG, trụ sở đặt

tại Sài Gòn.

Trƣớc đó, ngày 15-7, Truman cử một phái đoàn do thiếu tƣớng Graves B. Erskine

(đại diện Bộ quốc phòng) và John Melby (đại diện Bộ ngoại giao) để nghiên cứu cách viện

trợ quân sự cho Việt Nam và các nƣớc Đông Nam Á khác nhằm "ngăn chặn bƣớc tiến của

Cộng sản ở khu vực này" [72, 353].

Từ khi Pháp tiến hành tái chiếm Đông Dƣơng, Mỹ chi viện cho các nỗ lực chiến tranh

của Pháp. Tuy nhiên, để tránh tiếng, Mỹ viện trợ một cách gián tiếp thông qua Paris

(indirect assistance via Paris): vũ khí và dụng cụ chiến tranh đƣợc chở sang Pháp rồi

Pháp chuyển sang Việt Nam. Song từ nay, hàng viện trợ đƣợc giao ngay tại Việt Nam, vừa

đỡ tốn kém và mất thì giờ, vừa tránh những cuộc bãi công phản đối cuộc "chiến tranh nhơ

bẩn" (la sale

108

guerre) ở Đông Dƣơng của công nhân các bến cảng Pháp. Ngày 30-6-1950, chuyến tàu đầu

tiên từ Mỹ sang thẳng Việt Nam cập cảng Sài Gòn, chở 48 máy bay chiến đấu Hellcat, 8 máy

bay vận tải C.47, 36 tàu LCVP có thể di chuyển trên kênh lạch, một lƣợng vũ khí, quân trang,

quân dụng đủ dể trang bị cho 12 tiểu đoàn của quân đội Bảo Đại.

Ngày 16-9, quân đội Việt Nam tấn công cụm cứ điểm Đông Khê, mở đầu chiến dịch

Biên giới. Sau hơn một tháng (16-9 - 22-10-1950), theo một tác giả Mỹ gốc Pháp, "quân

Pháp mất hơn 7000 ngƣời, 13 đại bác, 123 súng cối, 450 xe, 3 đội thiết giáp, 940 súng liên

thanh, 1200 súng trung liên và hơn 8000 súng" [129,34].

Livingston Merchant, một chuyên viên Mỹ về những vấn đề quân sự của Pháp, gửi

cho ngoại trƣởng Acheson một giác thƣ khẩn cấp, nhấn mạnh: "Tình hình quân sự ở Việt

Nam là cực kỳ nghiêm trọng", đề nghị "viện trợ quân sự [của Mỹ cho Pháp] phải đƣợc ƣu

tiên cao nhất", gợi ý "chúng ta [tức Mỹ] phải tăng cƣờng một tuyến phòng thủ thứ hai ở Thái

Lan, Mã Lai, Lào, Cam-Bốt, Philippines và Indonesia" [38, 858-859].

Acheson "đồng ý tăng nhiều viện trợ quân sự [cho Pháp]" [38, 859]. Súng đạn,

phƣơng tiện chiến tranh các loại đƣợc chở tới tấp sang Việt Nam:

28-10-1950 : 40 máy bay Hellcat

5-11 : 11 máy bay Privateer

24-12 : 30 máy bay B.26

1-2-1951 : 40 máy bay Bcercat

2-3 : 1 tàu công binh xƣởng và 6 tàu tuần tiễu

26-3 : 46 máy bay Beercat

v.v... [34,tr.79, 80, 83, 86, 88, 89]

109

Ngày 23-12-1950, Mỹ ký Hiệp ƣớc viện trợ phòng thủ hỗ tƣơng (Mutnal Defence

Assistance Agreement) với Pháp và ba nƣớc Đông Dƣơng. Theo lời Acheson "viện trợ quân

sự của chúng ta trong năm 1951 đại đến hơn nửa tỷ đô-la" và sang năm 1952 "chúng ta đóng

góp hơn 1 phần 3 chi phí chiến nanh ở Đông Dƣơng" [38, tr.859,861].

Theo một tác giả Mỹ, từ giữa năm 1950 đến cuối 1952 (lúc Truman rời Nhà Trắng),

Mỹ đã cung cấp cho Pháp 539.847 tấn trang thiết bị quân sự (trị giá 334,7 triệu đô-la) qua

các cảng Sài Gòn và Hải Phòng [80, 37].

Ngoài viện trợ vũ khí và đô-la, Mỹ còn đặt ra chƣơng trình cho Pháp mƣợn trang thiết

bị quân sự để dùng trong chiến tranh Việt Nam. Chẳng hạn, tháng 1-1951 Mỹ cho Pháp

mƣợn chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên; năm sau, cho mƣợn 54 máy bay vận tải C.47 và

28 lính cơ khí không quân để bảo trì và sửa chữa số máy bay này. Mỹ cũng thƣờng xuyên

cung cấp các máy bay chiến đấu F.6F và F.8F để thay thế những máy bay cùng loại bị hƣ

hỏng trong quá trình sử dụng, giúp Pháp luôn luôn có đƣợc 4 phi đội máy bay chiến đấu ở

Đông Dƣơng [80, 37].

Từ đầu 1952, Mỹ lập thêm "Chƣơng trình Lisbon" (Lisbon Program) nhằm cung

cấp đô-la cho Pháp mua trang bị chiến tranh do các nhà máy của Pháp sản xuất rồi đƣa sang

sử dụng trong chiến tranh Đông Dƣơng. Kinh phí của chƣơng trình này trong năm 1952 là

200 triệu đô-la (và tăng lên 500, rồi 785 triệu đô-la trong các năm sau đó) [80, 37] .

Càng lún sâu vào chiến tranh Triều Tiên, Mỹ càng cần có Pháp ở Đông Dƣơng để

"chia lửa". Vì vậy, một thông cáo của Bộ ngoại giao Mỹ cho rằng Pháp đang có một "vai trò

hàng đầu ở Đông Dƣơng" giống nhƣ vai trò mà Mỹ đảm nhận ở Triều Tiên, rằng chiến tranh

ở Đông Dƣơng là một bộ phận của

110

cuộc chiến đấu trên toàn thế giới chống lại "những mƣu đồ chinh phục và phá hoại của Cộng

sản" [177, 1010].

Trƣớc những yêu cầu tăng viện trợ của Pháp, Mỹ đành phải đáp ứng, vì trong con mắt

chính quyền Truman, "Đông Dƣơng đã trở thành một vấn đề quân sự, do đó [Mỹ] giảm quan

tâm tới chính sách thuộc địa của Pháp" [72, 331] vì sợ làm mất lòng Pháp: "nƣớc Pháp lúc

nào cũng có thể dọa chấm dứt chiến tranh và rút khỏi Đông Dƣơng", trong khi Mỹ cho rằng

"duy trì một Đông Dƣơng không cộng sản là một điều quan trọng sống còn cho quyền lợi của

phƣơng Tây, đặc biệt là của Mỹ" [98, I, 78].

111

Tiết 3: Mỹ giúp Pháp kéo dài chiến tranh chống Việt Nam (1953- giữa

1954)

3.1. Mỹ và "Kế hoạch Navarre"

3.2. Mỹ và chiến cuộc Điện Biên Phủ

3.3. Mỹ phá hoại Hội nghị Genève

3.3.1 Mỹ chống thƣơng thuyết để chấm dứt chiến tranh

3.3.2 Mỹ tìm cách làm cho Hội nghị Genève không diễn ra (18-2-7-5-1954)

3.3.3. Mỹ tìm cách làm cho Hội nghị Genève thất bại (8-5 - 20-7-1954)

112

Trong cuộc bầu cử tổng thống cuối năm 1952, Đảng Cộng hoà đƣa Dwight D.

Eisenhower - Richard M. Nixon ra tranh với hai ứng cử viên của Đảng Dân chủ là Adlai E.

Stevenson và John Spaark.

Trong nhiều năm qua, Đảng Cộng hoà vẫn ủng hộ các chủ trƣơng chính sách của

chính phủ Truman, từ "chiến tranh lạnh" chống phe xã hội chủ nghĩa đến chiến tranh ở Triều

Tiên(1). Bản thân Eisenhower từng phục vụ liên tục nhiều năm dƣới quyền của Truman(2).

Nhƣng trong suốt cuộc vận động tranh cử, Đảng Cộng hoà khai thác khát vọng hoà bình của

cử tri Mỹ, lên án Đảng Dân chủ là "đảng của chiến tranh" (the party of war). Eisenhower hứa

hẹn: nếu đắc cử, sẽ "đi tới Triều Tiên và cố gắng chấm dứt chiến tranh" [116, 790]. Nhờ vậy,

các ứng viên của Đảng Cộng hoà đã thắng cử, chấm dứt 20 năm cầm quyền liên tục (1933-

1952) của Đảng Dân chủ.

Tuy nhiên, "chẳng có sự khác nhau cơ bản nào giữa chính sách đối ngoại của họ

[Eisenhower - Dulles] và của Truman - Acheson" [40, 134J], do đó "việc thay đổi quyền lực

ở Washington không làm dịu bớt những sự căng thẳng của chiến tranh lạnh" [116, 790], thậm

chí còn làm tăng thêm.

Trong diễn văn nhậm chức tổng thống ngày 20-1-1953, Eisenhower không cần che

đậy tham vọng bá chủ thế giới của Mỹ: "Định mệnh đã đặt lên đất nƣớc chúng ta trách nhiệm

(1) Chẳng hạn đầu năm 1952, John F.Dulles còn ca ngợi chính quyền Truman: "Năm năm qua đƣợc đánh dấu bằng những thành công" (trích dẫn trong [121, 68]). (2) Sau Thế chiến thứ hai, Eisenhower đƣợc Truman cử làm tham mƣu trƣởng Lục quân Mỹ (1945-48). Trên cƣơng vị đó tháng 10-1945, ông tham gia soạn thảo một kế hoạch dự kiến ném 20 quả bom nguyên tử xuống 20 thành phố của Liên xô (178, 84). Eisenhower từng khuyên Truman lập ra một hệ thống căn cứ quân sự ở khắp nơi trên thế giới để bao vây các quốc gia cộng sản [96, 157]. Ông tích cực góp phần thành lập Tổ chức hiệp ƣớc Bắc Đại Tây Dƣơng NATO và đƣợc Truman cử làm tƣ lệnh tối cao đầu tiên Các lực lƣợng vũ trang của khối quân sự này (1950-1952).

lãnh đạo thế giới tự do” [185].

113

Mặc dù Mỹ đã mất độc quyền về vũ khí hạt nhân(1), nhƣng dựa vào ƣu thế về số

lƣợng và chất lƣợng của vũ khí hạt nhân cũng nhƣ về phƣơng tiện chuyên chở và ném bom

hạt nhân (nhƣ máy bay ném bom chiến lƣợc B.29, siêu pháo đài bay B.52 v.v...), Eisenhower

tuyên bố: "Chúng ta sẽ không nhƣợng bộ trƣớc sự đe doạ nào và không tự hạn chế chúng ta

trong việc dùng các loại vũ khí khi cần thiết" [12, 12]. Chính phủ Eisenhower chủ trƣơng đẩy

mạnh cuộc chạy đua vũ trang để tạo ra "một khả năng to lớn nhằm trả đũa ngay lập tức bằng

những phƣơng tiện và tại những địa điểm do chính chúng ta lựa chọn" [42, 11], nhiều lần đẩy

loài ngƣời đến trƣớc nguy cơ nổ ra một cuộc chiến tranh thế giới mới: "Có ngƣời nói chúng

ta bị đƣa đến miệng hố của chiến tranh... Nếu anh sợ đi đến miệng hố, anh sẽ thua... Chúng ta

phải đi đến miệng hố, nhìn trực diện chiến tranh, có hành động mạnh" []. Đó là cơ sở của cái

gọi là "chiến lƣợc trả đũa ồ ạt" (massive retaliation strategy) và "chính sách bên miệng hố

chiến tranh" (brink of war policy hay policy of brinkmanship) của chính phủ Eisenhower.

Eisenhower - Dulles phê phán chính sách ngăn chặn Cộng sản (containment policy

hay policy of containing Communism) của chính phủ tiền nhiệm, cho rằng chính sách đó

mang tính chất phòng ngự (defensive), thụ động (passive) và không hiệu quả (ineffective):

"Chính sách đó cuối cùng không nhằm giành thắng lợi... Tốt nhất, có lẽ nó cũng chỉ có thể

giữ cho chúng ta ở yên một chỗ cho đến khi chúng ta gục xuống vì kiệt sức" [40, 133]. Thay

vào đó, Eisenhower - Dulles chủ trƣơng chính sách đẩy lùi Cộng sản (policy of rolling back

(1) Liên Xô thử nghiệm thành công bom nguyên tử (tháng 9-1945) và bom khinh khí (tháng 8-1953).

Communism) nhằm "giải phóng" (liberation) các nƣớc xã hội chủ

114

H.20. Dwight D. Eisenhower: "Tầm quan trọng chiến lược của Đông Dương là rõ ràng ".

H.21. Eisenhower thảo luận với ngoại trưởng John F. Dulles

H.22. Hai trợ lý thân thiết của Eisenhower: phó tổng thống Richard M. Nixon và ngoại trưởng Dulles.

H.23. Dulles thảo luận với nguyên thủ tướng Pháp Antoine Pinay và đại sứ Pháp tại Mỹ Henri Bonnet.

nghĩa, một chính sách mà họ ca ngợi là năng động (dynamic) và chủ động (active) hơn.

Eisenhower - Dulles cũng đả kích chủ trƣơng "Châu Âu trƣớc hết" (Europe first) của

Truman mà họ quy cho trách nhiệm làm thất thủ Trung Hoa vào tay Cộng sản: "Chúng tôi

không có ý định hy sinh phƣơng Đông [châu Á] để có đƣợc thời gian cho phƣơng Tây [châu

Âu]" [40, 133]. Chính sách đẩy lùi Cộng sản sẽ đƣợc thực hiện không chỉ với Đông Âu mà

cả với Trung Quốc, Bắc Triều Tiên ...

Trƣớc viễn tƣởng thắng lợi của cuộc kháng chiến của nhân dân ba nƣớc Đông Dƣơng,

Eisenhower tuyên bố trong cuộc họp báo ngày 7-4-1954: "Châu Á đã mất đến 450 triệu dân

trong vòng chuyên chính cộng sản rồi, nên Mỹ không thể để cho mất thêm nữa" [120, 390].

Hơn một tuần sau, 16-4, Nixon khẳng định: "Là lãnh tụ của thế giới tự do, Mỹ không thể

chịu lùi bƣớc xa hơn nữa ở châu Á" [200]. Sau đó, 23-4-1954, tại Paris, Dulles cũng nói:

"Chúng tôi không chấp nhận cho Cộng sản tiến thêm một bƣớc nhỏ nào ở Đông Nam Á ...

Nếu chúng ta không ngăn chặn ngay lập tức bằng mọi phƣơng tiện, chúng ta sẽ bị quét sạch"

[147, 48-49].

Trong bối cảnh đó, Đông Dƣơng "có lẽ chiếm ƣu tiên số một trong chính sách đối

ngoại, vì trên một số mặt, Đông Dƣơng còn quan trọng hơn cả Triều Tiên" [127, 133] vì

"Đông Dƣơng có tầm quan trọng chiến lƣợc rõ ràng" 164, 403]: "Nếu Đông Dƣơng sụp đổ,

thì không chỉ Thái Lan, mà cả Miến Điện và Mã Lai cũng sẽ bị đe dọa, và Đông Pakistan

cùng Nam Á cũng nhƣ Indonesia sẽ gặp thêm nhiều nguy hiểm" [64, 2]. Chính Eisenhower là

ngƣời đầu tiên đặt cho lối lập luận đó cái tên "thuyết đô-mi-nô" (the domino theory): "Việc

thất thủ Đông Dƣơng sẽ gây ra sự sụp đổ của Đông Nam Á giống nhƣ một ván cờ đô-mi-nô"

[188]. Do đó, "việc thất thủ Đông Dƣơng sẽ nguy kịch cho nền

115

an ninh của Mỹ" (kết luận của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ, tháng 8-1953, [97, 10]), "lúc

đó Mỹ có thể bị đẩy lùi tới Hawaii nhƣ trƣớc Thế chiến thứ hai" [] "dẫn tới sự thay đổi trong

cán cân lực lƣợng trên toàn châu Á và Thái Bình Dƣơng" [64, 346], "có những hậu quả

không sao lƣờng nƣớc đƣợc đối với thế giới tự do" [] v.v..., vì vậy - nhƣ Eisenhower nhấn

mạnh - "với tƣ cách là một dân tộc, chúng ta không thể đứng bàng quan" [64, 217].

Mỹ không thể đứng bàng quan, nhƣng Mỹ chƣa thể trực tiếp dính líu vào Đông

Dƣơng. Khi Eisenhower bƣớc vào Nhà Trắng, cuộc chiến tranh hao ngƣời tốn của của Mỹ ở

Triều Tiên đã kéo dài hai năm rƣỡi. "Nhân dân [Mỹ] bắt đầu tự hỏi tại sao mạng sống của

ngƣời Mỹ lại bị hy sinh ở cái xứ sở xa xôi đó" [122, 788]. Đảng Dân chủ của Truman thất bại

trong cuộc bầu cử tổng thống cuối năm 1952 một phần cũng do không trả lời đƣợc câu hỏi

đó. Vì thế, Eisenhower không thể liều lĩnh đƣa nƣớc Mỹ dính dáng vào một cuộc phiêu lƣu

quân sự khác ở Đông Dƣơng.

Trƣớc mắt, Mỹ chỉ có thể can thiệp vào Việt Nam một cách gián tiếp.

Qua Bảo Đại ƣ? Eisenhower nhận xét: "Trong khi trên danh nghĩa là quốc trƣởng,

ông ta lại dành phần rất lớn thời gian để sống ở những nơi có suối nƣớc khoáng bên châu Âu

hơn là ở tại đất nƣớc của ông ta đặng lãnh đạo quân đội của mình chống lại quân đội cộng

sản" [64, 409]. Nixon cũng cho rằng chính phủ và quân đội quốc gia của Bảo Đại "thiếu khả

năng để tự điều khiển cuộc chiến hay tự quản lý chính họ. Nếu Pháp rút lui, Đông Dƣơng sẽ

bị Cộng sản thống trị trong vùng một tháng" [200].

Do đó, Mỹ vẫn phải dùng Pháp làm "viên cảnh sát khu vực" để canh giữ quyền lợi

của phƣơng Tây ở Đông Dƣơng.

Hai tháng sau khi lên làm tổng thống, Eisenhower cử tƣớng Mark W. Clark, tƣ lệnh

quân Mỹ ở Viễn Đông, sang Sài Gòn ngày 19-3-1953. Clark có

116

những buổi thảo luận với tƣớng Raoul Salan, tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dƣơng và với

Bảo Đại rồi bay ra Hà Nội ngày 23-3 (để nắm tình hình Bắc Bộ - chiến trƣờng then chốt của

Đông Dƣơng.

Hơn một tháng sau, đô đốc Arlhur W. Radford, chủ lịch Hội đồng tham mƣu trƣởng

liên quân Mỹ, đƣợc cử sang Sài Gòn ngày 25-4.

Nhận đƣợc các báo cáo không lấy gì làm lạc quan của Clark và Radford, Eisenhower

nghĩ rằng: "Nếu không đƣợc ngăn chặn một cách kiên quyết và nhanh chóng, tình hình có thể

trở nên thực sự báo động" [64, 216].

Trong thông điệp gửi cho Quốc hội Mỹ ngày 5-5, Eisenhower nhấn mạnh "cần phải

cung cấp cho Pháp và các Quốc gia liên kết [ở Đông Dƣơng] những tiềm lực lớn hơn để

chống lại cuộc xâm lăng của Cộng sản. Điều đó nằm trong lợi ích của chúng ta" [64, 217].

Vài ngày sau, tƣớng Waller B. Smith, thứ trƣởng Bộ ngoại giao Mỹ, cũng nhận định: "Giúp

đỡ thật sự cho Pháp đã trở thành một điều cần thiết cho quốc gia chúng ta" [64, 218].

Nhƣng viện trợ hào phóng của Mỹ - lúc đó vƣợt hơn 1/3 chiến phí ở Đông Dƣơng

[38, 861] - không ngăn đƣợc những tổn thất to lớn của Pháp. Theo một tác giả Mỹ, chỉ trong

sáu năm (đầu 1947-cuối 1952), có đến hơn 9 vạn lính viễn chinh Pháp chết, bị thƣơng, bị bắt

và mất tích" [133, 108]. Eisenhower cũng thừa nhận "năm 1952, Pháp mất [ở Đông Dƣơng]

nhiều sĩ quan hơn là số tốt nghiệp Học viện quân sự Saint-Cyr trong cùng năm đó" [64, 215].

Về tiền bạc, vẫn theo Eisenhower, "để theo đuổi chiến tranh, Pháp đã tiêu hơn 3,5 tỷ đô-la

của nền kinh tế bị chiến tranh [thế giới thứ hai] tàn phá của họ" [64, 215]. Nhƣ thế, chi phí

chiến tranh cao gấp hai lần số tiền mà Pháp nhận đƣợc từ Kế hoạch Marshall của Mỹ [133,

108]. "Chi tiêu cho chiến trƣờng [Đông Dƣơng] không chỉ là một gánh nặng cho ngƣời dân

Pháp phải đóng thuế, mà

117

còn là lý do chính khiến cho nền kinh tế Pháp sau Thế chiến thứ hai phục hồi rất chậm so với

nƣớc Đức bại trận" [46, II, 798].

Trong hai tháng cuối năm 1952, Pháp mất quyền kiểm soát một vùng đất rộng 28.500

cây số vuông nằm giữa sông Thao và biên giới Việt-Lào. Sau đó, trong chƣa đầy một tháng,

lại mất thêm mấy tỉnh ở Thƣợng Lào. Vào tháng 5-1953, Pháp chỉ còn kiểm soát 1.803 làng

và thị xã (31,14%) so với 2.143 làng và thị xã (37,01%) do Việt Minh kiểm soát; 1.843 làng

và thị xã (31,83%) còn lại đƣợc xem là "mất an ninh" [63, 281]. Một năm sau, "Việt Minh

hầu nhƣ làm chủ trên hơn 3/4 Việt Nam và sẵn sàng tràn ngập nhiều hơn nữa. Ở Bắc Bộ,

Pháp chỉ kiểm soát không nhiều hơn các thành phố Hà Nội và Hải Phòng, hầu hết các làng

mạc ở châu thổ sông Hồng đều do Việt Minh thực sự kiểm soát" [81,47].

Tháng 2-1954, chính phủ Pháp cử sang Đông Dƣơng một phái đoàn quân sự cao cấp,

gồm bộ trƣởng Quốc phòng René Pleven, tổng tham mƣu trƣởng Quân đội Paul Ely, tham

mƣu trƣởng Lục quân Blanc và tham mƣu trƣởng không quân Fay. Sau khi thị sát tình hình,

phái đoàn đƣa ra một nhận định bi quan: "Một sự tăng cƣờng, dù lớn đến đâu, cho đạo quân

viễn chinh cũng không thể làm thay đổi đƣợc tình hình. Vả lại, cố gắng quân sự của chính

quốc đã tới giới hạn cuối cùng" [137, 62].

"Có nhiều quan chức Pháp không còn tin tƣởng ở khả năng giành đƣợc thắng lợi".

Một số tìm cách rút ra khỏi vũng lầy chiến tranh Đông Dƣơng. Điều mà những ngƣời

cầm đầu chính phủ Mỹ lo sợ, điều mà William C. Bulltt gọi là "thảm họa tệ hại nhất có thể

xảy ra (...) đó là Pháp, trong khi mệt mỏi, đầu hàng Hồ Chí Minh và các đồng chí cộng sản

của ông" [], điều đó có khả năng trở thành hiện thực. Thƣợng nghị sĩ Mỹ Alexander Wiley

118

không dấu nỗi lo lắng: "Chúng ta sẽ rơi vào chỗ bế tắc khủng khiếp nếu Pháp không tiếp tục

theo đuổi chiến tranh nữa" [194].

Để ngăn chặn "chỗ bế tắc" này xảy ra, chính phủ Mỹ "đã làm áp lực rất mạnh đối với

Pháp để họ tiếp tục chiến đấu ở Đông Dƣơng" [187]. Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ đề nghị

Eisenhower "thông báo cho Paris biết rằng việc Pháp bằng lòng để cho Cộng sản tiếp quản

Đông Dƣơng sẽ liên hệ tới địa vị của Pháp nhƣ là một trong ba cƣờng quốc [Mỹ, Anh,

Pháp]" và trong trƣờng hợp đó "viện trợ của Mỹ dành cho Pháp sẽ tự động ngƣng" [97].

Đi kèm với những lời đe dọa nói trên là những câu ca ngợi đội quân viễn chinh Pháp

đang chiến đấu và hy sinh trong "cuộc thập tự chinh chống Cộng sản" ở Đông Dƣơng:

"Cuộc chiến đấu ở vùng đất bất hạnh đó không nhằm mục đích lập lại ách thống trị

của Pháp... Cuộc đấu tranh dần dần bắt đầu mang tính chất thực sự của một cuộc đấu tranh

giữa Cộng sản và các lực lƣợng không cộng sản, hơn là giữa một cƣờng quốc thực dân và

những ngƣời dân thuộc địa đeo đuổi công cuộc đạt tới độc lập" [64, tr.215,218].

"Con đƣờng duy nhất để [các nƣớc Đông Dƣơng] có thể đảm bảo nền độc lập của họ,

con đƣờng duy nhất để họ có thể bảo vệ nền độc lập của họ, đó là tiếp tục cuộc chiến đấu bên

cạnh những ngƣời bạn của họ trong Liên hiệp Pháp chống lại các lực lƣợng thực dân cộng

sản muốn nô dịch họ... Thế giới phải biết ơn Pháp và các lực lƣợng của những Quốc gia liên

kết về những hy sinh to lớn của họ cho chính nghĩa tự do chống lại xâm lăng của Cộng sản ở

Đông Dƣơng" [179, 12].

"Bằng nhiều cách Mỹ đã bày tỏ thiện cảm của mình đối với cuộc chiến đấu hào hùng

mà lực lƣợng Pháp và các Quốc gia liên kết đang tiến hành ở Đông Dƣơng" [180, 540].

119

"Các lực lƣợng Liên hiệp Pháp là các lực lƣợng của tự do" [].

v.v... và v.v...

Khi nghe thủ tƣớng Pháp Joseph Laniel hứa sẽ "kiện toàn nền độc lập và chủ quyền

của các Quốc gia liên kết ở Đông Dƣơng trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp" (3-7-1953) thì

J.F. Dulles, trong cuộc họp báo 11 ngày sau đó, vội vã khen ngợi chính phủ Pháp đã "ban cho

các nƣớc Đông Dƣơng độc lập và chủ quyền hoàn toàn" [46, II, 1077]. Cũng trong tháng đó,

Dulles ca tụng Liên hiệp Pháp đã "tạo ra khả năng liên kết tự do giữa các dân tộc hoàn toàn

độc lập và có chủ quyền" [178, 100].

Không chỉ vừa gây sức ép, vừa mơn trớn vuốt ve Pháp để Pháp không bỏ cuộc ở

Đông Dƣơng, Mỹ còn một biện pháp thứ ba, hữu hiệu hơn, để Pháp tiếp tục theo đuổi chiến

tranh: đó là gia tăng viện trợ. Nói chuyện với các thống đốc các bang trong toàn nƣớc Mỹ

ngày 4-8-1953, Eisenhower cho rằng: "Khi bỏ phiếu thông qua 400 triệu đô-la cho chiến

tranh Đông Dƣơng, chúng ta đã bỏ phiếu một cách kinh tế nhất để ngăn chặn các sự kiện có

thể gây ra những hậu quả khủng khiếp đối với nƣớc Mỹ". Một trong những sự kiện đó -theo

Jules Roy - là: "Nếu đạo quân viễn chinh [Pháp] rút lui, Mỹ sẽ phải đƣơng đầu với những

nhiệm vụ của nó và một cuộc chiến tranh mới chỉ một thời gian ngắn sau vụ đình chiến ở

Triều Tiên" [104, 76].

Pháp bắt bí Mỹ, đòi Mỹ chi thêm tiền mới chịu tiếp tục chiến tranh, đến độ một tờ

báo Pháp viết: "Chiến tranh Đông Dƣơng đã trở thành món hàng xuất khẩu chính của Pháp"

[, 148]. Jules Roy chua chát nhận xét: "Nếu Mỹ đƣa ra những đồng đô-la, đó là để trả cho

việc [thanh niên] Pháp phải đổ máu" 1104, 35].

3.1. Mỹ và "Kế hoạch Navarre".

120

Để đẩy mạnh các nỗ lực chiến tranh ở Đông Dƣơng theo ý Mỹ, ngày 7-5-1953, Pháp

chọn đại tƣớng Henri Navarre, nguyên tham mƣu trƣởng tại Bộ tƣ lệnh Các lực lƣợng đồng

minh ở Trung Âu, một viên tƣớng đƣợc Mỹ tín nhiệm, sang Đông Dƣơng làm tổng chỉ huy

quân Pháp.

Ngay sau đó, 1-6, Eisenhower cử một phái đoàn quân sự do trung tƣớng John W.

O'Daniel, tƣ lệnh quân Mỹ ở Thái Bình Dƣơng, dẫn đầu, gồm Philip W. Bonsal, vụ trƣởng

Vụ Đông Nam Á thuộc Bộ ngoại giao, tƣớng Russel. tƣớng Carty, cùng 10 sĩ quan tham mƣu

Hải, Lục, Không quân Mỹ sang Sài Gòn để - theo lời của Eisenhower - "tăng cƣờng sự hữu

hiệu của các nỗ lực quân sự của những ngƣời bạn [Pháp] của chúng ta" [64, 218].

Đƣợc Mỹ hứa giúp đỡ mọi mặt, tƣớng Navarre soạn ra một kế hoạch đầy tham vọng

hòng giành lại thế chủ động chiến lƣợc trên chiến trƣờng Đông Dƣơng, chuyển bại thành

thắng trong vòng 18 tháng.

Nhƣng "để đạt đƣợc tối đa cơ may mà Kế hoạch Navarre mang lại, Pháp phải có đƣợc

cả trăm tỷ francs mà kế hoạch này tiêu tốn. Không có viện trợ của Mỹ, Pháp đành rút lui"

[,76]. Do đó, đầu tháng 7-1953, ngoại trƣởng Georges Bidault đƣợc cử sang Washington,

mang theo Kế hoạch Navarre để trình bày với những ngƣời cầm đầu nƣớc Mỹ, đồng thời xin

họ rót thêm tiền.

Chính phủ Mỹ hài lòng vì thấy Pháp quyết tâm theo đuổi chiến tranh, phù hợp với

chính sách đánh bại cộng sản của Washington.

Eisenhower viết: "Theo dự kiến, lực lƣợng Liên hiệp Pháp vào cuối năm 1954 sẽ lên

tới 55 vạn quân. Lực lƣợng của Việt Minh ƣớc đoán không quá 40 vạn quân. Do đó, nếu Liên

hiệp Pháp có thể nhử đƣợc Việt Minh chiến đấu một cách công khai thì Liên hiệp Pháp có

thể đánh gục lực lƣợng chính quy của Việt Minh vào cuối thời gian có nhiều trận đánh của

năm 1955, biến cuộc chiến ở Đông Dƣơng thành những cuộc hành quân càn quét mà phần

lớn có

121

thể do quân đội bản xứ tiến hành" [64, 410]. Trong bức điện gửi Dulles, Eisenhower bày tỏ

niềm tin rằng kế hoạch Navarre "đã hình dung một chiến thắng quan trọng vào mùa hè 1955"

[64, 60].

Đến lƣợt Dulles tuyên bố trƣớc một tiểu ban của Thƣợng viện Mỹ rằng Kế hoạch

Navarre có mục đích "bẻ gãy tổ chức của cuộc xâm lăng cộng sản vào cuối mùa chiến đấu

năm 1955 và do đó biến chiến tranh thành một cuộc du kích chiến. Đến năm 1956, các lực

lƣợng bản xứ của ba Quốc gia liên kết - Việt Nam, Lào và Cam-bốt - có thể sẽ đƣơng đầu

phần lớn cuộc chiến tranh du kích này" [61, 69]. Dulles hy vọng: "Trong hai năm tới Kế

hoạch Navarre nếu không đem lại thắng lợi hoàn toàn thì ít nhất cũng thu đƣợc kết quả nhất

định về quân sự" [].

Niềm hy vọng lan sang giới quân sự. Trƣớc Tiểu ban quan hệ đối ngoại của Hạ viện,

đô đốc Radford ca ngợi Kế hoạch Navane là "một khái niệm chiến lƣợc rộng rãi sẽ đảm bảo

một bƣớc ngoặt thuận lợi trong tiến trình chiến tranh trong vài tháng nữa" [98, I, 96]. Còn

trung tƣớng O'Daniel đang có mặt ở Việt Nam tin rằng kế hoạch Navarre "có thể làm thay

đổi chiều hƣớng [của chiến tranh] và dẫn đến thắng lợi quyết định đối với Việt Minh" [98, I,

77] và ông khẳng định: "với Kế hoạch Navarre, thắng lợi quân sự của Pháp đã ở trong tầm

tay" []. Ông không quên nhắc khéo chính phủ Mỹ: "Một chiến thắng của Pháp có thể xảy ra

nếu Mỹ sẵn sàng yểm trợ về mặt vật chất" [98, I, 96].

Eisenhower cho thành lập "Uỷ ban đặc biệt về Đông Dƣơng" (The Special Committee

on Indochina) gồm thứ trƣởng Bộ ngoại giao Waller B. Smith (làm trƣởng ban), thứ trƣởng

Bộ quốc phòng Roger M. Kyes, các tham mƣu trƣởng ba quân chủng và giám đốc Cơ quan

tình báo trung ƣơng (CIA) Allen Dulles, để - theo lời của Eisenhower - "nghiên cứu nhiều

biện pháp khả thi hơn nữa

122

đặng ủng hộ Kế hoạch Navarre" [64, 413]. Ông cũng ra lệnh lập "Nhóm công tác đặc biệt về

Đông Dƣơng" (The Special Working Group on Indochina) do tƣớng hồi hƣu Graves B.

Erskine cầm đầu để "đánh giá nỗ lực quân sự của Pháp, đƣa ra các khuyến cáo liên quan đến

những đóng góp trong tƣơng lai của Mỹ cho cố gắng đó, và lƣu ý tới những tình huống bất

ngờ nếu Mỹ trực tiếp can thiệp vào chiến tranh" [98, I, 90].

Cuối tháng 10 - đầu tháng 11-1953, Eisenhower cử phó tổng thống Nixon sang Việt

Nam để nắm tình hình triển khai Kế hoạch Navarre. Đây là lần đầu tiên một viên chức ở cấp

cao nhƣ thế trong bộ máy cầm quyền của Mỹ đích thân đến Việt Nam. Sau các cuộc thảo

luận với tổng uỷ viên(*) Maurice Dejean và tổng chỉ huy Henri Navarre (ở Sài Gòn) và với

"quốc trƣởng" Bảo Đại (ở Đà Lạt), Nixon đến tận Ghềnh (Ninh Bình) để quan sát tận mắt

cuộc hành quân Hải âu (opération Mouette) đang diễn ra ở đó. Về lại Mỹ, Nixon tuyên bố

trƣớc Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ: "Chúng ta phải chọn lựa: hoặc là giúp đỡ Pháp bây giờ,

hoặc là sau này phải gánh lấy gánh nặng để ngăn ngừa một sự tiếp quản của Cộng sản" [100,

30].

Lẽ dĩ nhiên chính phủ Mỹ chọn giải pháp thứ nhất. Chính phủ đề nghị viện trợ quân

sự cho Pháp 460 triệu đô-la, nhƣng ngày 30-7-1953, Quốc hội cắt bớt 60 triệu đô-la, chỉ

chấp thuận số liền 400 triệu [34, 132]. Nhƣng hơn một tháng sau, ngày 9-9, chính phủ Mỹ

cấp thêm 385 triệu đô-la nữa [98, I, 77] để, theo lời Eisenhower, "tiếp tế và trang bị cho

các lực lƣợng bổ sung của Pháp và bản xứ trong giai đoạn xây dựng" [64, 410]. Trƣớc đó

mấy ngày, ngày 5-9, Mỹ cho Pháp thuê hai hàng không mẫu hạm Bellcau Wood và Langley

(*) Từ 27-4-1953, Pháp gọi viên chức hành chính - chính trị cao nhất ở Đông Dƣơng là tổng uỷ viên Pháp ở Đông Dƣơng (commissaire général do France en Indochine). Dƣới quyền tổng uỷ viên là ba cao uỷ (hauts-commissaires) của Pháp ở Quốc gia Việt Nam, Vƣơng quốc Lào và Vƣơng quốc Cămpuchia.

(đổi tên lại thành Lafayette) [80, 446-447].

123

H. 24. Nixon là nhân vật cao cấp nhất của chính phủ Mỹ sang Việt Nam được tướng René Cogny tiếp.

H. 25. Tướng John O’Daniel, thủ tương MAAG, được đại tá de Castries đưa đi thăm tập đoàn cứ điểm

Điện Biên Phủ

Mỹ không cho ai không bao giờ, ngƣợc lại, "viện trợ Mỹ - cả về kinh tế lẫn về chính

trị, đều kèm theo những điều kiện" [90, 27]: đó là Pháp phải "tạo điều kiện dễ dàng cho việc

trao đổi thông tin với các quan chức quân sự Mỹ và lƣu tâm tới những quan điểm của những

quan chức đó trong khi triển khai và tiến hành các kế hoạch quân sự của Pháp ở Đông

Dƣơng" [98, I, 78].

Ngày 1-4-1953, Adlai E. Stevenson đã tuyên bố không úp mở: "Mỹ đã gánh chịu

gánh nặng chiến tranh ngày một nặng nề hơn, do đó Pháp và Việt Nam [Bảo Đại] phải chấp

nhận cho Mỹ tham gia nhiều hơn nữa vào việc điều khiển cuộc chiến" [126, 14].

Trong phiên họp ngày 29-1-1954 của Uỷ ban đặc biệt về Đông Dƣơng, thứ trƣởng Bộ

quốc phòng Kyes đặt điều kiện cho việc viện trợ: "Nếu chúng ta đáp ứng những yêu cầu khẩn

cấp của Pháp thì Pháp phải bị ràng buộc bởi hai điều: một là phải thực hiện sự hợp tác tối đa

[giữa Mỹ] với Pháp trong việc huấn luyện [quân Bảo Đại] và trong chiến lƣợc; hai là phải

tăng cƣờng hoạt động của tƣớng O'Daniel bằng mọi cách có thể có đƣợc" [97, 34].

Trung tƣớng O'Daniel - đƣợc Eisenhower cử sang Việt Nam từ 1-6-1953 (nhƣ đã

trình bày ở trƣớc) - đƣợc giữ ở lại Việt Nam làm chỉ huy MAAG (từ tháng 2-1954) thay thiếu

tƣớng Thomas Trapnell.

Tuy phải ngửa tay xin đô-la và súng đạn của Mỹ, đại tƣớng Navarre, tổng chỉ huy

quân Pháp ở Đông Dƣơng, cũng nhƣ các viên chức quân sự và chính trị cao cấp khác của

Pháp ngày càng cảm thấy bực bội trƣớc việc Mỹ ngày càng tìm cách "xâm nhập ảnh hƣởng

của họ vào công việc của chúng ta [của Pháp]" []. Navarre viết: "Đổi lại sự gia tăng viện trợ

mà chúng ta phải xin họ, Mỹ - thông qua tƣớng O'Daniel - quyết định làm cho những quan

niệm của

124

họ chiếm ƣu thế trên mọi phƣơng diện... Lợi dụng quyền điều tra kiểm soát việc sử dụng các

kinh phí và vật dụng do Mỹ cung cấp, ông ta tìm cách á p đặt quan điểm của ông ta trong

mọi lãnh vực... Nếu chúng ta không phản ứng, địa vị của chúng ta ngày càng tiến đến chỗ

làm những tên lính đánh thuê đơn thuần. Tôi buộc phải báo cho Paris biết càng ngày tôi càng

có cảm tƣởng ngƣời chủ thực sự ở Đông Dƣơng là viên chỉ huy MAAG" [140, 137].

Dƣới sức ép của O'Daniel, Navarre "phải đồng ý để cho Mỹ đặt các sĩ quan liên lạc

tại Tổng hành dinh của Navarre và bộ chỉ huy huấn luyện" [97, 34]. Cuối cùng, Pháp "rơi vào

tình thế lệ thuộc hoàn toàn vào viện trợ Mỹ, cả về phƣơng diện quân sự lẫn phƣơng diện tài

chính" [].

3.2. Mỹ với Chiến cuộc Điện Biên Phủ.

Dựa vào đô-la, vũ khí và trang bị quân sự Mỹ, Navarre quyết định chiếm Điện Biên

Phủ với ý định lôi kéo bộ đội chủ lực Việt Nam đến đó để "nghiền nát". Mỹ tán thành quyết

định đó.

Vào lúc 10g30 sáng 20-11-1953, 64 máy bay vận tải quân sự C.47 của Mỹ thả dù 800

lính thuộc Tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 (1er BPC) xuống cánh đồng Mƣờng Thanh. Quân số

gia tăng dần dần lên hơn 16.000. Điện Biên Phủ đƣợc xây dựng thành tập đoàn cứ điểm

mạnh nhất Đông Dƣơng.

Chính phủ Mỹ cử đến Điện Biên Phủ "một uỷ ban thanh tra, gồm nhiều chuyên viên

có nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh Triều Tiên, tự xƣng là biết những khả năng chiến

thuật của súng đại bác phòng không của Nga". Sau khi kiểm tra toàn bộ tập đoàn cứ điểm, uỷ

ban Mỹ "khẳng định rằng các vị trí của Pháp cùng những liên lạc bằng đƣờng không sẽ

không bị phòng không đối phƣơng quấy rối nghiêm trọng. Uỷ ban Mỹ tuyên bố rằng, dù thế

nào đi nữa, pháo binh và máy bay bắn trả , cùng toàn bộ những nơi thả dù đƣợc lựa chọn

125

một cách chính xác, tất cả sẽ cho phép duy trì việc tiếp tế tập đoàn cứ điểm mà không phải

sợ bị tổn thất quá nghiêm trọng (...) Trong trƣờng hợp xấu nhất, luôn luôn có thể tiếp tế

tập đoàn cứ điểm bằng cách thả dù vào ban đêm" [129,331].

Nhiều tƣớng lãnh Mỹ - nhƣ trung tƣớng John O'Daniel, tƣ lệnh quân đội Mỹ ở Thái

Bình Dƣơng, thiếu tƣớng Thomas J.H. Trapnell, chỉ huy MAAG v.v... nhiều lần đến tận Điện

Biên Phủ để thấy tận mắt tính chất kiên cố của "pháo đài bất khả xâm phạm" này. Ba sĩ quan

Mỹ - trung tá Richard F. Hell, trung tá John M. Wohner và đại uý Robert M. Lloyd - đƣợc cử

ở lại Điện Biên Phủ để giúp bộ chỉ huy của tập đoàn cứ điểm. Theo lời khai của thiếu uý

Pháp Jacques (bị bộ đội Việt Nam bắt trƣớc khi trận đánh bắt đầu), trung tâm đề kháng Him

Lam "do một cố vấn Mỹ ở Triều Tiên sang thiết kế và trực tiếp đôn đốc thi công" [31, 33].

Ngày 20-2-1954, Mỹ viện trợ thêm cho Pháp 40 máy bay các loại, từ máy bay ném

bom B.26 đến máy bay vận tải C.47, C.119... Cũng trong tháng 2, Mỹ gửi sang Việt Nam

200 lính kỹ thuật thuộc Đơn vị phục vụ không quân số 81 (81st Air Service Unit) để giúp

Pháp bảo trì và sữa chữa các loại máy bay mà Mỹ đã cung cấp. "Năm trong số những ngƣời

này bị tuyên bố là mất tích ngày 18-6-1954" [173, 307].

Ngày 13-3-1954, bộ đội Việt Nam nổ súng tiến công vào Điện Biên Phủ. Chỉ trong 4

ngày (13 - 17-3), hệ thống phòng ngự của Phân khu Bắc và một trung tâm đề kháng của Phân

khu trung tâm sụp đổ, hai tiểu đoàn tinh nhuệ của Pháp bị diệt gọn, một tiểu đoàn khác tan

rã. Nhà sử học Mỹ Joseph Buttinger nhận định: "Sau ngày 18-3, Pháp hiểu rằng Việt Minh

có đủ sức mạnh để giành đƣợc chiến thắng ở Điện Biên Phủ mà không cần có sự can thiệp

trực tiếp của Trung Quốc" [46, II, 818]. Ngay cả thủ tƣớng Pháp Joseph

126

Laniel, chỉ vài tuần trƣớc còn lạc quan tin tƣởng ở thắng lợi của kế hoạch Navarre, nay cũng

phải thú nhận: Bộ đội Việt Minh "đã giành đƣợc những ƣu thế có tính chất quyết định đến

mức không còn ai tin vào khả năng phòng thủ vị trí cũng nhƣ kết quả cuối cùng của trận

đánh" [138, 170].

Ở Washington, những ngƣời cầm đầu nƣớc Mỹ theo dõi tình hình Điện Biên Phủ với

nỗi lo âu sâu sắc. Không đánh giá quá thấp bộ đội Việt Nam nhƣ trƣớc nữa, họ thú nhận:

Điện Biên Phủ có thể thất thủ, "có khả năng Pháp sẽ thƣơng lƣợng tại Genève để thoát khỏi

một cuộc chiến tranh thất nhẫn tâm" [], Việt Minh sẽ thắng và Mỹ sẽ mãi mãi mất ảnh hƣởng

tại Việt Nam.

Trƣớc mắt, Mỹ khẩn cấp viện trợ thêm cho Pháp gần 100 máy bay ném bom và chiến

đấu, gần 50 máy bay vận tải. Mỹ còn cho Pháp mƣợn 29 máy bay vận tải cỡ lớn C.119

"Flying Boxcar" do các phi công Mỹ lái, để lập cầu hàng không giữa Hà Nội và Điện Biên

Phủ. "Mỗi ngày, gần 100 máy bay vận tải DC.3 đã hạ cánh xuống sân bay hòng tầm súng cối

của Cộng sản, vận chuyển từ 200 đến 300 tấn hàng tiếp tế. Thêm vào đó là 30 máy bay vận

tải cỡ lớn C.119 mỗi sáng thả dù từ 100 đến 150 tấn hàng tiếp tế khác. Tất cả các máy bay

của cầu hàng không đều do Mỹ giúp" []. Không chỉ cung cấp máy bay, Mỹ còn cung cấp cả

ngƣời lái. Một số phi công Mỹ tham gia cầu hàng không này thừa nhận "hỏa lực phòng

không của Việt Minh dày đặc giống nhƣ ở vùng Ruhr trong Thế chiến thứ hai" [171, 37].

Chính trong một phi vụ chở vũ khí đạn dƣợc cho Điện Biên Phủ ngày 6-5-1954, một chiếc

máy bay "Packet" của Mỹ bị súng phòng không Việt Nam bắn và nổ tung. Đại uý James B.

McGovern và phi công Wallace Bulord chết [133, 167].

Nhƣng chỉ tăng viện không thôi thì không cứu đƣợc Điện Biên Phủ đang bị bao vây

ngày càng chặt, nên "chính quyền Eisenhower cảm thấy sự can thiệp [của Mỹ] là cần thiết"

[]. Do đó, trong nửa cuối tháng 3-1954, "khả năng Mỹ

127

H. 26. Súng đạn của Mỹ viện trợ cho Pháp được bốc dỡ tại sân bay Cát Bi (Hải Phòng)

H.27. Máy bay Mỹ chở lính Pháp đến sân bay Tân Sơn Nhất (Sài Gòn)

H.28. Lính cơ khí Mỹ đang sửa chữa máy bay C.47 cho Pháp.

can thiệp [ở Điện Biên Phủ] trở thành đề tài bàn cãi nghiêm chỉnh trong chính phủ" [55,

262].

Kế hoạch can thiệp quân sƣ trực tiếp vào Việt Nam mang mật danh "Cuộc hành quân

Chim kên kên" (Operation Vulture) do chính đô đốc Arthr W. Radford, chủ tịch Hội đồng

tham mƣu trƣởng Liên quân Mỹ, soạn thảo và đƣợc Eisenhower chấp thuận [165, 139], theo

đó: 60 máy bay B.29 "Superfort"(*) cất cánh từ hai căn cứ không quân của Mỹ Clark Field (ở

Philippines) và Okinawa (ở Nhật Bản) - đƣợc hộ tống bởi 150 máy bay chiến đấu của các

hàng không mẫu hạm thuộc Hạm đội số 7 của Mỹ hoạt động trong vịnh Bắc Bộ - sẽ ném bom

rải thảm, mỗi đợt khoảng 450 tấn bom, xuống các trận địa pháo, các nơi đóng quân của Việt

Minh và các con đƣờng tiếp tế dẫn tới Điện Biên Phủ.

Để tránh bị nhân dân Mỹ phản đối và dƣ luận thế giới lên án, những cuộc ném bom

ấy sẽ diễn ra vào ban đêm, phù hiệu của Không quân Mỹ trên các máy bay sẽ bị xoá đi(**)

hoặc thay bằng phù hiệu của Không quân Pháp [129, 320]. Để che dấu bàn tay can thiệp của

Mỹ, Radford còn đề nghị lập một Phi đoàn tình nguyện quốc tế (International Volunteer Air

Corps) gồm phi công nhiều quốc tịch khác nhau [197, 13].

Ngoài loại bom thông thƣờng (mỗi quả nặng 2 lấn [147, 50]), Radford còn đề nghị sử

dụng 3 quả bom nguyên tử chiến thuật loại nhỏ (small tactical atomic bombs) [100, 30]. Tuy

gọi là "nhỏ" song bom nguyên tử chiến thuật đó "lớn hơn nhiều so với những quả bom đã

ném xuống Nhật Bản" [40, 149]. Một nhóm nghiên cứu của Lầu Năm Góc cho rằng "chỉ cần

3 quả bom nguyên tử chiến thuật cũng đủ nghiền nát các lực lƣợng Việt Minh ở Điện Biên

(*) Máy bay B.29 là máy bay ném bom lớn nhất của Mỹ lúc đó, mỗi chiếc có thể chở 8 tấn bom []. (**) Theo lời Radford, làm nhƣ vậy để "không ai biết máy bay đó là của ai và từ đâu đến" [81, 447].

Phủ"

128

H.29. Đô đốc Arthur W. Radfond, tác giả kế hoạch "Cuộc hành quân Chim kên kên".

H.30. Theo kế hoạch "Cuộc hành quân Chim kên kên", 60 máy bay B.29 của Mỹ sẽ ném hàng nghìn

tấn bom xuống các vị trí của Việt Minh ở Điện Biên Phủ.

H.31. Theo kế hoạch "Cuộc hành quân Chim kên kên", hai tàu sân bay Boxer và Essex tiến vào vịnh Bắc Bộ.

[133, 114]. Tƣớng Nathan F. Twining, tham mƣu trƣởng Không quân Mỹ, đoan chắc rằng 3

quả bom nguyên tử chiến thuật "sẽ xóa sạch quân Cộng sản ở đó, dàn nhạc có thể chơi bài

Marseillaise và quân Pháp [bị bao vây ở Điện Biên Phủ] có thể diễu hành ra khỏi nơi ấy một

cách chỉnh tề" [40, 143]. Ngày 23-4-1954, gặp ngoại trƣởng Pháp Bidault lại Paris, Dulles

gợi ý: "Và nếu chúng tôi cho các anh hai quả bom nguyên tử để cứu Điện Biên Phủ thì sao?"

[147, 48]. Ngoài hai quả bom nguyên tử ném xuống Điện Biên Phủ, Dulles còn đề nghị với

Bidault "dùng một hay nhiều bom hạt nhân khác ném xuống các đƣờng tiếp tế gần biên giới

Trung Hoa" [57, 26].

Nixon đồng ý với kế hoạch của Radford, nhƣng cho rằng chỉ ném bom không thôi là

chƣa đủ. Ngày 16-4, trƣớc Hội nghị các chủ báo Mỹ, Nixon tuyên bố: "Nếu để ngăn Cộng

sản bành trƣớng rộng hơn nữa ở châu Á và Đông Dƣơng, chúng ta phải mạo hiểm gửi thanh

niên chúng ta sang đó bây giờ [64, 427]". Theo chuẩn tƣớng James M. Gavin, tham mƣu phó

phụ trách kế hoạch Lục quân Mỹ, Mỹ có thể đƣa sang Bắc Bộ "8 sƣ đoàn chiến đấu, 35 tiểu

đoàn công binh cùng với pháo binh và yểm trợ hậu cần" [163, 285].

Ý kiến của Eisenhovver nhƣ thế nào?

Ông ta tán thành kế hoạch "Cuộc hành quân chim kên kên" vì, theo ông ta, "hiệu quả

tâm lý của một cuộc ném bom bằng không quân sẽ nâng cao tinh thần của Pháp và Việt Nam

[tức Bảo Đại] và sẽ cải thiện toàn bộ tình hình, ít ra là tạm thời" [64, 428]. Về ý kiến của

Nixon gửi bộ binh Mỹ sang trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, Eisenhower không bác bỏ ngay

mà cho rằng: "Lẽ dĩ nhiên, đó luôn luôn là một khả năng; vấn đề đó lúc nào cũng đƣợc

nghiên cứu đến" [64, 427]

Ngày 20-3-1954 đại tƣớng Paul Ely, tổng tham mƣu trƣởng Quân đội Pháp bay thẳng

từ Việt Nam sang Mỹ cầu cứu. Sau khi tiếp Ely, đô đốc

129

Radford báo cáo với Eisenhower: Thất bại của Pháp ở Việt Nam có thể "dẫn đến việc toàn bộ

Đông Nam Á mất vào tay Cộng sản thống trị", do đó Mỹ "phải chuẩn bị hành động nhanh

chóng và mạnh mẽ theo lời Pháp yêu cầu Mỹ can thiệp" [80, 448].

Tình hình quân sự của Pháp ở Việt Nam ngày càng xấu đi không phải là nguyên nhân

duy nhất thúc đẩy chính quyền Eisenhower muốn can thiệp vào cuộc chiến tranh ở đó. Bất

chấp sự phản đối quyết liệt của Mỹ, ngày 18-2-1954, chính phủ Pháp đồng ý sẽ ngồi vào bàn

Hội nghị Genève để bàn bạc với chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà về vấn đề lập lại hoà

bình ở Việt Nam. Do đó, Mỹ can thiệp quân sự vào Việt Nam trƣớc khi Hội nghị Genève

khai mạc "nhằm tránh việc Pháp bán rẻ (sell out)" Việt Nam [98, I, 351 bằng con đƣờng

thƣơng thuyết, thậm chí còn làm cho Hội nghị thất bại ngay trƣớc khi nó bắt đầu.

Trong lúc những ngƣời cầm đầu nƣớc Mỹ đang tạo ra một "bầu không khí chuẩn bị

chiến tranh"" [81, 38] rộn ràng thì đông đảo nhân dân, nhiều nghị sĩ và cả một số tƣớng lãnh

Mỹ phản đối kế hoạch phiêu lƣu quân sự của họ.

Hơn 3 năm trƣớc, chính phủ Truman đƣa nƣớc Mỹ vào chiến tranh Triều Tiên, khiến

hơn 14 vạn thanh niên Mỹ chết và bị thƣơng, tốn hết 21 tỷ đô-la. Trong cuộc vận động tranh

cử tổng thống cuối năm 1952, Eisenhower đã từng lên án Đảng Dân chủ Mỹ là "đảng của

chiến tranh" (the war party), đƣa ra khẩu hiệu "Hoà bình ở Triều Tiên" (Peace in Korea)

nhằm thu phiếu của cử tri. Chiến tranh Triều Tiên mới kết thúc hơn nửa năm, nên "dƣ luận

quần chúng không bao giờ sẵn sàng chấp nhận một cuộc can thiệp" [] khác vào một nơi cách

xa nƣớc Mỹ chín nghìn dặm. Đầu tháng 2-1954, Eisenhower gửi sang Việt Nam 200 lính kỹ

thuật để bảo trì và sửa chữa máy bay, chứ không trực tiếp tham chiến, nhƣng "ông ta đã gặp

đủ chuyện phiền hà để thuyết phục các

130

thƣợng nghị sĩ" [98, I, 101]. Huống gì lần này Eisenhower đƣa quân đội (Không quân, Hải

quân và có thể cả Lục quân nữa) can thiệp trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam, phản ứng sẽ

mãnh liệt hơn nhiều. Tài liệu Lầu Năm Góc viết: "Kinh nghiệm còn mới mẻ của chiến tranh

Triều Tiên khiến [ngƣời Mỹ] mạnh mẽ chống lại một sự dính líu khác của Mỹ vào một cuộc

chiến tranh trên bộ ở châu Á" [98, I, 95]. Một ngƣời cùng Đảng Cộng hoà với Eisenhower,

thƣợng nghị sĩ William F. Knowland, đang là thủ lĩnh phe đa số ở Thƣợng viện, khuyên

Eisenhower: "Tôi tin rằng, trƣớc khi đƣa bất cứ lực lƣợng vũ trang nào - Hải, Lục hay Không

quân - tham chiến [ở Việt Nam], tổng thống nên và phải đến Quốc hội, đặt và trình bày vấn

đề" [61, 16].

Nghe lời khuyên ấy, Eisenhower uỷ quyền cho Dulles và Radford(*) gặp 8 nghị sĩ có

thế lực nhất của Thƣợng viện và Hạ viện - gồm 3 của Đảng Cộng hoà (đang cầm quyền) và 5

của Đảng Dân chủ (đối lập) vào sáng thứ bảy 3-4-1954(**).

Sau khi Radford trình bày những nét chính của kế hoạch ném bom xuống Điện Biên

Phủ, Dulles rút từ trong cặp ra một dự thảo "Nghị quyết chung của hai Viện của Quốc hội"

(nhƣng do chính phủ soạn sẵn) cho phép tổng thống có quyền - từ nay cho đến 30-6-1955 -

"sử dụng Hải quân và Không quân của nƣớc Mỹ giúp đỡ các lực lƣợng đang chống lại xâm

(*) Ngoài Dulles và Radford, còn có bộ trƣởng Hải quân Robert A. Anderson, thứ trƣởng quốc phòng Roger Kyes (thành viên Uỷ ban đặc biệt về Đông Dƣơng) và Thruston B. Morton (trợ lý của Dulles phụ trách các liên hệ với Quốc hội) tham dự buổi gặp mặt. (**) Tám nghị sĩ (gồm 5 thƣợng nghị sĩ và 3 hạ nghị sĩ) là: - Thƣợng nghị sĩ William F. Knowland (Đảng Cộng hoà, thủ lĩnh phe đa số ở Thƣợng viện) - Thƣợng nghị sĩ Lyndon B. Johnson (Đảng Dân chủ, thủ lĩnh phe thiểu số ở Thƣợng viện) - Thƣợng nghị sĩ Eugence Millikin (Đảng Cộng hoà) - Thƣợng nghị sĩ Richard B. Russel (Đảng Dân chủ) - Thƣợng nghị sĩ Earle C. Clements (Đảng Dân chủ) - Hạ nghị sĩ Joseph Martin (Đảng Cộng hoà chủ tịch Hạ viện) - Hạ nghị sĩ John W. McCormack (Đảng Dân chủ, thủ lĩnh phe thiểu số ở Hạ viện) -Hạ nghị sĩ J. Perey Priest (Đảng Dân chủ).

lƣợc ở Đông Nam Á nhằm

131

H.32. Tướng Mauthew B.Ridgway, tham mưu trưởng Lục quân Mỹ, không tin ở sự thành công của kế

hoạch “Cuộc hành quân Chim kên kên”.

H.33. Hai thượng nghị sĩ William F. Knowland và Lyndon B. Johnson thủ lĩnh của hai đảng Cộng hoà và Dân chủ ở thượng viện Mỹ thảo luận về việc Mỹ can thiệp quân sự trực tiếp vào Việt Nam (03-4-1954).

ngăn ngừa sự mở rộng và sự bành trƣớng của xâm lƣợc ấy và nhằm bảo vệ và phòng thủ sự

an toàn và nền an ninh của nƣớc Mỹ" [80, 48] rồi kêu gọi các nghị sĩ của hai Đảng ở hai Viện

của Quốc hội thông qua dự thảo ấy.

Các nghị sĩ thận trọng nêu lên nhiều câu hỏi, nhƣ: Nếu các cuộc ném bom không

mang lại kết quả, liệu Mỹ có đƣa Lục quân vào cuộc không? Vì Điện Biên Phủ gần biên giới

Trung Quốc, liệu Bắc Kinh có đƣa quân chí nguyện sang Việt Nam (nhƣ quân chí nguyện

"kháng Mỹ viện Triều" mấy năm nƣớc) và biến Việt Nam thành một "Triều Tiên thứ hai"

không? v.v...

Sau hơn hai tiếng đồng hồ thảo luận, các nghị sĩ đặt ra điều kiện tiên quyết là chính

phủ Eisenhower phải tranh thủ cho đƣợc các nƣớc đồng minh của Mỹ - đặc biệt là Anh - có

"hành động thống nhất" (united action) với Mỹ, nói một cách khác, phải "quốc tế hoá" sự can

thiệp quân sự vào Việt Nam - nhƣ Mỹ đã lôi kéo 15 nƣớc khác tham gia chiến tranh Triều

Tiên - nhƣ Eisenhower viết trong hồi ký: Mặc dù "gánh nặng của cuộc hành quân [ở Việt

Nam] sẽ do Mỹ đảm trách, các lực lƣợng tƣợng trƣng do các nƣớc khác cung cấp sẽ - cũng

nhƣ ở Triều Tiên - làm cho cuộc mạo hiểm [của Mỹ] có thêm một tƣ thế tinh thần thực sự;

nếu không, cuộc mạo hiểm đó sẽ có vẻ nhƣ một điển hình thô bạo của chủ nghĩa đế quốc"

[64, 412].

Tuy đã có buổi họp ngày 3-4 nói trên nhằm vận động các nghị sĩ chủ chốt đồng ý với

chính phủ, song trong phiên họp ngày 6-4, "tuyệt đại đa số thƣợng nghị sĩ của hai Đảng đều

chống lại việc Mỹ can thiệp quân sự vào Đông Dƣơng" [130, 263-264].

Chẳng hạn, thƣợng nghị sĩ John F. Kennedy (Đảng Dân chủ) tuyên bố: "Đổ tiền bạc,

vật liệu và con ngƣời vào rừng rậm Đông Dƣơng mà không có chút viễn ảnh chiến thắng nào

thì thật phù phiếm một cách nguy hiểm và tự huỷ

132

hoại. Tôi thành thật tin rằng không có viện trợ quân sự nào của Mỹ cho Đông Dƣơng có thể

thắng đƣợc một kẻ thù có mặt ở khắp nơi (everywhere) nhƣng đồng thời chẳng thấy ở đâu cả

(novvhere), "một kẻ thù của nhân dân" nhƣng lại đƣợc nhân dân thƣơng mến và che chở...

Đối với nƣớc Mỹ, đơn phƣơng can thiệp và gửi quân đến mảnh đất khó khăn nhất thế giới

ấy... có nghĩa là chúng ta sẽ phải đối đầu với một tình thế còn khó khăn hơn rất nhiều so với

tình thế mà chúng ta đã gặp phải ở Triều Tiên" [84, 59; 106, 301].

Thƣợng nghị sĩ Edwin C. Johnson (Đảng Dân chủ) cũng nói: Tôi "chống lại việc gửi

lính Mỹ đến nơi bùn lầy rác rƣởi ở Đông Dƣơng để tham gia một cuộc đổ máu nhằm làm cho

chủ nghĩa thực dân và sự bóc lột của ngƣời da trắng ở châu Á tồn tại mãi mãi" [165, 140].

Ngay cả thƣợng nghị sĩ thuộc Đảng Cộng hoà đang cầm quyền nhƣ Alexander Wiley

cũng phản đối: "Nếu chiến tranh xảy ra dƣới chính quyền này thì đó có thể là ngày tận số của

Đảng Cộng hoà rồi" [165, 140].

Các thƣợng nghị sĩ khác nhƣ Mike Mansfield, Russell, Stennis, Everett Dirksen...

cũng lên tiếng phản đối, vì họ "sợ những rắc rối xảy ra trong nƣớc cũng nhƣ trên thế giới" [].

Từ góc độ thuần túy quân sự, một số tƣớng lãnh Mỹ cũng không đồng tình với việc

can thiệp vào Việt Nam. Chẳng hạn tƣớng Mattheww B. Ridgway, tham mƣu trƣởng Lục

quân Mỹ, nguyên tƣ lệnh quân Mỹ và các đồng minh của Mỹ tham chiến ở Triều Tiên, phát

biểu: "Tại Triều Tiên, chúng ta đã biết rằng chỉ có lực lƣợng Không quân và Hải quân mà

thôi thì không thể chiến thắng, rằng lực lƣợng Lục quân mà không đầy đủ thì cũng không thể

chiến thắng (...) Ngay cả khi dùng đến vũ khí nguyên tử thì cũng cần tới không dƣới 7 sƣ

đoàn chiến đấu Mỹ và 12 sƣ đoàn - nếu Trung Quốc can thiệp" [133, 114]. "Với kinh nghiệm

Triều Tiên còn rõ nét trong trí nhớ, Ridgway phản đối

133

việc sa lầy vào một chiến tranh trên bộ với Trung Quốc" [163, 285]. Vì vậy, theo Ridgway,

nếu Mỹ can thiệp quân sự vào Việt Nam thì cái giá về ngƣời và của mà Mỹ sẽ phải trả "sẽ

cao bằng, hay sẽ cao hơn, cái giá mà chúng ta đã trả ở Triều Tiên" [165, 139].

Bỏ ngoài tai những ý kiến phản đối, chính phủ Eisenhower một mặt lao vào việc

chuẩn bị triển khai kế hoạch "Cuộc hành quân Chim kên kên", mặt khác ra sức vận động các

đồng minh của Mỹ - đặc biệt là Anh - cùng Mỹ can thiệp quân sự vào Việt Nam trong một

"hành động thống nhất".

Bất chấp dịp nghỉ cuối tuần, bộ ba Eisenhower - Dulles - Radford họp tại phòng làm

việc trên tầng lầu của Nhà Trắng vào tối chủ nhật 4-4-1954 để thảo luận những việc cần phải

làm cho kế hoạch "Cuộc hành quân Chim kên kên".

Ngày 14-4, Eisenhower cử tƣớng Partridge, tƣ lệnh Không quân Mỹ ở Đông Nam Á

sang Việt Nam. Gặp tƣớng Navarre (tổng chỉ huy ở Đông Dƣơng) và tƣớng Cogny (chỉ huy ở

Bắc Bộ) tại Hà Nội, tƣỡng Partridge cam kết: "Tôi là ngƣời hỗ trợ chắc chắn cho các ông.

Các ông hãy chỉ cho tôi các mục tiêu. Tôi có sẵn 90 máy bay ném bom B.29" [].

Một tuần sau, 22-4, Eisenhower lại chỉ thị cho tƣớng Caldara, chỉ huy máy bay ném

bom của không lực Mỹ tại Viễn Đông, đến Sài Gòn. Tƣớng Caldara bảo đảm với tổng ủy

viên Dejean: "Cuộc hành quân [Chim kên kên] có thể thực hiện trong mọi thời tiết mà không

cần đặt thiết bị hƣớng dẫn bằng rađiô trên đất đối phƣơng" [104, 301]. Sau đó, tƣớng Caldara

bay lên Điện Biên Phủ để trao đổi trực tiếp với bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm.

Trƣớc đó, ngày 19-4 Eisenhower hạ lệnh cho hai hàng không mẫu hạm Essex và

Boxer trọng tải 31.000 tấn, trang bị vũ khí nguyên tử, thuộc Hạm đội số 7 của Hải quân Mỹ,

tiến vào vịnh Bắc Bộ, làm ra vẻ "đang làm nhiệm

134

vụ tập luyện" [41, 211]. Đô đốc Hopwood, tham mƣu trƣởng Hạm đội số 7, cũng đƣợc cử

đến Việt Nam để trao đổi với tƣớng Navarre và đô đốc Auboyneau.

Sau đó, một số sĩ quan Pháp đƣợc Mỹ mời sang căn cứ Clark Field (ở Philippines) để

bàn việc phối hợp hành động.

Trong khi các tƣớng lĩnh khẩn trƣơng chuẩn bị cho việc triển khai kế hoạch quân sự

thì Eisenhower và Dulles lao vào việc vận động các nƣớc đồng minh của Mỹ.

Ngày 4-4, dù là ngày chủ nhật, Eisenhower vẫn ngồi vào bàn giấy, viết thƣ cho thủ

tƣớng Anh Winston Churchill. Mở đầu, Eisenhower nêu ra một viễn tƣợng không lấy gì làm

sáng sủa: "Nếu ... Đông Dƣơng rơi vào tay cộng sản, hậu quả cuối cùng sẽ tai hại cho thế

chiến lƣợc toàn cầu của các Ngài và của chúng tôi với hậu quả là sự đổi thay trong cán cân

lực lƣợng trên toàn châu Á và Thái Bình Dƣơng, và tôi biết đó là điều mà cả Ngài lẫn tôi đều

không thể chấp nhận". Eisenhower kêu gọi Anh cùng với Mỹ và "những nƣớc có lợi ích sống

còn trong việc ngăn chặn cộng sản bành trƣớng trong khu vực" châu Á - Thái Bình Dƣơng

"thành lập một sự tập hợp hay liên minh mới, đặc biệt". Eisenhower nhấn mạnh: "Điều quan

trọng là liên minh đó phải mạnh và sẵn sàng tham gia chiến đấu khi cần" [64, 419-420].

Nhƣng Churchill đã từ chối: "Nƣớc Anh không sẵn sàng can thiệp vào Đông Dƣơng

trƣớc khi Hội nghị Genève có kết quả" [133, 114].

Sợ thƣ từ không nói hết ý, Eisenhower cử Dulles thay mình bay sang London để đích

thân thuyết phục Churchill và ngoại trƣởng Anh Anthony Eden (10-4). Song lập trƣờng của

những ngƣời cầm đầu nƣớc Anh không thay đổi.

135

Chuyến du thuyết thất bại. Tuy vậy, sau khi về lại Washington, ngày 15-4, Dulles gửi

thƣ mời đại sứ chín nƣớc Anh, Pháp, Auslralia, New Zcaland, Philippines, Thái Lan và ba

Quốc gia liên kết Đông Dƣơng đến dự một cuộc họp vào ngày 20-4 để thảo luận việc thành

lập một liên minh phòng thủ Vùng Đông Nam Á. Nhận đƣợc thƣ mời, đại sứ Anh Roger M.

Makins điện ngay về London xin chỉ thị. Eden "rất tức giận trƣớc sự "hiểu lầm" có dụng ý

của Dulles về lập trƣờng của chính phủ Anh" [25, 46], ra lệnh cho Makins không tham dự.

Dulles đành phải thay đổi chủ đề của cuộc họp - bàn về Triều Tiên thay vì về Đông Dƣơng!

Lúc đó London mới cho phép đại sứ của mình đến dự, nhƣng không đƣợc tham gia thảo luận.

Ngày 23-4, ngoại trƣởng ba nƣớc Mỹ, Anh, Pháp có cuộc họp tại Paris. Bidaull cho

biết tình hình hết sức nguy kịch ở Điện Biên Phủ. Dulles vội vàng điện cho Eisenhower.

Eisenhower tức tốc phái đô đốc Radford bay sang Paris ngày hôm sau 24-4 để cùng Dulles

thuyết phục Churchill một lần nữa. Dulles năn nỉ: "Chỉ cần nƣớc Anh tham gia với một máy

bay duy nhất, chiếc máy bay tƣợng trƣng cho tình đoàn kết" [147, 55]. Dulles nói thêm: nếu

chính phủ Anh tán thành việc can thiệp quân sự vào Việt Nam thì mọi việc sẽ diễn ra tuần tự

theo thời khóa biểu nhƣ sau:

 Sáng thứ hai 26-4 (đúng vào ngày Hội nghị Genève khai mạc để bàn về một giải

pháp hoà bình cho vấn đề Triều Tiên), Eisenhower sẽ ra trƣớc Quốc hội Mỹ để yêu cầu các

nghị sĩ hai Viện thông qua Nghị quyết chung (mà chính phủ Mỹ đã soạn sẵn) cho phép quân

Mỹ can thiệp trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam.

 Chiều ngày 26 và cả ngày 27-4: Mỹ sẽ mời đại sứ các nƣớc đồng minh của Mỹ ký

tên vào một Tuyên bố chung (mà Bộ ngoại giao Mỹ đã thảo sẵn) về "hành động thống nhất" ở

Việt Nam.

136

 Từ 28-4 trở đi, hàng năm máy bay (chủ yếu là của Mỹ) bắt đầu thực hiện các phi

vụ ném bom xuống Điện Biên Phủ theo kế hoạch "Chim kên kên" (mà Hội đồng tham mƣu

trƣởng Liên quân Mỹ đã vạch).

Trƣớc một quyết định hệ trọng, Eden nói ông sẽ quay về London ngay chiều 24-4 để

đƣa vấn đề ra trƣớc buổi họp sáng ngày hôm sau của Nội các Anh.

Cùng ngày 24-4, trong khi ở Paris, Dulles gợi ý với Bidault thuyết phục chính phủ

Anh tán thành việc can thiệp quân sự ở Việt Nam, thì tại bang Kentucky (Mỹ), Eisenhower

nói với đại sứ Pháp Henri Bonnet rằng Mỹ chỉ có thể tham chiến trong khuôn khổ một hành

động tập thể, nếu không Mỹ sẽ mang tiếng là đế quốc [147, 54]. Thứ trƣởng ngoại giao Mỹ

Waller B. Smith cũng nói với Bonnet nên khuyên chính phủ Pháp tác động với Churchill và

Eden. Smith kết luận: "Kết quả tuỳ thuộc ở việc London có chấp thuận hay không" [147, 55].

Theo gợi ý của Mỹ, chính phủ Pháp đã chỉ thị cho đại sứ René Massigli thay mặt thủ

tƣớng Laniel đến gặp Churchill và Eden: "Nếu Anh không lên tiếng phản đối, máy bay của

Hải quân Mỹ sẽ ném bom nguyên tử xuống [Điện Biên Phủ] vào ngày 28-4" [104, 300].

Ngày 25-4, Radford - với tƣ cách là phái viên riêng (personal envoy) của tổng thống

Mỹ - bay sang London để một lần nữa thuyết phục Churchill.

Trong phiên họp khẩn cấp bất thƣờng kéo dài từ sáng đến chiều chủ nhật 25-4, nội các

Anh đã thảo luận sôi nổi. Churchill tuyên bố: "Điều mà ngƣời ta yêu cầu chúng ta làm là giúp

vào việc đánh lừa Quốc hội [Mỹ] để phê chuẩn một cuộc hành quân; cuộc hành quân ấy sẽ

không có hiệu quả, nhƣng có thể dẫn thế giới đến bên bờ một cuộc chiến tranh lớn". Cuối

cùng nội các Anh đi đến quyết định không tham gia bất cứ kế hoạch can thiệp vũ trang nào

của

137

Mỹ vào Việt Nam nƣớc khi Hội nghị Genève có kết quả. Ngoại trƣởng Eden cho biết quyết

định trên đƣợc căn cứ trên 3 lý do sau:

"Một là chúng ta hiểu rằng chỉ có hoạt động của Không quân không thôi sẽ không thể

có hiệu quả;

Hai là một sự can thiệp quân sự nhƣ thế có thể sẽ phá hoại mọi cơ may đạt đƣợc một

cuộc dàn xếp ở Genève;

Ba là điều đó có thể dẫn tới một cuộc chiến tranh toàn diện ở châu Á" [167,434].

Gặp Radford, "Churchill đã nói một cách thẳng thừng với viên đô đốc Mỹ rằng nếu

ngƣời Anh đã không muốn chiến đấu để ở lại Ấn Độ thì ông ta thấy không có lý do nào lại

khiến cho ngƣời Anh phải chiến đấu để giúp ngƣời Pháp ở lại Đông Dƣơng" [100, 30].

Trả lời đại sứ Pháp Massigli, Eden nói: việc Mỹ can thiệp quân sự vào Việt Nam "dẫn

tới một cuộc phiêu lƣu mà chúng ta không thể lƣờng trƣớc mọi sự phát triển của nó. Chỉ có

một chính sách có thể mang lại kết quả tốt đẹp, đó là tìm kiếm một cuộc ngƣng bắn ở [Hội

nghị] Genève" [147, 56].

Không thuyết phục đƣợc Anh, Mỹ quay sang lôi kéo Australia và New Zealand, hai

nƣớc đã ký Hiệp ƣớc an ninh ANZUS với Mỹ hai năm trƣớc(*). Ngày 26-4 , đúng vào lúc Hội

nghị Genève khai mạc tại Cung điện Các dân tộc (Palais des Nations), Mỹ đề nghị hai nƣớc

nói trên cùng Mỹ can thiệp vào Việt Nam, nhƣng lời đề nghị bị khƣớc từ.

Trong khi đó, vòng vây của bộ đội Việt Nam ở Điện Biên Phủ ngày càng siết chặt, giờ

tận số của quân viễn chinh Pháp trong lập đoàn cứ điểm đến gần, "các nhà lãnh đạo quân sự

(*) Hiệp ƣớc an ninh ANZUS ký ngày 1-9-1951 lại San Francisco, Mỹ. ANZUS là tên ba nƣớc viết tắt bằng tiếng Anh.

của Mỹ nghĩ rằng đã quá trễ để có thể cứu

138

vãn Điện Biên Phủ" [171, 34]. Là một tƣớng lãnh, Eisenhower cũng thừa nhận: "Trong suy

nghĩ của tôi, tôi thấy rất nghi ngờ về hiệu quả của những cuộc ném bom bằng Không quân

xuống những đạo quân đƣợc triển khai ở nơi có nhiều chỗ che chắn tốt" [64, 413].

Đúng 17 giờ 30 ngày 7-5-1954, lá cờ "Quyết chiến quyết thắng" của bộ đội Việt Nam

tung bay trên nóc hầm chỉ huy của tập đoàn cứ điểm. Thiếu tƣớng De Castries và toàn bộ sĩ

quan, binh sĩ của ông ta đều bị bắt sống...

"Chim kên kên" của Mỹ chƣa kịp bay lên thì đã gãy cánh.

Tuy vậy, trong gần hai tháng trời, ba quả bom nguyên tử chiến thuật gắn dƣới cánh

con chim ấy đã làm cả thế giới lo sợ về nguy cơ chiến tranh mở rộng: ba quả bom của Mỹ nổ

sát biên giới Việt - Trung có thể khiến Trung Quốc vào cuộc, lôi cuốn Liên Xô, Anh và các

nƣớc khác trong hai phe xã hội chủ nghĩa và tƣ bản chủ nghĩa cùng tham chiến... Điện Biên

Phủ là một trƣờng hợp điển hình của chính sách "Bên miệng hố chiến tranh" (Policy of

brinkmanship) của Mỹ.

3.3. Mỹ phá hoại Hội nghị Genève 1954 về Đông Dương.

3.3.1. Mỹ chống giải pháp thương thuyết để chấm dứt chiến tranh:

Sau hai năm thƣơng thuyết (10-7-1951 - 27-7-1953), cuối cùng Hội nghị Panmunjum

(Bàn Môn Điếm) đạt tới một Hiệp định đình chiến. Ngày càng có nhiều ngƣời Pháp thuộc đủ

mọi giới lên tiếng đòi hỏi kết thúc cuộc chiến tranh hao ngƣời tốn của ở Đông Dƣơng bằng

con đƣờng tƣơng tự.

Từ 23 đến 27-10-1953, tại diễn đàn Quốc hội, nhiều nghị sĩ Pháp yêu cầu chính phủ

Laniel phải thƣơng thuyết với chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà để sớm chấm dứt cuộc

đổ máu.

139

Trƣớc sức ép của dƣ luận, ngày 12-11, thủ tƣớng Joseph Laniel phải tuyên bố: "Nếu

một giải pháp danh dự xuất hiện trong khung cảnh địa phƣơng hay quốc tế, nƣớc Pháp sẽ vui

lòng đón nhận một giải pháp ngoại giao cho cuộc xung đột, nhƣ nƣớc Mỹ [đã làm] ở Triều

Tiên" [80, 40].

Hai tuần sau, ngày 26-11, trả lời cuộc phỏng vấn của nhà báo Thụy Điển Sven

Lӧfgren của báo Expressen, chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Nếu chính phủ Pháp (...) muốn đi

đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thƣơng lƣợng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối

hoà bình, thì nhân dân và chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà sẵn sàng tiếp ý muốn đó"

[17].

Trong khi cả thế giới hân hoan nghĩ đến viễn cảnh hoà bình sẽ đƣợc lập lại ở Việt

Nam sau chín năm khói lửa, thì Mỹ lại lo sợ rằng Pháp - vì đang gặp quá nhiều khó khăn - có

thể chấp nhận nhân nhƣợng trƣớc Việt Minh khiến cho Mỹ không còn cơ hội vào Việt Nam

sau này. Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ cho rằng "Trong điều kiện hiện nay, mọi giải pháp

bằng thƣơng lƣợng đều có nghĩa là cuối cùng để mất vào tay Cộng sản không chỉ Đông

Dƣơng mà cả Đông Nam Á. Việc thất thủ Đông Dƣơng sẽ nguy kịch cho nền an ninh của

Mỹ" [97, 10].

Gặp các quan chức Pháp, Dulles thúc giục họ đẩy mạnh các nỗ lực chiến tranh thêm

vài năm nữa cho đến khi tình hình quân sự ở Việt Nam đƣợc cải thiện, lúc đó Pháp sẽ ngồi

vào bàn Hội nghị trong tƣ thế mạnh [98, I, 80]. Trong thời gian ấy Mỹ sẽ ra sức củng cố quân

đội của Bảo Đại để tiếp tục cuộc chiến tranh bên cạnh quân viễn chinh Pháp hoặc chiến đấu

một mình (trong trƣờng hợp Pháp bỏ cuộc) với sự giúp đỡ của Mỹ.

Eisenhower còn cử phó tổng thống Nixon sang Việt Nam để một mặt động viên Pháp

tiếp tục tham chiến, mặt khác ngăn chặn Pháp thƣơng thuyết với Việt Minh. Trƣớc các sĩ

quan của Pháp và của Bảo Đại ngày 4-11-1953 tại Hà

140

Nội, Nixon nói: "Một cuộc dàn xếp hoà bình sẽ đặt nhân dân [Việt Nam] dƣới ách nô lệ của

Cộng sản" [] do đó "không thể hạ vũ khí cho đến khi đạt đƣợc chiến thắng hoàn toàn" []. Ông

kết luận: "Trong bất cứ trƣờng hợp nào cũng không có vấn đề thƣơng thuyết" [186].

Từ ngày 25-1-1954, ngoại trƣởng bốn nƣớc lớn (Liên Xô, Mỹ, Pháp và Anh) họp tại

Berlin (Đức). Ngoại trƣởng Liên Xô Vyacheslav Molotov đề nghị triệu tập một hội nghị quốc

tế nhằm tìm cách làm giảm căng thẳng trong quan hệ giữa các nƣớc, trong đó có vấn đề Triều

Tiên và vấn đề Đông Dƣơng.

Pháp và Anh tán thành ý kiến của Liên Xô nhƣng Mỹ phản đối kịch liệt. Trong chỉ thị

ngày 10-2 gửi cho Dulles (đang dự họp tại Berlin), Eisenhower nối kết việc "Pháp sẽ hành

động một cách toàn diện và mạnh mẽ để tiếp tục chiến tranh" với việc "Mỹ cung cấp thêm

tiền bạc và trang bị" cho Pháp [64, 416]. Dulles gặp riêng Bidault, hứa viện trợ thêm 500

triệu đô-la [133, 111] với điều kiện Pháp phải tiếp tục triển khai Kế hoạch Navarre và bỏ

ngay ý định thƣơng thuyết với Việt Minh. Pháp nhận tiền nhƣng chỉ thi hành điều kiện thứ

nhất.

Trƣớc sự nhất trí của ba trong bốn nƣớc tham dự Hội nghị Berlin, Mỹ trở thành thiểu

số.

Ngày 18-2, Hội nghị thông qua quyết định triệu tập một Hội nghị quốc tế ở Genève từ

26-4 để lần lƣợt bàn hai vấn đề:

 giải pháp hoà bình cho vấn đề Triều Tiên

 vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dƣơng

3.3.2. Mỹ tìm cách làm cho Hội nghị Genève không diễn ra (18-2 - 7-5-1954)

Việc triệu tập Hội nghị Genève hoàn toàn đi ngƣợc lại ý đồ của Mỹ về vấn đề Đông

Dƣơng.

141

Trong báo cáo ngày 5-4-1954, Uy ban đặc biệl vồ Đông Dƣơng khuyến cáo chính phủ

Mỹ:

"1. Chính sách của Mỹ là không chấp nhận điều gì ngoài một thắng lợi quân sự ở

Đông Dƣơng

2. Lập trƣờng của Mỹ là tranh thủ sự ủng hộ của Pháp đối với chính sách đó, và nếu

không đƣợc nhƣ vậy thì Mỹ sẽ kiên quyết phản đối mọi giải pháp thƣơng lƣợng về Đông

Dƣơng ở Genève.

3. Trong trƣờng hợp không thực hiện đƣợc điều 2 nói trên, lập trƣờng của Mỹ là đề ra

những biện pháp khẩn cấp với chính phủ Các quốc gia liên kết [ở Đông Dƣơng] nhằm tiếp

tục chiến tranh Đông Dƣơng với sự tham gia tích cực của Mỹ và không có sự ủng hộ của

Pháp nếu điều đó là cần thiết".

Ủy ban đề nghị chính phủ Mỹ "đảm bảo rằng sẽ không đặt ra vấn đề ngƣng bắn ở

Đông Dƣơng trƣớc khi giành đƣợc thắng lợi bằng hành động quân sự hoặc bằng việc Cộng

sản thừa nhận thất bại một cách rõ ràng". Uỷ ban cho rằng chính phủ Mỹ "cần phải gây sức

ép về chính trị và kinh tế đối với Pháp, coi đó là cách hành động đầu tiên để tăng cƣờng ý chí

tiếp tục hoạt động của Pháp ở Đông Dƣơng" [97, 36-37].

Cũng trong tháng 4, Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ đề xuất với chính phủ Mỹ

"báo cho Paris biết rằng việc Pháp ƣng thuận cho Cộng sản tiếp quản Đông Dƣơng sẽ ảnh

hƣởng tới địa vị của Pháp là một trong ba nƣớc lớn [của phe tƣ bản chủ nghĩa]" và rằng "viện

trợ của Mỹ cho Pháp sẽ mặc nhiên chấm dứt" [97, l1].

Trong hơn hai tháng rƣỡi (từ quyết định ngày 18-2 của Hội nghị Berlin đến trƣớc

ngày Hội nghị Genève khai mạc 8-5-1954) chính phủ Mỹ không hề nói tới hoà bình ngƣợc lại

luôn tìm cách kéo dài và đẩy mạnh chiến tranh. Không chỉ vạch ra kế hoạch "Cuộc hành

quân Chim kên kên" nhằm can thiệp quân

142

sự trực tiếp với quy mô lớn, Mỹ còn hô hào các nƣớc đồng minh của Mỹ tham gia một "hành

động thống nhất" ở Việt Nam, điều có thể khiến các chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa,

Liên Xô và Trung Quốc bất bình và rút lui khỏi Hội nghị Genève, khiến hội nghị này tan vỡ

trƣớc khi bắt đầu.

Ngày 27-4, một ngày sau khi Hội nghị Genève về Triều Tiên khai mạc, Dulles nhấn

mạnh với Bidault: "Điều cần phải làm, đó là chuẩn bị cuộc phản công từ hai vùng châu thổ

[sông Hồng và sông Cửu Long]" [136, 264]. Một tuần sau, ngày 3-5, Dulles nhắc lại ý đó với

đại sứ Pháp Jcan Chauvel: "Trƣớc hết phải giữ cho đƣợc hai vùng châu thổ sông Hồng và

sông Cửu Long để chuẩn bị cuộc phản công trong vòng hai năm tới" [137, 141].

Bất chấp ý đồ ngăn cản của Mỹ, Hội nghị Genève về Đông Dƣơng vẫn đƣợc triệu tập

tại Cung điện Các dân tộc vào lúc 16 giờ chiều thứ bảy 8-5, một ngày sau khi tập đoàn cứ

điểm Điện Biên Phủ sụp đổ, "trong tâm trạng buồn rầu sâu sắc nhất của Mỹ" nhƣ lời tƣờng

thuật của nhà báo Mỹ Chalmers M. Roberts [171, 31].

3.3.3. Mỹ tìm cách phá hoại Hội nghị Genève (8-5 -20-7-1954).

Tuy phải miễn cƣỡng ngồi vào bàn thƣơng thuyết, "Mỹ không muốn bị liên đới về bất

cứ phƣơng diện nào" với kết quả của Hội nghị và Dulles cho biết Mỹ có thể "xem xét khả

năng đơn phƣơng rút khỏi Hội nghị" [98, I, 145].

Do đó, Eisenhower quyết định: "hạ thấp phái đoàn Mỹ xuống thành một phái bộ quan

sát" [164, 23], chỉ thị cho Dulles về Mỹ ngày 5-5-1954 (ba ngày trƣớc khi Hội nghị về Đông

Dƣơng khai mạc). Trong khi ngƣời cầm đầu các phái đoàn tham dự Hội nghị Genève là các

ngoại trƣởng, thì trƣởng phái đoàn Mỹ chỉ là một thứ trƣởng Bộ ngoại giao, tƣớng Waller

Bedell Smith, nguyên cục trƣởng Cục tình báo trung ƣơng CIA. Smith tạm trú tại một khách

sạn ở

143

H. 34. Ngày 05-5-1954 DDulless rời Geneve (Thụy Sĩ), tẩy chay hội về Đông Dương sắp khai mạc.

H. 35. Tướng Wallter B. Smith, trưởng đoàn đại biểu chính phủ Mỹ tại Hội nghị Geneve, thảo luận với

Georges Bidault (Pháp) và Anthony (Anh).

Genève "nhƣ một khách vãng lai, phái đoàn của ông ta lúc nào cũng sẵn sàng ra đi" [137,

112].

Trong khi đó, lo sợ các đại đoàn chủ lực Việt Minh từ Điện Biên Phủ tiến xuống đồng

bằng sông Hồng, chính phủ Laniel lại kêu cứu Mỹ (10-5-1954).

Ngay tối hôm đó, Eisenhower triệu tập Dulles, đô đốc Radford và bộ trƣởng quốc

phòng Charles E. Wilson đến Nhà Trắng, phân công cho Radford và Wilson soạn thảo một kế

hoạch can thiệp quân sự vào Việt Nam và yêu cầu Dulles vận động Quốc hội ủng hộ kế

hoạch ấy.

Nửa tháng sau, kế hoạch đƣợc soạn xong (26-5) và đệ trình lên tổng thống (28-5).

Theo kế hoạch, Hải quân và Không quân Mỹ cùng với Lục quân Philippines và Thái Lan

đƣợc gửi sang Việt Nam để tăng cƣờng cho quân Pháp và quân Bảo Đại nhằm "tiến hành

những hoạt động phối hợp Hải-Lục-Không quân để tiêu diệt các lực lƣợng của địch" [97, 46].

Lực lƣợng can thiệp sẽ gồm "8 sƣ đoàn tác chiến, đƣợc yểm trợ bởi 35 tiểu đoàn công binh

cùng pháo binh và hậu cần mà một công việc khổng lồ nhƣ thế đòi hỏi" []. Kế hoạch đó

không loại trừ việc "sử dụng vũ khí nguyên tử bất cứ lúc nào điều đó phục vụ cho lợi ích

quân sự của chúng ta" [98, I, 127]. Nhân dịp này, Hội đồng tham mƣu trƣởng Liên quân của

Radford đề nghị tăng quân số MAAG từ 150 lên 2.250 ngƣời, tức là tăng 15 lần [98, I, 127].

"Tổng thống đã duyệt y những phƣơng hƣớng lớn" của kế hoạch [13, 197].

Trong khi đó, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, bộ đội Việt Nam mở thêm nhiều cuộc

tiến công lớn. Đại sứ Jean Chauvel, phó trƣởng đoàn Pháp tại Hội nghị Genève, phải thừa

nhận: "Chúng ta khó giữ đƣợc Hà Nội. Bộ chỉ huy cho biết gửi thêm hai sƣ đoàn nữa cũng

không giữ đƣợc thủ phủ Bắc Kỳ" [].

144

"Tình hình quân sự ở châu thổ sông Hồng gần Hà Nội vào cuối tháng 5 -đầu tháng 6

đã xấu đi đến mức Washington cảm thấy bây giờ có can thiệp thì cũng vô ích" [].

Tại Genève, phái đoàn Pháp - do ngoại trƣởng Goorges Bidault cầm đầu - "chỉ tìm

kiếm một cuộc ngƣng bắn, hy vọng chấm dứt các trận đánh [để] xoa dịu dƣ luận Pháp và cứu

chính phủ Laniel đang lung lay, hoãn việc thỏa hiệp chính trị lại một thời gian sau" []. Hội

nghị Genève lâm vào bế tắc, có thể thất bại. Dƣ luận yêu chuộng hoà bình - nhất là ở Pháp -

phản đối thái độ thiếu thiện chí của chính phủ Laniel. Ngày 12-6, Quốc hội Pháp bỏ phiếu

không tín nhiệm Laniel, cử Pierre Mendès France lập chính phủ mới.

Nhậm chức ngày 19-6, viên thủ tƣớng mới 47 tuổi long trọng hứa sẽ từ chức nếu

không đạt đƣợc một cuộc ngƣng bắn ở Đông Dƣơng trƣớc ngày 20-7-1954.

Trƣớc quyết tâm của P. M. France, chính phủ Mỹ lo sự. Dulles nói với Douglas

Dillon, đại sứ Mỹ ở Paris: "Chúng ta biết rất ít những gì mà các nhà lãnh đạo Pháp thực sự

nghĩ trong đầu... Chúng ta sợ rằng ngƣời Pháp chấp nhận một sự dàn xếp mà không tham

khảo trƣớc ý kiến của chúng ta khiến cho Đông Dƣơng hầu nhƣ chắc chắn sẽ rơi vào tay

Cộng sản chỉ trong vòng vài tháng" [133, 117]. Do đó, Mỹ "quyết định rằng tốt hơn hết đối

với Mỹ là ngƣng tham gia nhiều vào Hội nghị Genève" [64, 442]. Trƣởng phái đoàn Mỹ

Walter B. Smith nhận đƣợc chỉ thị bỏ Hội nghị về nƣớc (21-6), giao phái đoàn lại cho đại sứ

U. Alexis Johnson. Một lần nữa, phái đoàn Mỹ lại bị giáng cấp (downgraded). Dulles còn

"tính đến việc rút phái đoàn Mỹ khỏi Genève", tẩy chay Hội nghị.

Tại Hội nghị Genève, có nhiều ý kiến cho rằng nên giải quyết chiến tranh ở Việt Nam

bằng cách chia cắt lãnh thổ nhƣ trƣờng hợp Triều Tiên. Mỹ cực

145

lực phản đối đề nghị đó. Sau khi "mất" Trung Hoa, Mỹ không muốn "mất" thêm Bắc Việt

Nam nhƣ một hiệu ứng của "thuyết đô-mi-nô". Dulles cho rằng "việc Cộng sản [Việt Nam]

kiểm soát dù chỉ một phần của Đông Dƣơng sẽ là sự kiện mở đầu cho việc [họ] thống trị toàn

bộ vùng này" [142].

Tuy nhiên, khi giải pháp chia cắt đƣợc nhiều nƣớc tham dự Hội nghị Genève - trong

đó có Pháp và Việt Nam dân chủ cộng hoà - tán thành, Mỹ yêu cầu đƣờng phân chia phải

nằm ở phía trên vĩ tuyến 20° (tức giữa Bắc Bộ và Trung Bộ). Sau khi gặp Churchill và Eden,

Eisenhower và Dulles hạ thấp yêu cầu, chỉ đòi đƣờng phân chia không đƣợc nằm quá xa ở

phía nam của đƣờng kẻ từ Đồng Hới chạy về hƣớng tây (điểm 2 của Tuyên bố chung Mỹ -

Anh ngày 29-6-1954), tức khoảng vĩ tuyến 17°30'. Cuối cùng, Hiệp định Genève 1954 về

Việt Nam quyết định giới tuyến quân sự tạm thời nằm ở vĩ tuyến 17°.

Khi chấp nhận "mất" Miền Bắc Việt Nam, Mỹ muốn Việt Nam chia cắt lâu dài thành

hai nƣớc riêng biệt (nhƣ trƣờng hợp hai nƣớc Triều Tiên) và muốn Hội nghị Genève - theo

vết Hội nghị Bàn Môn Điếm một năm trƣớc đó - dừng lại ở việc giải quyết các vấn đề thuần

tuý quân sự (đình chiến, chia cắt lãnh thổ...) mà thôi. Điểm 4 của Tuyên bố chung Mỹ - Anh

ngày 29-6-1954 viết: Hiệp định Genève phải "không có những điều khoản chính trị có thể

dẫn tới việc mất các khu vực còn lại [Miền Nam Việt Nam, Lào, Cam-bốt] vào tay Cộng sản

kiểm soát" [60, 133].

Thế nhƣng, phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hoà đã đấu tranh để Hội nghị chấp

nhận rằng: việc phân chia lãnh thổ Việt Nam thành hai vùng tập kết của hai quân đội - Quân

đội nhân dân Việt Nam và Quân đội Liên hiệp Pháp - chỉ nhằm mục đích trƣớc mắt là tách

rời hai quân đội để "tránh những việc xung đột có thể làm cho chiến sự xảy trở lại" (điều 1,

Hiệp định đình chỉ

146

chiến sự ở Việt Nam), vĩ tuyến 17° là "giới tuyến quân sự chỉ có tính chất tạm thời, hoàn toàn

không thể coi là một ranh giới về chính trị hay về lãnh thổ" (Tuyên bố cuối cùng của Hội

nghị Genève), một cuộc tổng tuyển cử bằng phiếu kín sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 để nhân

dân hai miền Nam Bắc Việt Nam tự do quyết định tƣơng lai của nƣớc Việt Nam thống nhất.

Mỹ không chấp nhận giải pháp đó. Ngày 10-7, Dulles trả lời rằng Mỹ "không muốn

tham dự một cách đầy đủ về mặt ngoại giao tại một hội nghị mà Mỹ không thể tán thành kết

quả của hội nghị đó" [64, 446]

Ngày 13-7, Dulles và P.M. France gặp nhau tại điện Matignon, lần đầu tiên kể từ khi

P.M. France giữ chức thủ tƣớng Pháp. P.M. France nhắc lại đề nghị Dulles hay Smith trở lại

Genève, vì chỉ còn một tuần nữa là đến hạn cuối cùng P.M. France phải đạt đƣợc ngƣng bắn

hay phải từ chức. Dulles trả lời một cách lạnh lùng: "Thế nào đi nữa, điều mà các anh sẽ ký

kết ở Genève là xấu. Chúng tôi không muốn, bằng sự có mặt của chúng tôi, tán trợ cho một

Yalta mới" [136, 245]. Theo lời kể của một viên chức Bộ ngoại giao Pháp, cuộc gặp gỡ đầu

tiên giữa ngoại trƣởng hai nƣớc Mỹ - Pháp kết thúc trong sự bất đồng ý kiến sâu sắc: "Dulles

đập bàn. Mendès France cũng đập bàn... Dulles bỏ đi một cách giận dữ" [4, 265].

Ngày 16-7, Eisenhower chỉ thị cho Smith trở lại Genève, không phải để góp phần vào

thành công của Hội nghị, mà để "tìm hết cách ngăn cản việc đi đến một hiệp định" [5,47].

Ngày 19-7 một ngày trƣớc khi Hội nghị Genève đƣợc ký kết, "đƣợc thông báo về

những dự thảo cuối cùng của Hiệp định, J.F. Dulles nổi giận đùng đùng, tuyên bố rằng những

dự thảo đó ít phù hợp với "Bảy điểm" ngày 29-6" [136 253]. "Bằng bất cứ giá nào cũng phải

ngăn cản một giải pháp trƣớc nửa đêm 20 tháng 7" [5, 47].

147

"Suốt trong ngày 20 tháng 7, hoạt động ngoại giao rất sôi nổi, những dự thảo Hiệp

định đƣợc luân chuyển giữa các phái đoàn. Nhiều thì giờ quý đã bị mất đi vì W.B. Smith

không chịu hợp tác trong bất kỳ công việc nào, nằm khoèo tại buồng khách sạn và mọi dự

thảo đều phải gửi đến đó" [4, 267].

Bất chấp những cản trở mà Mỹ cố tình dựng lên, Hội nghị Genève cuối cùng vẫn đạt

tới những Hiệp định đình chỉ chiến sự ở ba nƣớc Đông Dƣơng vào rạng sáng ngày 21-7-1954.

Trƣớc đó, trong điện gửi cho Smith, Dulles viết: "Mỹ sẽ không cùng ký với Cộng sản

bất cứ tuyên bố nào" và chỉ thị cho Smith "đƣa ra một tuyên bố đơn phƣơng hay, nếu có thể,

một tuyên bố đa phƣơng" [98, I, 152]. Do đó, khi trƣởng phái đoàn các nƣớc tham dự Hội

nghị nhất trí thông qua Bản tuyên ngôn cuối cùng của Hội nghị, thì Smith phát biểu một cách

lạc lõng: "Chính phủ [Mỹ] không sẵn sàng tham gia vào bản Tuyên bố của Hội nghị nhƣ đã

đƣợc đệ trình" [181] và đƣa ra một bản Tuyên bố đơn phƣơng của riêng Mỹ.

Mỹ từ chối ký kết vì "Mỹ không muốn bị ràng buộc vào bất cứ văn kiện nào" [13,

303] của Hội nghị nhằm sau này rảnh tay để vi phạm.

Hành động cuối cùng này của Mỹ nhằm phá hoại Hội nghị Genève chính là bƣớc

chuẩn bị đầu tiên để phá hoại Hiệp định Genève...

148

CHƢƠNG III: MIỀN NAM VIỆT NAM TRONG Ý ĐỒ BÀNH

TRƢỚNG THẾ LỰC CỦA MỸ (TỪ GIỮA 1954 ĐẾN GIỮA 1956)

1. Mỹ thay ảnh hưởng của Pháp bằng thế lực của Mỹ

1.1. Mỹ gạt Pháp ra khỏi Miền Nam Việt Nam

1.1.1. Mỹ loại dần các con cờ của Pháp

1.1.2. Mỹ loại Pháp ra khỏi Miền Nam Việt Nam

- Mỹ viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm

- Mỹ buộc Pháp rút quân khỏi Miền Nam Việt Nam

1.2. Mỹ biến Miền Nam Việt Nam thành một khu vực ảnh hƣởng của Mỹ

1.2.1. Mỹ xây dựng chính quyền và quân đội thân Mỹ ở Miền Nam Việt Nam

1.2.2. Mỹ gia tăng số quân nhu Mỹ và đổ vũ khí vào Miền Nam Việt Nam

2. Mỹ núp bóng dưới SEATO để can thiệp quân sự trực tiếp vào Việt Nam

2.1. Mỹ âm mƣu quốc tế hoá sự can thiệp quân sự vào Việt Nam

2.2. Con đƣờng đi đến SEATO

2.3. SEATO và Việt Nam

3. Mỹ phá hoại hiệp định Geneve, nhen lại ngọn lửa chiến tranh ở Việt

Nam

3.1. Mỹ phá hoại tổng tuyển cử để tái thống nhất Việt Nam

3.2. Mỹ trả thù và phân biệt đối xử những ngƣời Việt Nam yêu nƣớc

149

1. Mỹ thay ảnh hưởng của Pháp bằng thế lực của Mỹ

Trong chín năm sau Thế chiến thứ hai (1945-1954), Mỹ tích cực giúp Pháp để Pháp

làm một "cảnh sát khu vực" (regional policeman) có nhiệm vụ thi hành "chính sách ngăn

chặn" của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á.

Bất chấp Mỹ ngăn cản, Pháp vẫn ngồi vào bàn thƣơng lƣợng với đại biểu chính phủ

Việt Nam dân chủ cộng hoà (từ 8-5-1954), sau đó ký Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 giao

Miền Bắc Việt Nam cho Cộng sản và cam kết tổ chức vào tháng 7-1956 một cuộc tổng tuyển

cử mà, theo lời của Dulles, "cuối cùng sẽ dẫn tới sự thống nhất nƣớc Việt Nam dƣới quyền

của Hồ Chí Minh" [97, 46]. Nhƣ thế, Pháp đã không làm tròn nhiệm vụ một "cảnh sát khu

vực" cho Mỹ và phải bị gạt khỏi Miền Nam Việt Nam.

"Những ngày Mỹ và Pháp có chung một chính sách đã trôi qua; từ nay Mỹ muốn hành

động một cách độc lập với Pháp ở Việt Nam" [183].

Ngay từ đầu tháng 8-1954, Hội đồng tham mƣu trƣởng Liên quân Mỹ đã "kêu gọi

Pháp rút hoàn toàn ra khỏi [Miền Nam Việt Nam]" [98, I, 215]. Dulles thận trọng hơn, sợ

việc rút quân Pháp quá nhanh có thể tạo ra một khoảng trống quân sự mà những ngƣời yêu

nƣớc Việt Nam có thể lợi dụng, nên trong thƣ ngày 18-8-1954 gửi bộ trƣởng Quốc phòng

Charles Wilson, Dulles đề nghị: "Mỹ thực hiện một chƣơng trình huấn luyện [quân đội của

Diệm] đồng thời với việc Pháp bắt đầu rút dần khỏi chiến nƣờng [Miền Nam Việt Nam]" [98,

I, 216|.

1.1. Mỹ gạt Pháp ra khỏi Miền Nam Việt Nam.

1.1.1. Mỹ loại bỏ dần các "con cờ" của Pháp.

150

Muốn gạt Pháp ra khỏi Miền Nam Việt Nam, trƣớc hết phải thay thế dần tay chân của

Pháp bằng những ngƣời thân Mỹ.

Vị trí đầu tiên mà Mỹ muốn đƣa ngƣời của mình vào là chức thủ tƣớng Chính phủ

Quốc gia Việt Nam. Để thay thế Bửu Lộc, Mỹ chọn Jean Baptiste Ngô Đình Diệm, một chính

khách hội đủ những điều kiện cần thiết để trở thành một con cờ của Mỹ: chống Cộng, ghét

Pháp và thân Mỹ.

Không phải đến bây giờ Ngô Đình Diệm mới chống Cộng, mà đã từng chống Cộng từ

giữa những năm 20, khi tổ chức Cộng sản đầu tiên mới ra đời, lúc ông ta phục vụ trong bộ

máy quan lại Nam triều dƣới sự bảo hộ của thực dân Pháp. "Năm 1925, ông ta bắt đầu nhận

thấy Cộng sản hoạt động trong vùng của ông ta và cho đến 1929, ông ta tìm cách chống lại

ảnh hƣởng của những hoạt động đó. Năm 1929, ông ta bắt những lãnh tụ Cộng sản và gửi

một báo cáo lên cấp trên ngƣời Pháp" [46, 1254]. Theo lời ông ta kể, "công việc chính [của

ông ta lúc đó] là cùng với trƣởng đồn ngƣời Pháp đi thanh sát ở làng quê, hoặc khám phá và

lùng bắt những tổ Cộng sản thời 1929-30" [18, 25]. Từ tháng 4-1930 đến tháng 4-1933, lúc

làm quản đạo Ninh Thuận rồi tuần vũ Bình Thuận, "ông đã giúp Pháp đè bẹp những cuộc nổi

dậy đầu tiên của nông dân do Đảng [cộng sản] phát động trong những năm ấy" [28, 235].

Nhờ tích cực đàn áp phong trào yêu nƣớc và cách mạng chống thực dân Pháp, Diệm

tiến rất nhanh trên con đƣờng làm quan. Chỉ sau 12 năm (1921-1933), ông ta đƣợc bổ làm

thƣợng thƣ Bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần khi mới 32 tuổi.

Hai mƣơi mốt năm sau, khi các bên tham dự Hội nghị Genève đang thƣơng lƣợng một

giải pháp cho chiến tranh Việt Nam (tạm thời chia đôi lãnh thổ trong khi chờ đợi một cuộc

tổng tuyển cử để tái thống nhất đất nƣớc), Mỹ chọn Ngô Đình Diệm vì "rõ ràng Diệm rất

thích hợp với mục tiêu của chính

151

quyền [Mỹ] muốn ngăn ngừa khả năng tái thống nhất miền Nam với Miền Bắc cộng sản"

180, 82].

Ngày 16-6-1954, lợi dụng cuộc khủng hoảng nội các ở Pháp - chính phủ Laniel bị đổ

từ 12-6, nhƣng mãi đến 19-6 P.-M. Francc mới lập dƣợc chính 'phủ mới - Mỹ gây sức ép để

Pháp và Bảo Đại cử Ngô Đình Diệm làm thủ tƣớng thay hoàng thân Bửu Lộc, giao cho Diệm

toàn quyền về quân sự lẫn dân sự (sắc lệnh số 38-QT ngày 16-6-1954 của Bảo Đại).

Từng leo tới đỉnh cao nhất trong hệ thống quan lại Nam Triều nhƣng chẳng đƣợc bao

lâu, ông bị thất sủng. "Pháp lấy lại các tƣớc vị và huy chƣơng đã ban cho ông" [133, 122]. Vì

vậy, theo nhà ngoại giao Mỹ ở Sài Gòn, Diệm "thù ghét Pháp một cách mù quáng" [80, 78],

còn tài liệu Lầu Năm Góc gọi Diệm là "một ngƣời ghét Pháp hạng nhất" 198, I, 210], "Diệm

quay sang Nhật Bản khi Nhật chiếm Việt Nam năm 1940" [105, 14]. Pháp thƣờng xuyên theo

dõi Diệm [133, 122]. Năm 1942, Pháp cách chức Ngô Đình Khôi (anh cả của Diệm, làm tổng

đốc Quảng Nam) "về tội âm mƣu câu kết với Nhại chống lại họ" [28, 229]. Tháng 7-1944,

Pháp định bắt Diệm, ông ta phải nhờ Tổng hành dinh Quân đội Nhật ở Sài Gòn che chở [130,

276]. Sau đó, Nhật đƣa Diệm sang lánh tại Bangkok và Singapore.

Nhật đầu hàng, Pháp trở lại tái chiếm Việt Nam, Diệm "cố thử một lần nữa với Pháp,

và khi thấy điều đó tỏ ra ít hứa hẹn, ông ta quay sang Mỹ" [105, 14].

Tháng 8-1950, Diệm sang Mỹ. Hồng y Francis Joseph Spellman - ngƣời nổi tiếng

chống Cộng, từng "công khai ủng hộ thƣợng nghị sĩ Joseph McCarthy" [79 36] - nhận đỡ đầu

Diệm, cho Diệm ăn ở trong các tu viện dòng Tên Maryknoll ở Lakewood (bang New Jersey)

và ở Ossining (bang New York). Một viên chức cao cấp của Cục Tình báo trung ƣơng C1A,

Wesley

152

H.36-37. Đằng sau "lá bài Bảo Đại" (1949) và "lá bài Ngô Đình Diệm" (1954), đều có bàn tay của Mỹ

144

H.38-39. Những người tạo ra "lá bài Ngô Đình Diệm": Eisenhower và Dulles.

145

H.40-41-42-43. Những người đỡ đầu Ngô Đình Diệm trong 5 năm lưu vong trên đất Mỹ: hồng y Francis Spellman, chánh á n William O. Douglas, thượng nghị sĩ John F. Kennedy và thượng nghị sĩ Mike Mansfield.

146

Fishel (giáo sƣ Khoa chính trị Trƣờng đại học bang Michigan) đào tạo Diệm thành một

chính khách thân Mỹ. Diệm lân la làm quen với nhiều nhân vật trên chính trƣờng Mỹ, của

Đảng Dân chủ lẫn Đảng Cộng hoà, nhƣ chánh án Tòa án tối cao William O. Douglas, các

nghị sĩ Mike Mansfield, John F. Kennedy, Hubert H. Humphrey, Richard M. Nixon, William

F. Knowland, Walter H. Judd ...

Mùa xuân năm 1954, Dulles sang Paris gặp Bảo Đại, khuyên Bảo Đại chọn Diệm làm

thủ tƣớng chính phủ Quốc gia Việt Nam [53, 127], nhƣng bị chính phủ Laniel phản đối. Phải

chờ đến khi chính phủ Laniel đổ (12-6), ý định của Mỹ mới thành công.

Nhà sử học Mỹ Stanley Karnow nhận định: "Diệm là công cụ của Mỹ ở Việt Nam,

thông qua ông ta mà Mỹ tiến sâu hơn vào Đông Nam Á" [].

Ngày 7-7, chính phủ Ngô Đình Diệm đƣợc thành lập, chỉ gồm 9 bộ, do những phần tử

chống Cộng và thân Mỹ đứng đầu, riêng Diệm cùng một lúc giữ ba chức vụ chủ chốt: thủ

tƣớng kiêm tổng trƣởng quốc phòng kiêm tổng trƣởng nội vụ. Những chính khách thân Pháp

đều bị loại khỏi nội các.

Tuy nhiên, nhóm tƣớng tá thân Pháp vẫn còn nắm quân đội (với trung tƣớng Nguyễn

Văn Hinh làm tổng tham mƣu trƣởng) và cảnh sát (với Lại Văn Sang làm tổng giám đốc).

Ngày 10-9, Diệm cử Nguyễn Văn Hinh sang Pháp công tác trong sáu tháng. Thấy

đƣợc thâm ý của Diệm muốn "điệu hổ ly sơn", Hinh không chịu đi, viện cớ thủ tƣớng không

có quyền điều động tổng tham mƣu trƣởng. Một tháng sau, ngày 9-10, lấy cớ Hinh có quốc

tịch Pháp, Diệm cách chức tổng tham mƣu trƣởng Quân đội quốc gia Việt Nam của Hình.

Hinh không tuân lệnh Diệm, cùng một nhóm tƣớng tá thân Pháp chuẩn bị lật đổ Diệm. Theo

đại sứ Mỹ ở Sài Gòn Donald Heath, nhóm của Hinh đƣợc Pháp - ở Sài Gòn

153

cũng nhƣ ở Paris - "kín đáo khuyến khích, nếu không phải là ủng hộ một cách không chính

thức" [98, I, 219].

Đại tá tình báo Mỹ Edward G. Lansdale, chỉ huy Phái bộ quân sự Sài Gòn (Saigon

Military Mission, SMM) đƣợc cử đến gặp Hinh, nói thẳng với Hinh rằng Mỹ sẽ ngƣng ủng hộ

Quân đội nếu Quân đội chống lại Diệm [97, 59]. Ngày 15-10, trƣớc Uỷ ban đối ngoại của

Thƣợng viện Mỹ, thƣợng nghị sĩ lên tiếng đề nghị, trong trƣờng hợp Diệm đổ, "Chính phủ

Mỹ sẽ xem xét việc ngƣng ngay tức khắc mọi viện trợ cho các lực lƣợng Việt Nam và Liên

hiệp Pháp ở đó" [81, 68]. Ngày 23-10, tại Paris, Dulles nói với P.-M. France: "Nếu Pháp

không ủng hộ Diệm, Mỹ sẽ xét lại vấn đề viện trợ cho Pháp".

Ngày 24-10, Eisenhower gửi thƣ cho Diệm, hứa sẽ viện trợ trực tiếp cho Diệm, không

qua trung gian của Pháp nữa, nhằm xây dựng ở Miền Nam Việt Nam một chính phủ mạnh và

ổn định. "Lá thƣ này có tầm quan trọng to lớn đối với Diệm, vì nó báo cho các đối thủ hiện

nay của Diệm ở Miền Nam Việt Nam biết rằng Diệm đã đƣợc chọn làm công cụ của chính

sách của Mỹ" [25, 60].

Ngày 8-11, Eisenhower cử tƣớng J. Lawton Collins, nguyên tham mƣu trƣởng Lục

quân Mỹ, làm đại sứ đặc biệt của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam, đồng thời là đại diện riêng của

Eisenhower bên cạnh chính phủ Diệm. Vừa đặt chân tới Sài Gòn, Collins đã nhấn mạnh: Mỹ

sẽ cung cấp "mọi viện trợ có thể có đƣợc cho chính phủ Diệm và chỉ cho chính phủ Diệm mà

thôi", rồi răn đe nhóm tƣớng tá thân Pháp rằng Mỹ sẽ ngƣng "huấn luyện và viện trợ cho

quân đội Việt Nam nếu quân đội đó không tuân lệnh thủ tƣớng một cách hoàn toàn và tuyệt

đối" [81,68].

154

Trƣớc sức ép của Mỹ, Pháp - Bảo Đại phải nhƣợng bộ. Ngày 20-11, Hinh bị trục xuất

sang Pháp. Sau đó, một loạt sĩ quan thân Pháp cũng bị sa thải khỏi quân đội, một số bị buộc

phải rời khỏi Miền Nam Việt Nam(*).

Ngày 1-12, Diệm chọn thiếu tƣớng Lê Văn Tỵ, một sĩ quan do Pháp đào tạo nhƣng đã

ngã theo Mỹ, làm tổng tham mƣu trƣởng thay Hinh.

Sau quân đội, Mỹ giành quyền kiểm soát ngành cảnh sát đang còn nằm trong tay tổ

chức Bình Xuyên thân Pháp.

Ngày 26-3-1955, Diệm lập Sở cảnh sát đô thành Sài Gòn trực thuộc đô trƣởng Sài

Gòn, chứ không thuộc tổng giám đốc cảnh sát Lại Văn Sang (một nhân vật có thế lực của

nhóm Bình Xuyên). Rạng sáng 28-3, Diệm cho một đại đội lính dù tấn công tổng hành dinh

cảnh sát của Lại Văn Sang.

Quân Bình Xuyên trả đũa, nã pháo vào Dinh Độc Lập (nơi Diệm ở và làm việc), nổ

súng vào trụ sở sở cảnh sát đô thành Sài Gòn, Bộ tổng tham mƣu Quân đội của Diệm. Đêm

29 rạng 30-3, quân của Diệm mở cuộc tấn công vào quân Bình Xuyên, nhƣng "các sĩ quan

Pháp đã cắt nguồn tiếp tế khí đốt và vũ khí trong một lúc nhằm giữ quân đội quốc gia ở thế

phòng vệ" [98, I, 231]. "Tƣớng Ely phản đối một cuộc tấn công của quân đội quốc gia vào

tổng hành dinh của cảnh sát [của Bình Xuyên]" []. Theo lời kể của Lansdale, Pháp nói với

Diệm rằng nếu ông ta cố chiếm tổng hành dinh của cảnh sát - mà bây giờ nằm trong khu vực

của Pháp -, lính Pháp sẽ nổ súng vào quân đội Việt Nam [của Diệm]" [98, I, 232].

Một tháng sau ngày 25-4, Diệm tiến thêm một bƣớc nữa, cách chức Lại Văn Sang, cử

(*) Nhƣ thiếu tƣớng Nguyễn Văn Vỹ, thiếu tƣớng Nguyễn Văn Vận, trung tá Trần Đình Lan, thiếu tá Quách Sến ...

đại tá Nguyễn Ngọc Lễ làm tổng giám đốc Cảnh sát.

155

Ngay ngày hôm sau, tƣớng Lê Văn Viễn, thủ lĩnh Bình Xuyên, ra lệnh cho quân Bình

Xuyên nả súng vào Dinh Độc Lập, vào trụ sở của Tổng nha cảnh sát và Bộ tổng tham mƣu.

"Pháp công khai ủng hộ Bình Xuyên, cung cấp tin tức cho Bình Xuyên và chặn đƣờng

quân của Diệm" [133, 127]. Trong khi đó, "cùng với quyền giám đốc CIA [tại Miền Nam

Việt Nam], đại tá Lansdale thành lập một toán giúp tiến hành các hoạt động chống lại Bình

Xuyên" [97, 20].

Đƣợc Mỹ giúp phƣơng tiện đầy đủ, quân của Diệm đánh sang tổng hành dinh Bình

Xuyên ở bên kia cầu Chữ Y. Núng thế, quân Bình Xuyên phải rút ra Rừng Sác. Từ 21-9 đến

21-10, Diệm mở Chiến dịch Hoàng Diệu tấn công vào Rừng Sác. Quân Bình Xuyên tan rã.

Lê Văn Viễn, Lại Văn Sang và Lại Hữu Tài lánh sang Pháp, bị Diệm truy tố vắng mặt trƣớc

Toà án quân sự (21-5) và tuyên án tử hình, tịch thu tài sản. Một số thủ lĩnh khác của Bình

Xuyên bị đày ra Côn Đảo.

Tham dự Hội nghị ngoại trƣởng ba nƣớc Mỹ-Anh-Pháp tại Paris đầu tháng 5-1955,

Dulles bình luận: "Chúng tôi không xem Bình Xuyên là một giáo phái và chúng tôi tin rằng

Bình Xuyên phải bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, rằng chính phủ Diệm cần phải đƣợc sự ủng

hộ đầy đủ để nắm lấy quyền kiểm soát ngành cảnh sát quốc gia" [127, 183].

Ở Miền Nam Việt Nam lúc đó, ngoài Bình Xuyên, còn hai nhóm thân Pháp khác là

Cao Đài (Tây Ninh) và Hoà Hảo. Đây là hai nhóm chính trị - quân sự khoác vỏ tôn giáo,

đƣợc Pháp cho hƣởng một số đặc quyền đặc lợi để giúp Pháp chống lại cuộc kháng chiến của

quân và dân Việt Nam.

Bản thân các nhóm này không thuần nhất (Cao Đài Tây Ninh có các nhóm Phạm

Công Tắc, Nguyên Thành Phƣơng, Trình Minh Thế Hoà Hảo có các nhóm Trần Văn Soái, Lê

Quang Vinh, Lâm Thành Nguyên, Nguyễn Giác

156

Ngộ ...) nên Mỹ dùng đô-la và địa vị để lôi kéo ngƣời cầm đầu mỗi nhóm về với Mỹ. Theo

nhà sử học Bernard B. Fall, Mỹ đã chi 3,6 triệu đô-la để mua Nguyễn Thành Phƣơng (Cao

Đài) và 3 triệu đô-la để mua Trần Văn Soái (Hoà Hảo) [130, 282], cho hai nhân vật này giữ

chức quốc vụ khanh kiêm uỷ viên Quốc phòng trong chính phủ cải tổ ngày 24-9-1954; chi 2

triệu đô-la để mua Trình Minh Thế [63, 145], phong Thế hàm thiếu tƣớng (13-2-1955); chi

hơn 12 triệu đô-la trong hai tháng 3 và 4-1955 để mua các tƣớng tá Cao Đài và Hoà Hảo khác

[81, 70], phong hàm thiếu tƣớng cho Nguyễn Giác Ngộ (Hoà Hảo, 13-8-1954), Lâm Thành

Nguyên (Hoà Hảo, 24-9-1954), Văn Thành Cao (Cao Đài, 13-5-1955) v.v..., cho 6 nhân vật

(3 Hoà Hảo và 3 Cao Đài) giữ các chức vụ tổng trƣởng, bộ trƣởng, thứ trƣởng trong chính

phủ cải tổ ngày 24-9-1954 v.v...

Với những nhóm Bình Xuyên, Cao Đài (Tây Ninh), Hoà Hảo khác không theo Mỹ,

Ngô Đình Diệm tìm cách cô lập và đàn áp. Vì vậy, ngày 22-2-1955, các nhóm này tập hợp lại

thành Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia. Đƣợc Mỹ giúp đỡ, Diệm thẳng tay tiêu diệt các

nhóm này. Lê Quang Vinh (Hoà Hảo) bị bắt (13-4-1956) và bị chém đầu (13-7-1956);

Nguyễn Văn Thành (Cao Đài) cũng bị bắt và bị kết án tử hình (13-8-1957) v.v... Trƣớc đó,

Phạm Công Tắc (hộ pháp Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh) phải trốn sang Căm-pu-chia (16-2-

1956) và chết ở đó (17-5-1959).

Trƣớc Uỷ ban đối ngoại của Thƣợng viện Mỹ, Dulles tổng kết việc loại bỏ các phe

nhóm chính trị - quân sự thân Pháp: "Diệm đã làm đƣợc một chuyện kỳ diệu trong việc quét

sạch quân đội các phe nhóm, lẽ dĩ nhiên là với sự giúp đỡ của chúng ta (...) Giờ đây, tất cả

bọn chúng đều đã bị thanh toán, ít ra là trong chừng mực có liên quan đến quân đội hay cảnh

sát riêng của chúng, chỉ còn phải tiến hành những cuộc hành quân càn quét nhỏ nữa thôi (...)

Bây

157

giờ, uy quyền của Diệm trên cả khu vực đã đƣợc thừa nhận. Nhƣ tôi đã nói, điều ấy đƣợc

thực hiện với sự giúp đỡ to lớn của Mỹ trong việc huấn luyện và trang bị cho các lực lƣợng

quốc gia" [115, 159-160].

Pháp bất bình thấy những phe nhóm thân Pháp ở Miền Nam Việt Nam bị loại dần.

Ngày 29-4-1955, thủ tƣớng mới của Pháp Edgar Faure lên tiếng đả kích Diệm đã "tập trung

sự thù địch của mọi ngƣời vào Pháp" [98, I, 237], cho rằng Diệm "không chỉ không có năng

lực mà còn điên rồ nữa" [133, 125], "Diệm không còn phù hợp để lãnh đạo Miền Nam Việt

Nam" [25, 66]. Ngày 11-5, Faure yêu cầu Dulles "việc tuyên truyền chống Pháp phải chấm

dứt, Bảo Đại phải đƣợc giữ ở cƣơng vị quốc trƣởng"; những ngƣời làm mất sự hoà thuận giữa

Pháp và Mỹ (nhƣ Lansdale chẳng hạn) phải đƣa ra khỏi Việt Nam [98, I, 238].

Ngày 21-4, tại lâu đài Thorenc ở Cannes (miền nam nƣớc Pháp), Bảo Đại tuyên bố

ông có ý định cách chức Ngô Đình Diệm và cử Phan Huy Quát làm thủ tƣớng. Một tuần sau,

ngày 28-4, Bảo Đại gửi về Sài Gòn hai bức điện: bức thứ nhất cử thiếu tƣớng Nguyễn Văn

Vỹ làm tổng tham mƣu trƣởng Quân đội quốc gia Việt Nam, cử tƣớng Nguyễn Văn Hinh về

nƣớc điều tra tình hình; bức thứ hai triệu tập Diệm và tƣớng Lê Văn Tỵ sang Pháp gặp Bảo

Đại.

Rõ ràng Pháp - Bảo Đại muốn thực hiện một cuộc đảo chính mà không cần nổ súng.

Đến đây, nhƣ nhận định của Tài liệu Lầu Năm Góc, "mối bất đồng giữa hai nƣớc [Mỹ

và Pháp] trở nên cơ bản hơn bất cứ lúc nào trong quá khứ" [98, I, 236], nên Mỹ thấy đã đến

lúc thực hiện điều mà Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ đã quyết định từ 20-8-1954 trong bị

vong lục số 5429/2 ngày 20-8-1954: "lật đổ Bảo Đại bằng con đƣờng hợp pháp" (legally

dethrone Bao Dai) [98, I, 204].

158

Tại Washington, thƣợng nghị sĩ Hubert H. Humphrey tuyên bố: "Thủ tƣớng Diệm là

niềm hy vọng tốt đẹp nhất mà chúng ta có đƣợc ở Miền Nam Việt Nam. Ông ta là vị lãnh tụ

của dân tộc. Ông ta xứng đáng và phải đƣợc sự ủng hộ toàn tâm toàn ý của chính phủ và

chính sách đối ngoại của Mỹ. Đây không phải là lúc để có những biện pháp nửa vời hay do

dự... Trên chân trời chính trị của Việt Nam, ông ta là ngƣời duy nhất có thể tập hợp đƣợc ở

một mức độ quan trọng sự ủng hộ của nhân dân... Nếu nhƣ chúng ta có điều chỉ trích nào về

sự lãnh đạo ở Việt Nam thì ngƣời bị chỉ trích chính là Bảo Đại. Đã đến lúc chúng ta cắt đứt

mọi quan hệ với Bảo Đại, chứ không phải với Diệm. Nếu chính phủ Miền Nam Việt Nam

không đủ chỗ cho cả hai ngƣời này thì chính Bảo Đại phải ra đi" [81, 71]. Thƣợng nghị sĩ

Mike Mansfield đã đáp lại: "Quốc hội [Mỹ] không sẵn lòng dành kinh phí cho một nƣớc Việt

Nam không có Diệm" []. Chính phủ Mỹ cũng cảnh báo: "Diệm phải đƣợc giữ lại làm thủ

tƣớng, nếu không Mỹ sẽ chấm dứt việc ủng hộ tài chính" [80, 82].

Tại Paris, Dulles công khai bày tỏ lập trƣờng của chính phủ Mỹ: "Chúng tôi tin rằng

Diệm tƣợng trƣng cho niềm hy vọng tốt đẹp nhất của một sự tiến triển ôn hoà, có thể chịu

đƣợc và chống Cộng sản (...) Chúng tôi tin rằng cơ may tốt nhất và có lẽ duy nhất, đó là ủng

hộ Diệm một cách vô điều kiện". Để cập đến số phận của Bảo Đại trong những ngày sắp tới,

Dulles nói: "Chúng tôi tin rằng mối quan hệ giữa Bảo Đại với Việt Nam phải đƣợc giải quyết

bởi chính ngƣời Việt Nam" [127, 183].

Ở Sài Gòn Diệm và Lansdale bàn cách đối phó với hai bức điện của Bảo Đại: Diệm

và Tỵ sẽ không qua Pháp, không công nhận Vỹ là tổng tham mƣu trƣởng(*) không cho phép

(*) Ngày 21-5-1955 Diệm truy tố Vỹ ra Tòa án quân sự. Vỹ bị tuyên án tử hình, tƣớc binh quyền và tịch thu gia sản (13-1-1956).

Hinh về lại Việt Nam. Không dừng lại ở đó,

159

Lansdale còn khuyên Diệm: "Cách duy nhất để ông có thể ở lại [chức vụ thủ tƣớng] là để cho

nhân dân yêu cầu ông ở lại qua một cuộc trƣng cầu ý dân" [91,71].

Dƣới sự đạo diễn của Lansdale, một Hội đồng nhân dân cách mạng đƣợc thành lập

ngày 29-4 và ra tuyên bố đòi truất phế Bảo Đại trong buổi họp ngày hôm sau tại Tòa đô chính

Sài Gòn. Bộ trƣởng Pháp La Forest đã phản đối với Dulles (đang có mặt tại Paris trong tháng

5-1955) về hoạt động của Hội đồng này: "Có một chiến dịch dữ dội chống lại ngƣời Pháp và

đạo quân viễn chinh Pháp" và cảnh báo Mỹ: "Cán bộ Việt Minh lợi dụng Hội đồng này" [98,

I, 237].

Sau nhiều tháng chuẩn bị một cách cẩn thận, ngày 6-10, Ngô Đình Diệm loan báo

giao cho Bộ nội vụ tổ chức cuộc trƣng cầu ý dân mà Lansdale gợi ý.

Ngày 18-10, Bảo Đại cách chức thủ tƣớng của Ngô Đình Diệm. Nhƣng đã quá muộn:

nhờ Mỹ, Diệm đã nắm chắc trong tay chính phủ, quân đội và cảnh sát.

Ngày 23-10, "với sự giúp đỡ của Lansdale và những ngƣời Mỹ khác, Diệm tổ chức

cuộc trƣng cầu ý dân nhằm truất phế Bảo Đại và bầu ông ta cầm đầu Nhà nƣớc" [133, 128].

Theo nhà sử học Stanley Karnow, Lansdale trƣớc kia làm nghề quảng cáo, nên ông ta

áp dụng các phƣơng pháp quảng cáo vào cuộc trƣng cầu ý dân, nhƣ lựa chọn màu sắc các

phiếu bầu (màu đỏ cho Diệm, màu xanh cho Bảo Đại) để gây ấn tƣợng cho cử tri [133, 128],

đƣa ra những khẩu hiệu ngắn gọn, có vần dễ nhớ: "Phiếu xanh bỏ giỏ, phiếu đỏ bỏ bì" v.v...

Theo lời của Lansdale, Ngô Đình Nhu - em trai và là cố vấn chính trị của Diệm - "đã

ra lệnh cho tổ chức của ông ta nhét phiếu (stuff) vào một số thùng phiếu và phá hủy những

thùng phiếu khác" [91, 71]. Nhờ vậy, kết quả cuối

160

cùng (công bố ngày 26-10) là Diệm đã đắc cử với 98,2% số phiếu, một tỷ lệ mà Tài liệu Lầu

Năm Góc gọi là "quá ƣ vang dội" [97, 21], còn Nixon thì cho là "phi lý, lố bịch" [100, 40].

Nhà sử học Bernard Fall cho biết: "Chẳng hạn tại khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn, có

450.000 cử tri đăng ký nhƣng có đến 605.025 lá phiếu bầu" [130, 296](*).

Các nhà sử học Mỹ có những nhận định giống nhau: đây là "một cuộc bầu cử gian lận

một cách thô bỉ" [81,71], "một cuộc trƣng cầu ý dân gian dối" [63, 77], "gian lận hơn phần

lớn các cuộc bầu cử đƣợc tổ chức trong các nƣớc độc tài khác" [130, 296].

Tuy vậy, những ngƣời cầm đầu chính phủ Mỹ vô cùng hân hoan trƣớc kết quả cuộc

trƣng cầu ý dân, vì với sự loại bỏ Bảo Đại, Pháp mất đi chỗ dựa cuối cùng ở Miền Nam Việt

Nam. Dulles tuyên bố trƣớc Ủy ban đối ngoại của Thƣợng viện Mỹ: "Bảo Đại bị loại trừ, và

điều đó là một cơ hội để thực sự xây dựng một chế độ chống Cộng vững mạnh và hữu hiệu

tại một nơi mà, trong một thời gian dƣờng nhƣ chế độ đó có thể bị quét sạch sau thất bại của

Pháp ở vùng Hà Nội và nhất là ở Điện Biên Phủ, cũng nhƣ do những điều khoản đình chiến

không thuận lợi" [115, 159-160].

Đến đây, "lá bài Bảo Đại" đã đƣợc thay bằng "lá bài Ngô Đình Diệm".

1.1.2. Mỹ loại Pháp ra khỏi Miền Nam Việt Nam.

(*) Một phần tƣ thế kỷ trƣớc năm 1930,một con cờ khác của Mỹ là Rafael Leonidas Trujillo Molina cũng dùng thủ đoạn gian lận tƣơng tự nên "có đƣợc số phiếu nhiều hơn số cử tri đăng ký" và trở thành tổng thống Cộng hoà Dominicana [].

- Mỹ viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm:

161

Từ năm 1950 trở đi, bên cạnh viện trợ của Mỹ cho Pháp, Mỹ còn dành một phần viện

trợ cho chính phủ Bảo Đại. Tuy nhiên Mỹ trao tất cả viện trợ cho Pháp rồi Pháp chuyển lại

một phần cho chính phủ Bảo Đại.

Sau khi nƣớc Pháp không làm tròn nhiệm vụ một "cảnh sát khu vực" cho Mỹ, Mỹ

quyết định thay đổi cách viện trợ.

Ngày 20-8-1954, Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ trong văn kiện số NSC 5429/2

khuyến nghị chính phủ Mỹ "cấp viện trợ trực tiếp cho Việt Nam (tức chính phủ Diệm), không

thông qua Pháp nữa" [97, 15]. Việc thay đổi này nhằm một mặt loại bỏ ảnh hƣởng của Pháp,

mặt khác tăng cƣờng ảnh hƣởng của Mỹ đối với chính phủ Diệm.

Khuyến nghị đó đƣợc chính phủ Mỹ chấp thuận.

Trong thƣ ngày 23-10 gửi Diệm, Eisenhower chính thức thông báo: "Tôi đã chỉ thị

cho đại sứ Mỹ tại Việt Nam cùng ông - với tƣ cách là ngƣời đứng đầu chính phủ - xem xét

một chƣơng trình viện trợ Mỹ cấp trực tiếp cho chính phủ của ông có thể giúp nhƣ thế nào

cho Việt Nam trong giờ phút thử thách hiện nay" [69, 204].

Ngày 29-10, Dulles nói thẳng điều đó cho P. -M. France biết.

Lúc đầu, "Pháp kịch liệt phản đối ý tƣởng Mỹ viện trợ trực tiếp cho [Miền Nam] Việt

Nam", viện cớ Miền Nam Việt Nam còn là một nƣớc hội viên của Liên hiệp Pháp nên "việc

Pháp giám sát viện trợ là thiết yếu" [98, I, 221]. Nhƣng cuối cùng P.M. France đành nhƣợng

bộ, (Pháp nhƣợng bộ Mỹ)

Việc trao viện trợ Mỹ trực tiếp cho Diệm bắt đầu từ tháng 1-1955.

- Mỹ buộc Pháp rút quân khỏi Miền Nam Việt Nam.

Vừa bƣớc ra khỏi chiến tranh Việt Nam với thƣơng tích đầy mình, nƣớc Pháp lại phải

đƣơng đầu với các cuộc khởi nghĩa giành độc lập của các dân tộc Bắc Phi.

162

Ngày 1-11-1954, dƣới sự lãnh đạo của Mặt trận giải phóng dân lộc FNL, nhân dân

Algérie vùng lên chống Pháp. Algérie rộng 2,38 triệu cây số vuông (hơn 4 lần diện tích nƣớc

Pháp), cách nƣớc Pháp không xa lắm, có đến 984.000 ngƣời Pháp định cƣ (năm 1954), là một

thuộc địa có tầm quan trọng lớn đối với nƣớc Pháp. Do đó, "chiến tranh Algérie trở thành vấn

đề ƣu tiên cơ bản của chính phủ [Pháp] và những lãnh vực chính trị khác đều phụ thuộc vào

vấn đề Algérie" [124, 272-273]. Lúc đó, ở Paris, ngƣời ta thƣờng nhắc lại lời khuyên trƣớc

kia của Onésime Reclus: "Hãy bỏ châu Á và giữ châu Phi" [147, 86].

Ngày 17-11, thủ tƣớng Pháp Pierre-Mendès France bay sang Washington. "Phần lớn

chuyến đi thăm của P.-M. France đƣợc dành để bàn đến vấn đề Mỹ viện trợ cho các lực

lƣợng quân Pháp ở Bắc Phi" [25, 62].

Ngày 20-11, Dulles nói với Eisenhower về cuộc hội đàm với P.-M. France: "Ông ta

muốn lôi kéo chúng ta vào tình hình Bắc Phi... Ông ta muốn chúng ta dính líu vào" [80, 453].

Đây là dịp để Mỹ bắt bí Pháp, buộc Pháp phải rút dần quân khỏi Miền Nam Việt

Nam, trao quyền huấn luyện quân đội của Ngô Đình Diệm lại cho Mỹ, nếu muốn đƣợc Mỹ

giúp đỡ ở Bắc Phi. Trong thế bế tắc, P.-M. Prance đành phải nhƣợng bộ.

Tƣớng J. Lawton Collins - ngƣời vừa đƣợc Eisenhower cử sang Sài Gòn làm đặc sứ

kiêm đại diện riêng của tổng thống Mỹ - đến gặp Paul Ély (tổng uỷ kiêm tổng tổng chỉ huy

Pháp ở Đông Dƣơng). Collins - mà Tài liệu Lầu Năm Góc "xem nhƣ ngƣời đến báo trƣớc

(precursor) việc Mỹ tiếp quản hoàn toàn Đông Dƣơng" [98, I, 224] - "trao cho Ély bản dự

thảo hiệp định theo đó Pháp sẽ trao lại cho Mỹ hầu hết trách nhiệm về mặt quân sự còn tồn

tại ở Đông Dƣơng. Mặc dù Ély đã biết Mỹ có ý đồ tiến hành những hoạt động nhƣ

163

vậy, song ông ta vẫn bị choáng váng trƣớc tốc độ mà Washington đề ra nhằm thanh toán sự

có mặt về quân sự của Pháp" [25, 62].

Dù muốn hay không, Ély cũng phải ký với Collins biên bản thỏa thuận (13-11) theo

đó Mỹ sẽ đảm nhiệm việc huấn luyện cho quân đội của Diệm kể từ đầu năm 1955 [98,I, 224].

Mặt khác, để đẩy nhanh việc rút quân Pháp khỏi Việt Nam, Mỹ chỉ viện trợ cho Pháp

100 triệu đô-la trong năm 1955, tức là cắt giảm hơn 2/3 số tiền Pháp đề nghị là 330 triệu đô-

la [98, I, 217,224].

Vì vậy, dù muốn hay không, Pháp phải tập trung quân vào một số khu vực để lần lƣợt

xuống tàu về nƣớc hay sang tham chiến ở Bắc Phi.

1.2. Mỹ biến Miền Nam Việt Nam thành một khu vực ảnh hưởng của Mỹ:

Song song với việc loại Pháp ra khỏi Miền Nam Việt Nam, Mỹ củng cố ảnh hƣởng

của mình tại đây.

1.2.1. Mỹ xây dựng chính quyền và quân đội thân Mỹ ở Miền Nam Việt Nam:

Ngày 20-8-1954, chỉ 1 tháng sau Hiệp định Genève, Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ ra

văn kiện NSC 5429/2 đề ra những việc cần làm lại Miền Nam Việt Nam trong thời gian trƣớc

mắt, trong đó có hai việc:

- thành lập "một chính quyền bản xứ hùng mạnh"

- "xây dựng một lực lƣợng quân sự bản xứ có khả năng bảo đảm an ninh trong nƣớc"

[].

"Sống lƣu vong 4 năm tại Mỹ và châu Âu, Diệm ít đƣợc nhân dân Việt Nam biết tới"

[99 II 13]. Hơn thế nữa, theo tạp chí Eastern World (xuất bản ở Anh) "một nửa dân số [Miền

Nam Việt Nam] chống lại Diệm" []. Một tờ báo

164

khác của phƣơng Tây, tờ Paris-Presse của Pháp, nhận xét tƣơng tự: "Đại đa số dân chúng

[Miền Nam] chống Diệm, nhất là nông dân" []. Do đó, tuy đƣợc Mỹ đặt lên ghế thủ tƣớng

Quốc gia Việt Nam, theo lời của William Colby (sau này là ngƣời chỉ huy cơ quan CIA ở

Miền Nam Việt Nam), "ông ta chỉ kiểm soát không hơn cái dinh của ông ta" [91, 70]. Một

tác giả khác cũng đồng ý với nhận định đó của Colby: "Quyền lực của ông ta năm 1954 chỉ

trải rộng trên không quá một tá khối nhà ở trung tâm Sài Gòn" [51, 29]. Trong thƣ ngày 18-8-

1954 gửi Bộ trƣởng quốc phòng Charles Wilson, Dulles thừa nhận: chính phủ của Diệm "còn

lâu mới mạnh hay ổn định", vì vậy cần phải: "một là củng cố chính phủ ấy bằng những

phƣơng tiện thuộc tính chất chính trị và kinh tế; hai là ủng hộ chính phủ ấy bằng cách củng

cố quân đội chống đỡ chính phủ ấy". [98, I,216]

Vì vậy, Mỹ phải bỏ nhiều công sức và tiền của để giúp đỡ Diệm, vì - nhƣ Tài liệu Lầu

Năm Góc nhận xét - "không có sự giúp đỡ của Mỹ, hầu nhƣ chắc chắn là Diệm không thể

củng cố đƣợc chỗ đứng của mình ở Miền Nam trong thời gian [955-1956" [].

Trƣớc khi Diệm về tới Sài Gòn, chính phủ Mỹ cử đại tá tình báo Edward G. Lansdale

- ngƣời từng giúp Ramon Magsaysay ở Philippines - sang Miền Nam Việt Nam, lập ra một tổ

chức bí mật mang tên "Phái bộ quân sự Sài Gòn" (SMM). Khi Lansdale sắp lên đƣờng,

Dulles đã tóm tắt nhiệm vụ của viên sĩ quan tình báo này ở Miền Nam Việt Nam là "Làm

những gì mà anh đã làm ở Philippines" [28, 181]. Lansdale đƣợc chính phủ Mỹ trao cho

quyền hạn rộng rãi: "Ông sẽ hợp tác nhƣng độc lập với vị đại sứ Hoa Kỳ và vị tƣớng đang

phụ trách Cơ quan viện trợ quân sự của Mỹ cho Nam Việt Nam. Ông sẽ báo cáo trực tiếp về

Washington, thông qua các kênh liên lạc của CIA" [28, 181].

165

Lansdale trở thành quân sƣ chính của Diệm, hầu nhƣ ngày nào cũng vào Dinh Độc Lập để

bày mƣu tính kế với Diệm [91, 70].

Tháng 11-1954, đích thân Eisenhower cử thêm tƣớng J. Lawton Collins, nguyên tham

mƣu trƣởng Lục quân Mỹ, sang làm đại sứ đặc biệt của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam kiêm đại

diện riêng của tổng thống Mỹ bên cạnh Diệm. Nhiệm vụ của Collins đƣợc chính Eisenhower

ấn định nhƣ sau: "phối hợp và điều khiển một chƣơng trình ủng hộ chính phủ [của Diệm]

nhằm làm cho chính phủ ấy có thể:

(a) đẩy mạnh an ninh trong nƣớc, ổn định chính trị và kinh tế;

(b) xác lập và duy trì sự kiểm soát trên toàn lãnh thổ;

(c) hữu hiệu chống lại sự thâm nhập và các hoạt động nửa quân sự của Việt Minh ở

phía nam của giới tuyến" [98, I, 224].

Báo New York Herald Tribure bình luận: "Việc gửi tƣớng Collins là chỉ dẫn rõ ràng

nhất về tầm quan trọng mà Washington gắn cho xứ này và về nỗi lo lắng mà xứ này gây ra.

Viên cựu tham mƣu trƣởng [Lục quân] Mỹ có nhiệm vụ phối hợp mọi hoạt động của tất cả

các tổ chức của Mỹ ở Việt Nam, điều đó cho thấy trách nhiệm [của Collins] là đặc biệt quan

trọng" [].

Chính phủ Mỹ còn gửi sang Sài Gòn "một đoàn gồm khoảng 20 giáo sƣ [của Trƣờng

Đại học bang Michigan] làm đủ mọi chuyện, từ soạn thảo các ngân sách [cho Diệm] cho đến

huấn luyện cảnh sát bí mật của ông ta" []. Có thể kể:

- Tiến sĩ Wesley Fishel lo xây dựng bộ máy chính quyền, đào tạo đội ngũ công chức

mới.

- Tiến sĩ J.A.C. Grant và luật gia Juan C. Orendain, lo việc soạn thảo bản hiến pháp

(ban hành ngày 26-10-1956).

- Tiến sĩ Milton C. Taylor lo việc cải tổ hệ thống thuế má.

166

H.47-48. Vây quanh Ngô Đình Diệm là các viên chức, tướng tá và cố vấn Mỹ (trong đó có tướng John

O'Daniel, đại sứ Fretlerick Keinhard và đại tá Edward Lansdale).

- Tiến sĩ Robert G. Scigliano.

- Chuyên gia Wolf Ladejinski lo vạch ra kế hoạch cải cách điền địa.

- Cựu đại tá Art Brandstatter lo việc huấn luyện bộ máy cảnh sát và mật vụ

v.v...

Một số cố vấn Mỹ - nhƣ W. Fishel, W. Ladejinski... ăn ở ngay trong Dinh Độc Lập,

bên cạnh nơi ở và làm việc của Diệm, để tiện cho việc tham mƣu cho Diệm. Lansdale ở ngoài

dinh, nhƣng "khi tình hình căng thẳng gia tăng, hầu nhƣ đêm nào, chúng tôi cũng gặp [Diệm],

mỗi buổi làm việc của chúng tôi với ông ta kéo dài nhiều tiếng đồng hồ" [97, 20].

Trong thƣ ngày 18-8-1954 gửi bộ trƣởng Quốc phòng Charles Wilson, Dulles nói:

Chính phủ Diệm "còn lâu mới mạnh hay ổn định". Do đó tổ chức lại và huấn luyện lại quân

đội của Diệm là "một trong những biện pháp hữu hiệu nhất làm cho chính phủ Việt Nam có

thể trở nên mạnh" [98, I, 216].

Ngày 8-11-1954, Eisenhower cử sang Miền Nam Việt Nam tƣớng J. Lawton Collins.

Một trong những nhiệm vụ chính của viên tƣớng này là, theo lời tuyên bố ngày 17-11 của ông

ta, giành lại từ tay Pháp quyền "huấn luyện Quân đội Việt Nam theo đúng những phƣơng

pháp đặc biệt của Mỹ, những phƣơng pháp này đã tỏ ra hữu hiệu tại Nam Triều Tiên, Hy Lạp,

Thổ Nhĩ Kỳ và ở nhiều nơi khác trên thế giới" [41, 231].

Cuối năm 1954, Hội đồng tham mƣu trƣởng Liên quân Mỹ lên kế hoạch xây dựng lại

quân đội của Diệm. Theo dự kiến của Hội đồng này, quân đội của Diệm gồm 234.000

ngƣời(*), gồm đủ ba quân chủng: Hải, Lục, Không quân. Hội đồng cũng đề nghị chính phủ

(*) Quân đội của Diệm vào cuối năm 1954 là 216.997 ngƣời, gồm 179.197 quân chính quy và 37.000 quân phụ lực [7, 212].

Mỹ chi 420 triệu đô-la để huấn luyện

167

H.44. Tướng J. Lawton Collins được cử sang Sài Gòn làm đặc sứ để đẩy nhanh việc loại Pháp ra khỏi

Miền Nam Việt Nam

H. 45. Collins thảo luận với Ngô Đình Diệm về việc thay thế ảnh hưởng của Pháp bằng ảnh hưởng

của Mỹ ở miền Nam Việt Nam

và duy trì đạo quân này, chƣa kể số tiền 23,5 triệu đô-la để huấn luyện và trang bị cho Hải

quân và Không quân của Diệm vốn còn rất yếu so với Lục quân [98, I, 216]. Tuy nhiên

Dulles cho quân số nhƣ thế là quá đông, vì theo ông ta, "nhiệm vụ của Quân đội quốc gia

Việt Nam là bảo đảm an ninh nội bộ" [98, I, 217], còn việc chống xâm lăng từ bên ngoài đến

sẽ do quân quân Mỹ và quân của khối SEATO đảm trách. Cuối cùng, trong các ngày 19 và

20-1-1955, chính phủ Mỹ quyết định giảm quân số của Diệm xuống còn 100.000 ngƣời vào

tháng 12-1955 và dành cho đạo quân này số tiền viện trợ 214,5 triệu đô-la [98, I, 225]. Hội

đồng tham mƣu trƣởng Liên quân Mỹ dƣờng nhƣ không hài lòng với quyết định ấy, ngày 11-

5 nhận định: "Quân đội quốc gia Việt Nam đƣợc xem là không có khả năng duy trì an ninh

nội bộ, lại càng kém khả năng hơn trong việc chống lại xâm lăng từ bên ngoài tới nếu không

có sự giúp đỡ quân sự từ ngoài (...). Quân đội quốc gia Việt Nam sẽ tan rã nếu không có sự

yểm trợ về tinh thần và về vật chất" [].

Ngày 13-12-1954, Collins ký với Paul Ely biên bản thỏa thuận theo đó từ đầu năm

1955, việc huân luyện quân đội của Diệm sẽ do Phái bộ cố vấn quân sự Mỹ (MAAG) đảm

trách, dƣới sự "giám sát tổng quát" (general supervision) của đại tƣớng Paul Ely (Pháp),

nhƣng trong thực tế do tƣớng O'Daniel (chỉ huy MAAG) toàn quyền chỉ đạo.

Ngày 20-1-1955, Phái đoàn liên lạc về huấn luyện và đào tạo TRIM(*) đƣợc thành

lập để "huấn luyện và tổ chức lại quân đội của Diệm theo đƣờng lối của Mỹ" [98, I,

206]. Sách Quân sử (tức Lịch sử Quân đội của Diệm) viết: "Phái bộ này ra đời do sự thỏa

thuận của Mỹ - Pháp, thực ra do Mỹ [chỉ huy], nhƣng [vì] còn sự hiện diện của Pháp nên có

(*) TRIM là viết tắt của "Training Relations and Inslruction Mission", nhƣng ngƣời Pháp gọi Phái bộ này là "Mission de liaison pour 1'entraînetment et 1'instruction des Forces armées du Vietnam".

Pháp [tham dự] (...) Ở cấp trung

168

H. 46. Từ đầu năm 1955, cố vấn Mỹ bắt đầu huấn luyện sĩ quancho Ngô Đình Diệm

ƣơng có một Bộ tham mƣu hỗn hợp [Mỹ - Pháp]; ở các cấp địa phƣơng và đơn vị có các toán

cố vấn TRIM toàn là ngƣời Mỹ" []. Ban đầu, Mỹ sử dụng một số sĩ quan Pháp làm nhiệm vụ

huấn luyện viên quân sự, nhƣng dần dần số huấn luyện viên Pháp ngày càng thu hẹp. Thay

vào đó, các cố vấn của MAAG đảm nhiệm mọi việc, từ tổ chức, huấn luyện, cố vấn đến trang

bị, trả lƣơng cho quân đội của Diệm.

TRIM bắt đầu hoạt động từ 12-2-1955 [98, I, 25]. Khi quân viễn chinh Pháp rút khỏi

Miền Nam Việt Nam, TRIM bị thay thế bằng Tổ chức huấn luyện chiến dấu CATO(*) gồm

toàn cố vấn Mỹ.

Theo sách Quân sử, "Ngày 1-6-1955, việc huấn luyện theo lối Mỹ trong quân đội

đƣợc bắt đầu (...) Ngày 29-9-1955, các sĩ quan Việt đầu tiên du học Hoa Kỳ đƣợc gửi tới

Trƣờng Fort Benning theo học các lớp cơ giới, xa vận bộ binh và hoàn bị sĩ quan. Ngoài ra

cũng trong năm này, một số sĩ quan khác đƣợc gửi đi Philippines theo học các khóa về điện

ảnh, tin tức, y tế, công binh và quân nhu, và tới Hawaii để quan sát các tổ chức quân sự của

Mỹ" [7, 213|.

Từ 1954 trở về trƣớc, quân đội Quốc gia Việt Nam chỉ có cấp tiểu đoàn (gọi là BVN)

trở xuống. Nay những đơn vị từ Mỹ muốn quân đội của Diệm phải có những sƣ đoàn theo mô

hình của Mỹ. Ngày 22-3-1955, O'Daniel nói: "Điều cần phải làm bây giờ và cũng là điều khó

khăn nhất, đó là lập những đơn vị lớn từ những đơn vị cấp tiểu đoàn. Nhiều đơn vị này đã tác

chiến tốt với tƣ cách là tiểu đoàn riêng rẻ. Thế nhƣng nay phải xây dựng những đơn vị mẫu,

nghĩa là sƣ đoàn, vì chỉ có sƣ đoàn mới đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của chiến lƣợc hiện đại,

(*) CATO là viết tắt của Combal Arms Training Organization. 169

dù cho chiến đấu tập trung hay chiến đấu bằng những tiểu đoàn phân tán" [l61].

Theo kế hoạch giảm quân số của Mỹ, trong bốn tháng (từ tháng 3 đến tháng 6-1955),

58.445 quân giải ngũ. Vào giữa năm 1955, Diệm phải đối phó với sự chống đối từ nhiều phía

(Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo ...) nên việc giải ngũ phải ngƣng. Quân số của Diệm vào

ngày 1-7-1955 là 155.677 ngƣời [7, 213], gồm:

- 10 sƣ đoàn và 19 trung đoàn bộ binh

- 1 liên đoàn dù

- 4 trung đoàn thiết giáp

- 11 tiểu đoàn pháo binh

cùng một số đơn vị Không quân và Hải quân đang xây dựng. Ngoài lực lƣợng chính quy nói

trên, Mỹ còn giúp xây dựng Bảo an đoàn (8-4-1955) và Dân vệ đoàn (28-8-1955) thành lực

lƣợng lĩnh thổ để từng bƣớc đƣa quân chủ lực làm nhiệm vụ cơ động [37, 674].

Quân đội của Diệm đƣợc cải tổ toàn diện, từ hình thức đến nội dung, theo kiểu mẫu

của Mỹ. Các vết tích của một thời chịu ảnh hƣởng Pháp bị xoá bỏ triệt để. Ngày 26-10-1955,

tên gọi "Quân đội quốc gia Việt Nam" cũng bị đổi thành "Quân đội Việt Nam cộng hoà".

Năm 1955, Mỹ viện trợ cho Diệm 337 triệu đô-la []; năm sau, số tiền đó tăng lên 542

triệu đô-la [], tức là tăng hơn 160%. "Mục tiêu chính của viện trợ này là củng cố uy quyền

của Diệm bằng cách cung cấp cho ông ta lực lƣợng vũ trang đƣợc trang bị tốt và những đơn

vị cơ động của cảnh sát quân sự" [].

Tài liệu của Lầu Năm Góc kết luận: "Không có viện trợ của Mỹ trong những năm sau

đó, chắc chắn là chế độ Diệm (...) không thể sống sót đƣợc (...). Về cơ bản, [chế độ] Miền

Nam Việt Nam là một sản phẩm do Mỹ tạo ra" [98, 25].

170

1.2.2. Mỹ gia tăng số quân nhân Mỹ và đổ vũ khí vào Miền Nam Việt Nam.

Lúc Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam đƣợc ký, ở Việt Nam có 342 quân nhân Mỹ

thuộc Phái bộ cố vấn viện trợ quân sự MAAG.

Điều 16 của Hiệp định Genève "cấm tăng thêm vào Việt Nam mọi bộ đội và nhân

viên quân sự". Giác thƣ ngày 22-9-1954 của Hội đồng tham mƣu trƣởng Liên quân Mỹ gọi

Hiệp định Genève là "một trở ngại lớn cho việc đƣa [vào Miền Nam Việt Nam] đủ số nhân

viên của MAAG và vũ khí cùng trang bị bổ sung" [98, I, 216].

Ngay sau khi Hiệp định đƣợc ký, O'Daniel - chỉ huy MAAG - đề nghị tăng nhanh số

cố vấn quân sự của MAAG trƣớc ngày 11-8-1954, nhƣng đề nghị này không đƣợc thực hiện,

vì ngày 11-8-1954 là ngày lệnh ngƣng bắn có hiệu lực ở Nam Bộ, trong khi điều l6 cũng nhƣ

các điều khoản khác của Hiệp định đã có hiệu lực từ 24 giờ ngày 22-7-1954 (giờ Genève).

Cơ hội để Mỹ tăng gấp đôi số quân nhân Mỹ ở Miền Nam Việt Nam là vào tháng 6-

1956, lúc quân Pháp rút hết khỏi nơi đó. Viện cớ "giúp Việt Nam thu hồi và phân phối lại

những trang bị do Pháp bỏ lại" [], Mỹ gửi tới Sài Gòn khoảng "400 sĩ quan, trong đó có 80 sĩ

quan cao cấp" [192] núp dƣới danh nghĩa "Phái đoàn tạm thời thu hồi trang bị" (Temporary

Equipment Recovery Mission, viết tắt TERM). Thực ra, phái đoàn này không chỉ nhƣ tên gọi,

mà -nhƣ Tài liệu Lầu Năm Góc thừa nhận - sẽ "đóng lại [Miền Nam Việt Nam] nhƣ một bộ

phận vĩnh viễn của MAAG để giúp vào công tác tình báo và hành chính" []. Tài liệu Lầu

Năm Góc gọi hành động trên của Mỹ chỉ là "một thủ đoạn đƣợc ngụy trang để tăng thêm số

ngƣời Mỹ ở [Miền Nam] Việt Nam" mà thôi [97, 23].

171

Sau một chuyến qua Miền Nam Việt Nam, nghị sĩ ngƣời Anh William Warbey cho

biết: "khoảng 2000 sĩ quan Quân đội Mỹ hiện đang có mặt ở Miền Nam Việt Nam dƣới cái

lốt của nửa tá tổ chức khác nhau nhƣ MAAG, TRIM, CATO, TERM..." [192].

Bất chấp điều 17 Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam "cấm tăng viện vào Việt Nam

mọi thứ vũ khí, đạn dƣợc và những dụng cụ chiến tranh khác", Mỹ vẫn bí mật trang bị cho

quân đội Diệm những vũ khí và chiến cụ mới. Chẳng hạn, ngày 23-9-1956, tàu "President

Pierce" của Mỹ chở 5.000 tấn vũ khí đã cập bến Sài Gòn [135, 40].

2. Mỹ núp dưới bóng SEATO để can thiệp quân sự trực tiếp vào Việt Nam

2.1. Mỹ âm mưu quốc tế hóa sự can thiệp quân sự vào Việt Nam

Trƣớc nguy cơ Pháp thua ngày càng đến gần, chính phủ Eisenhower rất muốn đƣa

quân Mỹ sang để ngăn chặn việc Việt Nam "rơi vào tay Cộng sản".

Tuy nhiên họ sợ bị dƣ luận thế giới lên án là đế quốc, thực dân nên chỉ can thiệp một

mình. Eisenhower nói với đại sứ Pháp Henri Bonnel ngày 24-4-1954 tại bang Kentucky, "nếu

bây giờ tung ra một hành động quân sự, Mỹ sẽ có vẻ nhƣ là những tên đế quốc. Để vào cuộc,

sự can thiệp của Mỹ phải nằm trong một công cuộc tập thể" []. Vào cuối tháng 4 năm đó,

trong thƣ gửi tƣớng Alfred M. Gruenther, tƣ lệnh Các lực lƣợng vũ trang khối NATO,

Eisenhower cũng viết: "không một cƣờng quốc phƣơng Tây nào có thể can thiệp quân sự vào

châu Á, trừ phi với tƣ cách là một thành viên của một sự phối hợp giữa các cƣờng quốc. Sự

phối hợp đó phải bao gồm các dân tộc bản xứ ở châu Á. Dự tính một điều gì khác là chúng ta

tự để cho mình có thể bị buộc tội là đế quốc hay thực dân, hay chí ít là gia trƣởng, có thể bị

phản đối" []. Do đó, khi nói chuyện với Dulles và tƣớng Robert Cutler (trợ lý đặc biệt của

tổng thống

172

Mỹ), Eisenhower đi đến quyết định: "Mỹ sẽ không bao giờ can thiệp một mình... Phải có một

loại hành động tập thể và mang tính khu vực" [97, 42].

Mỹ từng có kinh nghiệm trong việc quốc tế hóa sự can thiệp quân sự của Mỹ vào

Triều Tiên trong mấy năm đầu thập niên 50. Hồi đó, Mỹ đã lôi kéo đƣợc 15 nƣớc đồng minh

của Mỹ(*) gửi quân - dù với số lƣợng tƣợng trƣng - sang Triều Tiên tham chiến bên cạnh quân

Mỹ dƣới lá cờ của Liên Hiệp Quốc.

Do đó, lần này, Mỹ cũng muốn quốc tế hóa sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam để "có

thể chứng tỏ rằng hành động ở Việt Nam không phải chỉ là công việc của Mỹ mà còn đƣợc sự

ủng hộ của các nƣớc có liên quan khác" [1, 47].

Mỹ gọi đó là thuyết an ninh tập thể (theory of collective security). Ngày 19-5,

Eisenhower giải thích: "Chính nhờ một hệ thống an ninh tập thể mới có thể thiết lập những

nền tảng chính trị cần thiết để chống lại sự xâm lăng của Cộng sản" [137, 180].

2.2. Con đường đi đến SEATO:

Tháng 4-1953, tức bốn tháng sau khi bƣớc vào Nhà Trắng, Eisenhower lôi kéo đƣợc

bốn nƣớc - gồm hai nƣớc thành viên của NATO (Anh và Pháp) và hai nƣớc thành viên của

ANZUS (Australia và New Zealand) - đến cảng Trân Châu (Pearl Harbor) trên quần đảo

Hawaii để lập ra "Cơ quan tham mƣu của năm cƣờng quốc" (Five Power Staff Agency) với

mục đích "đảm bảo việc tiếp xúc thƣờng xuyên giữa các thủ đô có liên quan cũng nhƣ phối

hợp các nỗ lực quân sự ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dƣơng" [13, 61]. Trụ sở của Cơ

(*) Gồm 6 nƣớc châu Âu (Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Hy Lạp), 3 nƣớc châu Á (Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Philippines), 2 nƣớc châu Mỹ (Canada, Colombia), 2 nƣớc châu Phi (Ethiopia, Nam Phi) và 2 nƣớc châu Đại Dƣơng (Australia, New Zealand)

quan này đặt tại Singapore, thuộc địa của Anh. Cơ quan này đã nhiều lần hội

173

họp, khi thì tại cảng Trân Châu (15 đến 30-6-1953, 21-9 đến 2-10-1953), khi thì tại Singapore

(2-1954) v.v...

Nhƣng vào cuối tháng 3 -đầu tháng 4-1954, khi Điện Biên Phủ bị bộ đội Việt Nam

bao vây và có nguy cơ thất thủ, thì 5 "cƣờng quốc" nói trên lại không nhất trí với nhau:

Ngày 4-4-1954, Eisenhower viết thƣ đề nghị thủ tƣớng Anh Winston Churchill "thành

lập một nhóm hay liên minh mới, đặc biệt, bao gồm những quốc gia có mối quan tâm sống

còn đến việc ngăn chặn sự bành trƣớng của Cộng sản trong khu vực [Đông Nam Á] (...) Điều

quan trọng là liên minh đó phải mạnh và nó phải sẵn sàng tham gia vào cuộc chiến đấu khi

cần" [64, tr.419,420].

Nhƣng Anh quyết định "sẽ không làm gì cả cho đến sau Hội nghị Genève" [171, 33].

Australia và New Zealand ban đầu nghe lời Mỹ, nhƣng sau khi thấy Anh không tán thành chủ

trƣơng của Mỹ, hai nƣớc châu Đại Dƣơng này noi theo lập trƣờng của London (vì Australia

và New Zealand đều là thành viên của khối Liên hiệp Anh, xem nữ hoàng Anh Elizabeth II là

quốc trƣởng của nƣớc mình).

Ngay cả chính phủ Pháp, tuy đề nghị Mỹ can thiệp quân sự vào Việt Nam để cứu vãn

tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nhƣng không muốn "quốc tế hóa" chiến tranh Đông Dƣơng.

Nhƣ lời thuật của tƣớng Roberl Cutler ngày 7-5-1954, "trong một thời gian dài, [Mỹ] đã cố

gắng làm cho Pháp "quốc tế hóa" vấn đề [chiến tranh Đông Dƣơng] nhƣng Pháp không sẵn

sàng làm nhƣ vậy" [97, 42]. Theo lời Dulles giải thích với các lãnh tụ Quốc hội Mỹ ngày 5-5,

"một số ngƣời Pháp nghĩ rằng quốc tế hóa [chiến tranh Đông Dƣơng] chẳng

174

qua chỉ là một âm mƣu [của Mỹ] nhằm [làm cho] Pháp mất ảnh hƣởng" ở Đông Dƣơng [127,

l61], nói một cách khác, Pháp sẽ mất đi vai trò độc quyền điều khiển cuộc chiến tranh để

phục vụ lợi ích của mình mà sẽ lệ thuộc ngày càng sâu vào Mỹ và cuối cùng trở thành một

thứ "lính đánh thuê" phục vụ chính sách ngăn chặn Cộng sản của Mỹ không hơn không kém.

Do đó, nhƣ nhận xét của Eisenhower, "một số cố vấn của tôi cảm thấy rằng Pháp hiện nay đi

tới chỗ họ chẳng thà bỏ Đông Dƣơng hoặc mất Đông Dƣơng nhƣ hậu quả của một thất bại

quân sự, còn hơn là cứu Đông Dƣơng bằng một cuộc can thiệp quốc tế" [].

Thất bại trong việc vận động các nƣớc đồng minh của Mỹ tham gia một "hành động

thống nhất" (united action) để cứu Điện Biên Phủ khỏi sụp đổ, cuối tháng 6-1954 Mỹ đề nghị

thành lập một "mặt trận thống nhất" (united front) để che đậy bàn tay can thiệp của Mỹ vào

Việt Nam và các nƣớc khác vùng Đông Nam Á.

Sau cuộc gặp cấp cao Mỹ - Anh tại Washington từ 25 đến 29-6, thái độ của Churchill

có phần mềm mỏng hơn. Nếu đầu tháng 4 Anh thẳng thừng bác bỏ đề nghị "hành động thống

nhất" của Mỹ thì ba tháng sau Anh đồng ý cử ngƣời cùng Mỹ chuẩn bị cho việc thành lập

một "mặt trận thống nhất", song với điều kiện: mặt trận ấy chỉ ra đời sau khi Hội nghị Genève

kết thúc - dù thành công hay thất bại. Ngày 12-7, trƣớc Hạ viện Anh, Churchill giải thích:

"Anh sẽ tiếp tục công việc chuẩn bị cho sự phòng thủ tập thể ở Đông Nam Á, dù cho một

hiệp định có đạt đƣợc ở Genève hay không; bản chất của sự chuẩn bị này sẽ tùy thuộc vào kết

quả của Hội nghị. Khái niệm về một hệ thống phòng thủ tập thể không xung khắc với việc

giải quyết mà chúng ta mong đợi ở Genève" [168].

175

Trong khi đó, ở Pháp, sau khi chính phủ hiếu chiến Laniel - Bidault sụp đổ, thủ tƣớng

mới Pierre-Mendès France quyết tâm đạt cho kỳ đƣợc một cuộc ngƣng bắn ở Đông Dƣơng

trƣớc ngày 20-7. Trong hai ngày 12 và 13-7, ngoại trƣởng ba nƣớc Mỹ, Pháp, Anh họp tại

Paris. Theo lời thuật lại của một viên chức Bộ ngoại giao Pháp, "Dulles khăng khăng đòi

thành lập ngay tổ chức SEATO và can thiệp ngay vào Đông Dƣơng. Mendès France trả lời

không tán thành. Dulles đập bàn. Mendès France cũng đập bàn. Eden kiên quyết ủng hộ

Mendès France. Dulles bỏ đi một cách giận dữ" [4, 625].

Ngày 20-7, Hiệp định Genève đƣợc ký kết, chấm dứt chiến, tranh trên ba nƣớc Đông

Dƣơng. Nhƣng "đối với chính quyền Eisenhower, Hiệp định Genève (...) thƣờng đƣợc xem

nhƣ là tai hại một cách tiềm tàng" [81, tr.58-59]. Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ xem Hiệp

định Genève là "một thảm họa" vì nó không chỉ "đã hoàn thành một bƣớc tiến quan trọng của

Cộng sản" mà còn "có thể dẫn tới việc mất cả Đông Nam Á" [97, 14]. Vì vậy, trong cuộc họp

báo ngày 21-7, khi các chữ ký trên các văn kiện của Hội nghị Genève chƣa ráo mực,

Eisenhower thông báo: "Mỹ sẽ tích cực tiếp tục thảo luận với các nƣớc tự do khác nhằm

thành lập một tổ chức phòng vệ tập thể ở Đông Nam Á để ngăn ngừa Cộng sản xâm lăng

thêm nữa" [].

Hai ngày sau, 23-7, Dulles lặp lại ý đó trong một cuộc họp báo khác: "Trong hơn một

năm trời, Mỹ chủ trƣơng phải có hành động thống nhất trong khu vực [Đông Nam Á], nhƣng

trong những điều kiện trƣớc đây, điều đó tỏ ra không thực tế. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng

hiện nay sẽ là thực tế để tiến hành dàn xếp chung nhằm tăng cƣờng an ninh của các dân tộc tự

do ở Đông Nam Á. Cần bƣớc những bƣớc nhanh chóng theo hƣớng đó". Dulles kêu gọi:

"Nếu ngày nay, các dân tộc tự do có quyền lợi trong khu vực này cộng tác với nhau để lợi

dụng những cơ hội hiện tại dƣới ánh sáng của kinh nghiệm quá

176

khứ thì lúc đó cái mất hiện nay sẽ dẫn tới cái đƣợc trong tƣơng lai" [181, 163-164].

2.3. SEATO và Việt Nam.

Mỹ không muốn làm sống lại "Cơ quan tham mƣu của năm cƣờng quốc" vì hai lý do.

Trƣớc hết, Mỹ muốn thành lập một "tổ chức liên minh phòng thủ" nhƣ tổ chức NATO

ra đời 5 năm trƣớc đó, chứ không phải chỉ là một "cơ quan tham mƣu" đơn thuần.

Hơn nữa, theo Eisenhower, "Cơ quan tham mƣu của năm cƣờng quốc" là "một tổ

chức của ngƣời da trắng, lại đi định đoạt các vấn đề của các nƣớc Đông Nam Á" [97, 41], do

đó, Eisenhower muốn có "một liên minh chính trị rộng rãi, bao gồm cả những nƣớc Đông

Nam Á đang cần đƣợc bảo vệ" [].

Mỹ tìm cách lôi kéo càng nhiều nƣớc da vàng càng tốt gia nhập vào liên minh phòng

thủ này để tổ chức này ít nhiều mang màu sắc địa phƣơng. Tuy nhiên, nhiều nƣớc quan trọng

ở châu Á nhƣ Ấn Độ, Ceylon, Miến Điện, Indonesia cự tuyệt lời mời của Mỹ. Mỹ chỉ lôi kéo

đƣợc ba nƣớc da vàng Thái Lan, Philippines và Pakistan - là những nƣớc đã ký hiệp ƣớc quân

sự với Mỹ lần lƣợt vào các ngày 17-10-1950, 31-8-1951 và 19-5-1954 - cùng năm nƣớc của

Cơ quan tham mƣu đến Manila (thủ đô Philippines) ngày 8-9-1954 ký Hiệp ƣớc phòng thủ

tập thể Đông Nam Á (Southeast Asian Collective Defense Treaty)(*), lập ra tổ chức

SEATO.

Mặc dù điều 19 Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam cấm hai miền Nam Bắc Việt

Nam "gia nhập liên minh quân sự", mặc dù Cam-bốt, Lào và Miền

(*) Thƣờng gọi lắt là Hiệp ƣớc Manila (Manila Pact).

177

H. 49. Tháng 9-1954, Dulles (bìa phải) cùng đại diện 7 chính phủ đồng minh của Mỹ đến Manila

(Philippines) thành lập SEATO

Nam Việt Nam không ký vào Hiệp ƣớc Manila và không phải là thành viên của tổ chức

SEATO, song dƣới sức ép của Mỹ, đoạn 3 điều IV của Hiệp ƣớc Manila và bản Nghị định

thƣ đính kèm Hiệp ƣớc này đã mở rộng các điều khoản của Hiệp ƣớc đến Cam-bốt, Lào, và

"lãnh thổ tự do dƣới quyền của "Quốc gia Việt Nam" (the free territory under the jurisdiction

of the State of Vietnam) và nhƣ thế, tự ý "đặt 3 xứ này dƣới cái ô bảo hộ (umbrella of

protection)" của SEATO [80, 71].

Sự ra đời của SEATO là một trong những bƣớc đầu tiên của Mỹ nhằm xóa bỏ Hiệp

định Genève. "Trong con mắt của Dulles, Hiệp định [Genève] hồi tháng 7 không đƣợc kể tới

nữa; hiệp ƣớc Manila ngày 8-9 lập ra SEATO đáp ứng đƣợc mọi điều" của Mỹ [136, 357].

Việc Mỹ đặt Miền Nam Việt Nam dƣới cái ô bảo hộ của SEATO bị các tác giả cuốn

"The United States in Vietnam" lên án là "đã vi phạm một cách rõ ràng tinh thần của Hiệp

định [Genève]" vì Mỹ tự ý "ban quy chế quốc gia cho một lãnh thổ mà trong thực tế không là

gì khác hơn một trong hai vùng tập kết tạm thời; do đó họ đã phớt lờ điều khoản quy định

rằng đất nƣớc [Việt Nam] sẽ phải đƣợc thống nhất trong thời gian hai năm" [].

Núp dƣới bóng SEATO, Mỹ tự cho mình cái quyền can thiệp quân sự trực tiếp vào

Việt Nam, xóa bỏ Hiệp định Genève và nhen lại ngọn lửa chiến tranh ở đó. Dulles không dấu

diếm ý đồ đó khi thừa nhận: "Mục đích chính của SEATO là nhằm cung cấp cho tổng thống

của chúng ta quyền hợp pháp để can thiệp vào Đông Dƣơng"(*) [43, 220], hợp pháp ở cả

trong nƣớc Mỹ lẫn trên trƣờng quốc tế. Khi Hiệp ƣớc Manila đƣợc Quốc hội Mỹ phê chuẩn

ngày 19-2-1955, chính phủ Eisenhower muốn ngƣời dân Mỹ tin rằng "Quốc hội đã cho phép

(*) Các từ chính và hợp pháp in nghiêng trong nguyên văn

[Chính phủ] can thiệp quân sự trực tiếp" vào Đông Dƣơng và muốn

178

dƣ luận thế giới nghĩ rằng "sự dính líu quân sự của Mỹ ở Đông Dƣơng đƣợc quốc tế đồng ý"

[80, 72]. Luật gia Mỹ Joseph Amter gọi "SEATO là một sự giả mạo và lừa dối để làm ra vẻ là

Mỹ có sự ủng hộ quốc tế trong hành động của họ ở Việt Nam" [1,47].

3. Mỹ phá hoại Hiệp định Genève, nhen lại ngọn lửa chiến tranh ở Việt

Nam.

Trong bối cảnh quốc tế phức tạp lúc đó, Hiệp định Genève không phản ánh đầy đủ

những thắng lợi của quân và dân Việt Nam trên chiến trƣờng. Nhà sử học Mỹ Bernard B. Fall

nhận xét: "Việt Minh chấp nhận một cuộc ngƣng bắn với những điều kiện rất ít có lợi so với

những điều kiện lẽ ra họ có thể có nhờ những chiến thắng của họ (...) Những điều mà cuối

cùng Mendès Prance đạt đƣợc (...) có thể xem là một thắng lợi ngoại giao trong hoàn cảnh

nhƣ thế" [130, tr.265,267]. Chính tƣớng Walter B. Smith, trƣởng Phái đoàn Mỹ tại Hội nghị

Genève, đã tuyên bố khi trở về Mỹ: "Tôi muốn chỉ ra rằng, khi chúng ta phân tích và thảo

luận kết quả của [Hiệp định] Genève, cần nhớ rằng ngoại giao ít khi có thể đạt đƣợc ở bàn hội

nghị những gì không đạt đƣợc hay giữ đƣợc trên chiến trƣờng" [53, 255]. Dulles cũng nhận

định ngày 22-7-1954: "Các yêu sách của Cộng sản đã chuyển thành tƣơng đối ôn hòa so với

khả năng hiện có của họ" [80, 453]. Cuối cùng Eisenhower phải thừa nhận: "Nhìn chung, giải

pháp mà Liên hiệp Pháp đạt đƣợc ở Genève năm 1954 là giải pháp tốt đẹp nhất mà họ có thể

có đƣợc trong hoàn cảnh đó" [64, 452].

Nhƣng Hiệp định Genève đánh dấu sự kết thúc thắng lợi của cuộc kháng chiến của

nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. "Mỗi nƣớc tham gia Hội nghị

Genève cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của [Việt Nam,

Lào và Cam-bốt] và tuyệt đối

179

không can thiệp vào nội trị của những nƣớc đó" (điều 12, Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị

Genève).

Hiệp định Genève đập tan âm mƣu kéo dài và đẩy mạnh các nỗ lực chiến tranh của

Mỹ ở Việt Nam. Hiệp định cũng cấm đƣa thêm vào Việt Nam quân đội, nhân viên quân sự

(điều 16), mọi thứ vũ khí, đạn đƣợc và những dụng cụ chiến tranh khác (điều 17), cấm lập

căn cứ quân sự ngoại quốc ở Việt Nam, cấm gia nhập liên minh quân sự (điều 19) v.v... nói

tóm lại, không cho phép Mỹ can thiệp vào Việt Nam trong tƣơng lai.

Vì vậy, "Hiệp định đƣợc chấp thuận ở Genève khác xa khái niệm của Washington về

một giải pháp có thể chấp nhận đƣợc" [83, 58]. Dulles xem Hiệp định Genève là "một bƣớc

giật lùi" (a setback) [84, 157] trong nền ngoại giao Mỹ, còn Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ

cho đó là "một thảm họa"(a disaster) vì nó "đã hoàn thành một bƣớc tiến quan trọng của

Cộng sản, có thể dẫn tới việc mất cả Đông Nam Á" [97, 14].

Trong cuộc họp báo ngày 21-7-1954 - một ngày sau khi Hiệp định Genève đƣợc ký

kết - Eisenhower tuyên bố: "Trong Hiệp định, có những điểm mà chúng ta không ƣa" [64,

448].

3.1. Mỹ phá hoại tổng tuyển cử để tái thống nhất Việt Nam

Một trong những điểm mà tổng thống Mỹ không ƣa là cuộc tổng tuyển cử dự kiến tổ

chức vào tháng 7-1956 để tái thống nhất hai miền Nam Bắc Việt Nam.

Từ lâu, Mỹ đã thấy uy tín to lớn của Hồ Chí Minh và tin chắc rằng nếu có một cuộc

bầu cử hay trƣng cầu ý dân thì Hồ Chí Minh sẽ đắc cử:

180

"Một cuộc trƣng cầu ý dân thực sự tiêu biểu sẽ dẫn tới việc mất [Việt Nam] vào tay

kiểm soát của Cộng sản" (Giác thƣ ngày 17-3-1954 của Hội đồng an ninh quốc gia) [].

"[Tôi] thừa nhận khả năng rằng Hồ [Chí Minh] có thể thắng trong một cuộc trƣng cầu

ý dân, nếu nhƣ nó đƣợc tổ chức hôm nay ở Việt Nam" (Livingston Merchant, 31-5-1954) [98,

I, 146].

"Hồ Chí Minh đang điều khiển 75% đất nƣớc; trong một cuộc bầu cử tổ chức nay mai,

ông sẽ đƣợc 80% số phiếu" (thứ trƣởng ngoại giao Bedell W. Smith, 23-6-1954) [97,46].

"Một sự thật không còn nghi ngờ gì nữa, bầu cử cuối cùng có nghĩa là thống nhất Việt

Nam dƣới quyền Hồ Chí Minh" (Dulles, 7-7.-1954) [].

"Hồ [Chí Minh] có thể thu hồi 80% số phiếu" (Eisenhower viết trong hồi ký Mandate

for Change) [64, 449].

"Nếu cuộc tổng tuyển cử trong cả nƣớc dự định tổ chức vào tháng 7-1956, (...) Việt

Minh hầu nhƣ chắc chắn sẽ thắng" (Bản ƣớc lƣợng tình báo của CIA, 3-8-1954) [99, II, 12].

v.v...

Do đó, ngay giữa lúc Hội nghị Genève đang họp, ngày 7-7-1954, Dulles gửi bức điện

mật số 77 chỉ thị viên trƣởng Phái đoàn Mỹ tại Hội nghị: "Điều quan trọng hơn cả là phải trì

hoãn cuộc tuyển cử càng lâu càng tốt sau khi ký Hiệp định đình chiến" [97, 46].

Thay biện pháp "trì hoãn" không chắc chắn, ngày 3-8-1954, Hội đồng an ninh quốc

gia Mỹ đƣa ra chủ trƣơng không tổ chức tuyển cử nhằm "ngăn chặn một thắng lợi của Cộng

sản thông qua cuộc tuyển cử trên toàn thể nƣớc Việt Nam" để "duy trì một Miền Nam Việt

Nam thân hữu [với Mỹ], không Cộng sản" [97, 1].

181

Theo điều 7 của Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève, chính quyền của hai miền

Nam Bắc Việt Nam sẽ gặp nhau vào ngày 20-7-1955 để hiệp thƣơng về việc tổ chức cuộc

tổng tuyển cử.

Tháng 5-1955, tức hai tháng trƣớc ngày hiệp thƣơng, Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ

soạn một tài liệu nhan đề "Chính sách của Mỹ đối với tuyển cử ở Việt Nam" vạch ra những

việc cần làm "để không gây ra ấn tƣợng [Mỹ] ngăn cản cuộc tuyển cử". Một trong những việc

đó là "cần phải nhấn mạnh tới việc tuyển cử tự do, bằng phiếu kín với sự giám sát nghiêm

ngặt" [97, 22], xem đó nhƣ là những điều kiện tiên quyết cho việc tổ chức tổng tuyển cử.

Ngày 28-6-1955, Dulles tuyên bố: "Không thể tổ chức tuyển cử nếu không có những

điều kiện tiên quyết thích đáng" [81, 81].

Ngày 1-6-1956, trong bài diễn văn đọc trƣớc Hội những ngƣời Mỹ bạn của Việt Nam

(The American Friends of Vietnam), trợ lý ngoại trƣởng Waller S. Robertson tuyên bố:

"Điều khoản về tuyển cử trong Hiệp định Genève là vô nghĩa, trừ phi bảo đảm trƣớc đƣợc

những điều kiện loại bỏ sự đe dọa hay sự ép buộc đối với cử tri" [182].

Việc Mỹ đặt ra những điều kiện tiên quyết chẳng qua nhằm đánh lừa dƣ luận, muốn

mọi ngƣời tin rằng sở dĩ Mỹ chống tuyển cử; không phải vì sợ Hồ Chí Minh đắc cử, mà chỉ vì

sợ tuyển cử thiếu tự do. Trong thâm tâm, Mỹ sợ cả tuyển cử tự do. Chẳng hạn, trong giác thƣ

ngày 12-3-1954 gửi bộ trƣởng Quốc phòng Mỹ, Hội đồng tham mƣu trƣởng Liên quân Mỹ

viết: "Tin tình báo đang phổ biến hiện nay khiến Hội đồng tham mƣu trƣởng Liên quân tin

rằng một sự giải quyết dựa trên bầu cử tự do hầu nhƣ chắc chắn sẽ dẫn tới việc mất các Quốc

gia liên kết vào tay Cộng sản kiểm soát" [99, II, 12].

Báo cáo ngày 1-2-1955 của Ban nghiên cứu (Bộ ngoại giao) cũng viết: "Trên cơ sở

những chiều hƣớng hiện nay, hầu nhƣ bất cứ loại hình bầu cử nào

182

mà ngƣời ta có thể tổ chức ở Việt Nam vào năm 1956, sẽ đem lại cho những ngƣời Cộng sản

một lợi thế rất có ý nghĩa nếu không phải là mang tính quyết định". Thậm chí, việc lập ra

"những điều kiện về tự do bầu cử có thể làm cho những ngƣời Cộng sản đƣợc thuận lợi nhiều

hơn là đối thủ của họ" [80, 89].

Các nhà sử học Mỹ nhận định:

"Bởi vì trong những điều kiện hiện đƣơng, chế độ ở Miền Nam không thể sống sót sau

cuộc tổng tuyển cử, do đó có thể đoán trƣớc rằng họ sẽ chống đối việc tổ chức một cuộc tổng

tuyển cử nhƣ thế" (Joseph Buttinger) [46, II, 843].

"Họ sợ Việt Minh sẽ đạt đƣợc thắng lợi trong cuộc tuyển cử, bất kể là cuộc tuyển cử

đó đƣợc chuẩn bị và giám sát cẩn thận nhƣ thế nào" (Marvin E. Gettleman) [69, 162].

"Diệm không thể không thấy rõ rằng trong những điều kiện bầu cử tự do, những cơ

may của ông ta sẽ giảm đi một cách mạnh mẽ và rằng cuộc bầu cử đƣợc Uỷ ban quốc tế giám

sát rất có thể tạo ra những điều kiện đủ tự do để bảo đảm rằng, ngay tại Miền Nam, ông ta

cũng sẽ thất bại" (George McT. Kahin và John W. Lewis) [81, 81-82].

Do chủ trƣơng của Mỹ phá hoại cuộc tổng tuyển cử, nên các cuộc hiệp thƣơng (dự

kiến tháng 7-1955) và cuộc tổng tuyển cử (dự kiến tháng 7-1956) đã không diễn ra. Nƣớc

Việt Nam lẽ ra đã đƣợc tái thống nhất hai năm sau Hiệp định Genève, trong thực tế tiếp tục bị

chia cắt trong 21 năm.

3.2. Mỹ trả thù và phân biệt đối xử những người Việt Nam yêu nước

Ở Miền Nam Việt Nam, đối thủ mà Mỹ cho là nguy hiểm nhất, cần phải tiêu diệt,

không phải là những cá nhân và tổ chức thân Pháp, mà là những lực lƣợng đã từng kháng

chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ trong suốt

183

chín năm. Chính những lực lƣợng này sẽ bỏ phiếu cho Hồ Chí Minh một khi cuộc tổng tuyển

cử đƣợc tổ chức theo Hiệp định Genève.

Vì vậy, bất chấp khoản C điều 4 Hiệp định Genève cấm "dùng cách trả thù hay phân

biệt đối xử nào đối với những cá nhân hay tổ chức vì lý do hoạt động của họ trong lúc chiến

tranh", Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm phát động "chiến dịch tố Cộng" từ 11-4-1955.

Đối tƣợng của chiến dịch này là những ngƣời yêu nƣớc từng tham gia kháng chiến giành độc

lập. Một cựu đại tá Mỹ, An Brandstatter, hiệu trƣởng Trƣờng quản trị cảnh sát (School of

Police Administration) ở bang Michigan (Mỹ) đƣợc cử sang Sài Gòn để giúp tổ chức và huấn

luyện bộ máy cảnh sát, công an và mật vụ cho chế độ Diệm theo mô hình và phƣơng pháp

của Mỹ.

Một sĩ quan cấp tƣớng từng giữ chức tham mƣu trƣởng của quân đội Ngô Đình Diệm

thuật lại: "Họ bắt bớ, giam cầm một cách tuỳ tiện ở những trại tập trung trong thời gian

không hạn định, không có những bảo đảm hay giới hạn về mặt luật pháp, và bắn giết những

ngƣời bị nghi là có xu hƣớng Cộng sản. Việc họ dùng những cuộc bố ráp của cảnh sát và tra

tấn theo kiểu Gestapo đƣợc mọi ngƣời ở khắp nơi biết đến và chỉ trích" [91, 73].

Tài liệu Lầu Năm Góc thừa nhận: "Trong cái gọi là chiến dịch Tố Cộng bắt đầu từ

mùa hè 1955, có từ 5 đến l0 vạn ngƣời bị bắt vào các trại giam" [97, 71]. Một tác giả Mỹ,

Alexander Kendrick, cho biết: "Hơn 50.000 ngƣời bị bắt, 75.000 ngƣời bị giết" [91, 73].

Ngọn lửa chiến tranh nhen lại từ đó.

Mỹ đẩy nhanh việc rút quân Pháp ra khỏi Miền Nam Việt Nam. Quân số Pháp giảm

dần: 65.000 (giữa năm 1955), 35.000 (cuối năm 1955), 15.000 (2-1956), 3.000 (3-1956) ...

184

Ngày 2-6-1955, đại tƣớng Paul Ely về nƣớc. Thay ông là tƣớng Pierre Jacquot trong

chức vụ tổng chỉ huy và Henri Hoppenot trong chức vụ cao uỷ.

Ngày 10-4-1956, quân Pháp diễu hành lần cuối cùng trên đƣờng phố Sài Gòn.

Nửa tháng sau, 26-4, Bộ tổng chỉ huy Quân viễn chinh Pháp ở Miền Nam Việt Nam

chính thức giải thể. Tƣớng Pierre Jacquot làm lễ cuốn cờ.

Ngày 30-6, những ngƣời lính Pháp cuối cùng rút khỏi Việt Nam, chấm dứt gần một

thế kỷ hiện diện quân sự trên đất nƣớc này (1858-1956).

Việc Mỹ đẩy quân Pháp ra khỏi Miền Nam Việt Nam không chỉ vì muốn loại bỏ ảnh

hƣởng của Pháp ở đây mà còn có dụng ý chính trị. Pháp là một trong hai bên ký Hiệp định

Genève 1954 về Việt Nam, có trách nhiệm thi hành những điều khoản về tổng tuyến cử dự

kiến tổ chức vào tháng 7-1956. Một khi quân Pháp rút hết khỏi Miền Nam Việt Nam trƣớc

thời hạn tháng 7 ấy, Mỹ và chính quyền Diệm có cớ để tuyên bố không có trách nhiệm thi

hành Hiệp định đó. Nhà sử học Mỹ Marvin E. Gettleman, giáo sƣ Viện đại học bách khoa

Brooklyn, gọi đó là "một trong những thủ đoạn kỳ dị nhất của bọn đế quốc hiện đại" [69,

l61].

185

CHƢƠNG KẾT LUẬN:

CHỦ NGHĨA BÀNH TRƢỚNG : SỢI CHỈ XUYÊN SUỐT CHÍNH

SÁCH CỦA MỸ ĐỐI VỚI VIỆT NAM TỪ 1940 ĐẾN 1956

186

20-6-1940 - 30-6-1956

Mƣời sáu năm trôi qua kể từ khi Mỹ từ chối giúp Pháp đối phó với âm mƣu tiến vào

Đông Dƣơng của Nhật Bản, đến ngày những lính Pháp cuối cùng rút khỏi Miền Nam Việt

Nam.

Mƣời sáu năm không phải khoảng thời gian dài trong lịch sử của Mỹ và Việt Nam,

nhƣng trong mƣời sáu năm ấy, biết bao sự kiện quan trọng đã diễn ra trong mối quan hệ giữa

hai nƣớc mà hậu quả vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay.

Do không thấy (hay không thấy đúng) bản chất của Mỹ trong chính sách đối với Việt

Nam, một số nhà sử học phƣơng Tây không nhận ra sợi chỉ xuyên suốt các sách lƣợc (hay -

nhƣ các tác giả cuốn The Indochina Story gọi - các biến thể [variants]) của chính sách đó.

Cho nên sử gia Mỹ gốc Pháp Bernard B. Fall chia vụn thời kỳ 1940-1961 thành 6 giai đoạn:

1. Chống Vichy (1940-45)

2. Ủng hộ Việt Minh (1945-46)

3. Không dính líu (1946-6/1950)

4. Ủng hộ Pháp (1950-1954)

5. Dính líu không mang tính cách quân sự (1954-11/1961)

6. Dính líu trực tiếp và toàn diện (từ 1961 trở đi) [165, 118]

còn các tác giả Tài liệu Lầu Năm Góc lại đƣa ra nhận định: "Chính sách của Mỹ [ở Việt

Nam] từ 1940 đến 1950 là một vấn đề ngộ nhận có ý nghĩa" (significant misunderstanding),

chính sách ấy "ít có chủ định" (less purposeful) hơn là nhiều ngƣời đã nghĩ và có đặc điểm là

"không nhất quán" (ambivalence) và "không quả quyết" (indecision) [97, 7].

187

Qua nghiên cứu đề tài "Việt Nam trong ý đồ bành trƣớng thế lực của Mỹ 1940-1956"

chúng tôi không nhất trí với các nhận định nói trên, ngƣợc lại muốn nhấn mạnh rằng:

- Chính sách của Mỹ đối với Việt Nam trong 16 năm ấy là có chủ định.

- Trong 16 năm ấy, tuy Mỹ nhiều lần thay đổi sách lƣợc, nhƣng mục đích của Mỹ đối

với Việt Nam vẫn trƣớc sau nhƣ một.

1. Chính sách của Mỹ đối với Việt Nam từ 1940 đến 1956 là có chủ định.

Từ ngày lập quốc đến nay, những ngƣời cầm đầu nƣớc Mỹ luôn luôn tìm cách bành

trƣớng - bành trƣớng lãnh thổ, bành trƣớng thế lực (chính trị, kinh tế, quân sự...) - một cách

liên tục và rộng khắp.

Jean-Pierre Fichou, giáo sƣ Trƣờng đại học Caen (Pháp), dành hẳn chƣơng V của

cuốn "Văn minh Hoa Kỳ" để bàn về "Chủ nghĩa bành trƣớng" của Hoa Kỳ: "Sự phát triển

kinh tế của Hoa Kỳ diễn ra đồng thời với việc mở mang bờ cõi (...) Nền công nghiệp [của

Hoa Kỳ] cực kỳ năng động và liên tục phát triển, do đó Hoa Kỳ hiểu rằng: muốn mở rộng thị

trƣờng thì phải bắt đầu bằng mở mang bờ cõi để có thêm dân, sau đó mở rộng vùng đất buôn

bán và những vùng ảnh hƣởng (...) Một khi thị trƣờng nội địa bão hoà, tất phải nhìn ra bên

ngoài (...) Cái kiểu bành trƣớng ấy - do qui luật lợi nhuận quyết định - khác nào chủ nghĩa đế

quốc" [9, 111-113].

Mỹ có tham vọng bành trƣớng toàn cầu từ lâu, song phải chờ tới Chiến tranh thế giới

lần thứ II mới có cơ hội để thực hiện, nhƣ John Foster Dulles tiết lộ ngày 20-10-1939: "Nếu

sau Chiến tranh thế giới lần thứ I kế hoạch

188

bành trƣớng toàn cầu của nƣớc Mỹ đã không thực hiện đƣợc thì kế hoạch đó chắc chắn sẽ

đƣợc thực hiện sau cuộc Chiến tranh thế giới lần này" [154, 28]

Các tổng thống Mỹ che đậy tham vọng bành trƣớng toàn cầu, bá chủ thế giới dƣới

cách gọi "sự chỉ huy" hay "sự lãnh đạo của Mỹ trên thế giới" [83, 13].

Trong hồi ký "As He Saw It", Franklin D. Roosevelt tâm sự với con trai Elliott

Roosevelt hồi tháng 8-1943: "Mỹ có sứ mệnh chỉ huy (...) Chúng ta có thể giữ vai trò đó bởi

vì chúng ta là một nƣớc lớn, mạnh và có thể tự túc" [141, l61].

Rủi thay, Roosevelt không sống cho đến khi Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc.

Ngƣời thay ông là Harry S. Truman tiếp tục tin rằng: "Chúng ta có quyền lãnh đạo việc tổ

chức thế giới", cho đó "là một đặc quyền, một trọng trách mà Đức Chúa Trời đã phó thác cho

nƣớc Mỹ" [].

Dwight D. Eisenhower bƣớc vào Nhà Trắng sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa thế

giới đã ra đời, nên ông ta chỉ có thể nói: "Định mệnh đã đặt lên đất nƣớc chúng ta trách

nhiệm lãnh đạo thế giới tự do" [185] - chứ không phải toàn thế giới nhƣ trƣớc nữa.

Mỹ muốn lãnh đạo thế giới, bắt thế giới phải làm theo chiếc gậy chỉ huy của Mỹ, hay

- theo lời một chính khách Mỹ - "định hình mọi dân tộc theo hình ảnh của chúng ta hoặc theo

hình ảnh mà chúng ta chọn" [19, 317].

Đông Dƣơng nói chung và Việt Nam nói riêng không nằm ngoài tham vọng đó vì tầm

quan trọng về các mặt kinh tế, quân sự và chính trị của nó.

Đông Dƣơng - trong đó có Việt Nam - đƣợc Tài liệu Lầu Năm Góc gọi là: "bát cơm

của châu Á" (the rice bowl of Asia) [98, I, 85]. Ngoài cây lúa, Đông Dƣơng còn có nhiều loại

cây công nghiệp và khoáng sản. Sau khi dẫn đầu một phái đoàn nghiên cứu sang Đông

Dƣơng vào đầu năm 1953, dân biểu

189

Walter Judd viết trong bản báo cáo: "Khu vực Đông Dƣơng rất giàu có về lúa gạo,

cao su, than đá và quặng sắt" [98, I, 85]. Theo tác giả Ronald Spector, "Đông Dƣơng từng

xuất khẩu một lƣợng lớn cao su sang Mỹ" [110, 8]. Có lúc, Đông Dƣơng bán cho Mỹ 92

nghìn tấn cao su, chiếm 94% tổng giá trị hàng hoá của Đông Dƣơng xuất sang Mỹ. Sau cao

su là thiếc, chiếm 3% [152, 32].

Tổng thống Eisenhower rất quan tâm đến những thổ sản của Đông Dƣơng. Trong hồi

ký của mình, ông bày tỏ nỗi lo lắng nếu một mai Đông Dƣơng vuột khỏi vòng ảnh hƣởng của

Mỹ, vì điều đó "có nghĩa là mất đi những mỏ thiếc quý giá và những nguồn cung cấp lớn lao

về cao su và lúa gạo" [64, 404]. Tại Hội nghị thống đốc các bang toàn nƣớc Mỹ ở Seattle

(bang Washington) ngày 4-8-1953 và trong cuộc họp báo ngày 7-4-1954, ngoài thiếc,

Eisenhower còn nhắc đến một kim loại khác là vôn-phram (hay tungxten): "Nếu chúng ta mất

Đông Dƣơng, vôn-phram và thiếc - những thứ mà chúng ta xem là rất quan trọng - sẽ không

đến với chúng ta từ xứ đó nữa" [125, 196] và "Hai thứ của khu vực đặc biệt này mà thế giới

dùng đến là thiếc và tungxten. Những thứ này rất quan trọng. Dĩ nhiên còn những thứ khác

nhƣ các đồn điền cao su v.v..." [120, 390]. Ngày 23-4-1954, Eisenhower một lần nữa nhấn

mạnh tầm quan trọng của các thổ sản của Đông Dƣơng đối với nền kinh tế Mỹ, nhƣ thiếc,

tungxten, cao su... "là những thứ mà chúng ta dùng trong cuộc sống hằng ngày nhƣng chúng

ta lại không sản xuất đƣợc" [].

Việt Nam, không chỉ có giá trị về phƣơng diện kinh tế mà còn có tầm quan trọng về

mặt chiến lƣợc - quân sự cũng nhƣ chính trị.

Nằm trên giao điểm của hai con đƣờng giao thông từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống

Nam (và ngƣợc lại), Việt Nam là một trong những đầu cầu của vùng Đông Nam Á, là cửa

ngõ để tiến vào đại lục châu Á bao la. Dân biểu Walter Judd (đã nói ở trên) nhận xét: " Vị trí

của Đông Dƣơng làm cho nó trở

190

thành điểm then chốt có tính chất chiến lƣợc đối với phần còn lại của châu Á" [98, I, 85].

Trong hồi ký "Mandate for Change", Eisenhower cũng nhấn mạnh: "Tầm quan trọng chiến

lƣợc của Đông Dƣơng là rõ ràng" [64, 404].

Trong chiến tranh châu Á - Thái Bình Dƣơng, Việt Nam đƣợc đô đốc Harold R. Stark,

tƣ lệnh Hải quân Mỹ dƣới thời Roosevelt, đánh giá là "một vùng quan trọng sống còn" (vital

region) vì ở đó có vịnh Cam Ranh mà ông xem là "điểm xuất phát cho cuộc xâm nhập của

Nhật Bản về phía Nam" [110, 18].

Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, nhân dân Việt Nam - dƣới sự lãnh đạo của

Đảng cộng sản Đông Dƣơng, đứng đầu là nhà yêu nƣớc Hồ Chí Minh - tiến hành cuộc Cách

mạng tháng Tám 1945.

Đông Dƣơng trở thành con cờ đô-mi-nô đầu tiên trong "thuyết đô-mi-nô" (the domino

theory) của Mỹ.

Trong cuộc họp báo ngày 7-4-1954, tổng thống Eisenhower giải thích: "Việc thất thủ

Đông Dƣơng sẽ gây ra một phản ứng dây chuyền, dẫn đến việc thất thủ Thái Lan, Miến Điện,

Mã Lai và đe doạ Nhật Bản, Đài Loan, Philippines, Australia và New Zealand" [120, 390],

nói một cách khác, nó đƣa đến "sự sụp đổ của Đông Nam Á giống nhƣ một ván cờ đô-mi-nô"

[188]. Ngoại trƣởng Dulles còn lo xa hơn: "Hậu quả của việc thất thủ Đông Dƣơng không thể

giới hạn trong một nơi mà sẽ lan ra khắp châu Á và châu Âu nữa". Trong thƣ ngày 4-4-1954

gửi thủ tƣớng Anh Churchill, Eisenhower viết: Nếu Đông Dƣơng thất thủ "hậu quả cuối cùng

sẽ tác động đến thế chiến lƣợc toàn cầu của chúng tôi [Mỹ] và của các Ngài [Anh], dẫn tới sự

thay đổi trong cán cân lực lƣợng trên toàn châu Á và Thái Bình Dƣơng. Tình hình nhƣ vậy có

thể là rất tai hại" [64, 346]. Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ tháng 8-1953 cũng kết

191

luận tƣơng tự: "Việc thất thủ Đông Dƣơng sẽ nguy kịch cho nền an ninh của Mỹ" [64,217].

Vì đánh giá cao tầm quan trọng mọi mặt của Đông Dƣơng, nên thứ trƣởng Ngoại giao

Mỹ Waller B. Smith tháng 5-1953 xem "vấn đề Đông Dƣơng đã trở thành một vấn đề có tính

chất toàn cầu" [] còn ngoại trƣởng Mỹ John F. Dulles ngày 24-3-1953 trƣớc đó cho rằng

Đông Dƣơng "chiếm ƣu tiên số một trong chính sách đối ngoại [của Mỹ] vì trên một số mặt,

Đông Dƣơng còn quan trọng hơn Triều Tiên" [127, 133].

2. Từ 1940 đến 1956, Mỹ nhiều lần thay đổi sách lƣợc, nhƣng mục đích của Mỹ đối

với Việt Nam vẫn trước sau như một.

Nhƣ đã trình bày ở trên, trong 16 năm, Mỹ theo đuổi mục đích bành trƣớng thế lực ở

Việt Nam, biến Việt Nam thành một nƣớc nằm trong ảnh hƣởng của Mỹ.

Để đạt đƣợc múc đích ấy, Mỹ đã ba lần thay đổi sách lƣợc:

1. ban đầu, Mỹ tìm mọi cách để ngăn cản Pháp trở lại Việt Nam sau chiến tranh

(1940-1945)

2. sau đó, Mỹ giúp Pháp tái chiếm Việt Nam, đàn áp cuộc kháng chiến của nhân dân

Việt Nam (1945-1954)

3. cuối cùng, Mỹ tìm cách loại Pháp ra khỏi Việt Nam (1954-1956). Mỗi lần thay đổi

sách lƣợc, Mỹ lại đƣa ra một chiêu bài mới.

Đƣa ra chiêu bài hoa mỹ để che đậy bản chất xấu xa là việc làm thƣờng thấy của các

nƣớc thực dân - kể cả thực dân cũ lẫn thực dân mới.

Chẳng hạn, khi đem quân xâm lƣợc nƣớc ta, thực dân Pháp tuyên bố nhằm "bảo vệ

giáo sĩ và giáo dân", giúp Giáo hội "mở rộng nƣớc Chúa" v.v... mặc dù triều đình Pháp lúc đó

nổi tiếng "chống Thiên Chúa giáo, bài bác giáo sĩ

192

(antireligieux, anticlérical), trục xuất hàng ngàn tu sĩ" [36, 119]. Trong lúc họ đàn áp và bóc

lột nhân dân ta một cách dã man, chủ trƣơng ngu dân và đầu độc đồng bào ta bằng rƣợu cồn

và thuốc phiện, thì họ vẫn rêu rao "sứ mệnh khai hóa" (mission civilisatrice) ở Việt Nam!

Huống chi thực dân mới là thực dân giấu mặt! Không bao giờ những ngƣời cầm đầu

chính phủ Mỹ thừa nhận họ có những chủ tâm đế quốc chủ nghĩa đối với các nƣớc khác.

Ngay cả khi họ chiếm Philippines làm thuộc địa trong gần nửa thế kỷ (1899-1946), đàn áp

đẫm máu các cuộc khởi nghĩa giành độc lập của nhân dân Philippines, tổng thống Mỹ

William McKinley (1897-1901) vẫn nói một cách rất đạo đức giả: "Quả thực tôi chẳng muốn

Philippines một tí nào, nhƣng khi nƣớc này rơi vào tay chúng ta nhƣ của trời cho thì chúng ta

không có lựa chọn nào khác là giữ lấy nƣớc đó, dạy dỗ và giúp đỡ nƣớc đó hết mình" [133,

14].

Khi muốn đẩy lui thế lực của các đế quốc châu Âu ra khỏi châu Mỹ la-tinh, Mỹ nêu ra

chiêu bài "Châu Mỹ của ngƣời Châu Mỹ" (America for Americans), thực chất là muốn đóng

cửa các nƣớc Mỹ la-tinh đối với các đế quốc châu Âu và biến các nƣớc đó thành "một khu

vực dành riêng của Mỹ" (a preserve of the United States) []. Song lúc muốn chen chân một

cách muộn màng vào Trung Hoa, Mỹ nêu chiêu bài ngƣợc lại, "Chính sách cửa mở" (the

Open Door policy), để đòi mở cửa thị trƣờng mênh mông này cho Mỹ có "cơ hội đồng đều"

(equal opportunities) với các đế quốc đã vào trƣớc.

Đầu thập niên 40 của thế kỷ XX, Mỹ muốn bành trƣớng thế lực vào Việt Nam, nhƣng

vấp phải một trở ngại lớn: thực dân Pháp đã là "ngƣời chủ" Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XIX.

Do đó, để che đậy chủ tâm thực sự của mình, Mỹ đƣa ra chiêu bài "chống thực dân" (anti-

colonialism). Bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu, tổng thống Roosevelt đều lớn tiếng đả kích chủ

nghĩa thực dân Pháp:

193

♦ "Người Pháp có mặt tại Đông Dương từ khoảng 1832 [sic] và họ đã làm rất ít để

cải thiện điều kiện [sống] của người bản xứ" (nói tại cuộc họp của Hội đồng chiến tranh Thái

Bình Dƣơng, tháng 12-1942, trƣớc mặt các đại biểu Mỹ, Trung Hoa, Philippines, Australia,

New Zealand và Canada) [72, 71].

♦ "Người bản xứ Đông Dương đã bị chà đạp một cách trắng trợn đến độ họ tự nghĩ:

Bất cứ điều gì cũng tốt hơn là sống dưới sự cai trị thực dân của Pháp" (nói với con trai

Elliott, tháng 1-1943) [141, 115].

♦ "Người Pháp đã có mặt ở đó gần một trăm năm tuyệt đối chẳng làm một điều gì

nhằm cải thiện số phận của dân chúng... Cứ mỗi pound họ đem ra khỏi nơi ấy thì có lẽ họ chỉ

đặt vào đó một shilling [tức 1/12 của pound]... Chúng ta phải giúp đỡ 35 triệu người dân

Đông Dương" (nói ngày 21-7-1943 tại Nhà Trắng trƣớc các thành viên của Hội đồng chiến

tranh Thái Bình Dƣơng) [44, 76].

♦ "Sau 100 năm Pháp cai trị Đông Dương, người dân [sống] tồi tệ hơn trước đó" (nói

với nguyên soái Liên Xô Stalin ngày 28-11-1943 tại Hội nghị Teheran, Iran) [44,77; 72,81].

♦ " Pháp có được xứ này - 30 triệu dân - trong gần 100 năm, nhưng người dân [sống]

tồi tệ hơn lúc bắt đầu (...). Pháp đã bòn rút xứ này trong 100 năm. Người dân Đông Dương

có quyền [hưởng] một điều gì đó tốt hơn thế" (viết trong thƣ đề ngày 24-1-1944 gửi ngoại

trƣởng Mỹ Cordell Hull) [98, I, 10].

♦ "Dưới sự cai trị của Pháp, Đông Dương chẳng có một tiến bộ nào" (phát biểu tại

Hội nghị Yalta, Liên Xô, giữa ba cƣờng quốc Liên Xô - Mỹ -Anh, từ 4 đến 12-2-1945).

194

♦ "Từ khi Pháp có thuộc địa này, họ chẳng làm gì để cải thiện người bản xứ" (nói với

nguyên soái Slalin và ngoại trƣởng Liên Xô Molotov ngày 8-2-1945 tại điện Livadia) [189].

v.v... và v.v...

Ngày 27-10-1945 tại Central Park (New York), ngƣời kế vị Roosevelt là Truman

tuyên bố: "Chúng tôi tin rằng chủ quyền và sự tự quản sẽ đƣợc trao trả lại cho tất cả các dân

tộc đã bị tƣớc đoạt bằng vũ lực.

Chúng tôi tin rằng mọi dân tộc đã đƣợc chuẩn bị để tự quản phải đƣợc phép lựa chọn

hình thức chính quyền của riêng họ bằng sự lựa chọn tự do, không có sự can thiệp nào từ bên

ngoài. Điều đó đúng ở châu Âu, châu Á, châu Phi cũng nhƣ ở Tây bán cầu (...)

Chúng tôi sẽ từ chối thừa nhận bất cứ chính phủ nào do cƣờng quốc bên ngoài dùng

vũ lực áp đặt lên một dân tộc khác" [112, I, 589-560].

Để minh hoạ cho tuyên bố nói trên, các tác giả Tài liệu Lầu Năm Góc cố làm cho độc

giả tin rằng Truman cũng chống chủ nghĩa thực dân" không kém ngƣời tiền nhiệm của mình.

Theo các tác giả đó, "chính phủ Truman đã từ chối yêu cầu của Pháp xin Mỹ cấp máy bay và

tàu để chở quân Pháp đến Đông Dƣơng, đồng thời cũng bác bỏ các yêu cầu xin Mỹ cấp vũ

khí để giúp Pháp đánh Việt Minh" và "ngay cả khi Pháp thỏa thuận với vua Bảo Đại cho Việt

Nam độc lập trong khối Liên hiệp Pháp, chính quyền Truman vẫn chƣa chịu ủng hộ việc đó

vì sợ Bảo Đại còn quá yếu và nhiễm phải chủ nghĩa thực dân của Pháp" [97, 8-9] v.v... và

v.v...

Trong hồi ký của mình, tổng thống Eisenhower tự đề cao nƣớc Mỹ là "cƣờng quốc

chống chủ nghĩa thực dân mạnh nhất" (the most pơwerful of the anticolonial powers) [64,

451]. Giải thích vì sao Mỹ không thực hiện âm mƣu can thiệp quân sự trực tiếp vào Việt Nam

trong thời gian trƣớc, trong và sau sự

195

kiện Điện Biên Phủ, Eisenhower viết: "Lý do mạnh nhất để Mỹ từ chối đáp ứng các lời kêu

cứu của Pháp là truyền thống chống chủ nghĩa thực dân của chúng ta" [64, 451]!

Một số nhà sử học ở Mỹ hay ở Miền Nam Việt Nam trƣớc 1975 cả tin ở chiêu bài

"chống chủ nghĩa thực dân" của Mỹ. Chẳng hạn Stanley Karnow cho rằng: "Từng chiến đấu

chống lại chủ nghĩa thực dân Anh, lẽ tự nhiên Mỹ không thích đi nô dịch những dân tộc

khác" [133, 13], hoặc Nguyễn Phƣơng ở Ban sử học Trƣờng Đại học văn khoa Huế không

tiếc lời ca ngợi "Mỹ là một nƣớc phản thực dân có tiếng". Theo ông, "Trƣớc kia là thuộc địa

Anh, dân tộc Mỹ đã am hiểu nỗi khổ thống [sic] của bọn dân bị trị. Từ khi trở nên một

cƣờng quốc, Mỹ vốn bênh vực những quốc gia nhƣợc tiểu", vì vậy, "chính sách tổng quát của

Mỹ là phản đế quốc, phản thực dân" [23, 10-1l].

Song chính các nhà sử học Mỹ đã phản bác các ý kiến trên. Peler A. Poole viết:

"Chính là chính sách sức mạnh, chứ không phải là việc chống chủ nghĩa thực dân, đã làm cho

Roosevelt dính líu tới vấn đề Đông Dƣơng vào lúc sắp nổ ra cuộc chiến tranh thế giới thứ

hai" [25, 10], còn Neil Shechan khẳng định: "Lịch sử phổ cập thƣờng nói rằng Hoa Kỳ chống

lại chủ nghĩa thực dân của ngƣời Âu ở châu Á. Đó chỉ là huyền thoại (...). Hoa Kỳ với tƣ cách

là một nƣớc, qua chính phủ của mình, đã không hề tìm cách tháo dở hệ thống thuộc địa của

các nƣớc đế quốc châu Âu sau Thế chiến thứ hai" [28, 201].

Nhƣ thế, những lời tuyên bố "chống chủ nghĩa thực dân" khá hùng hồn của những

ngƣời cầm đầu chính phủ Mỹ chỉ nhằm che đậy bản chất thực sự của họ, nhƣ chính khách

Mỹ William Z. Foster đã chỉ ra: "Nói rằng nƣớc Mỹ chống chủ nghĩa thực dân thì chỉ là lừa

dối ngƣời ta mà thôi. Chủ nghĩa thực dân kiểu đặc biệt của Phố U-ôn [Wall Street] ban cho

các nƣớc bị nó chiếm làm thuộc địa một cái bóng độc lập chính trị. Nó là một thứ chủ nghĩa

thực

196

dân nhãn hiệu mới nhằm mục đích che mờ yêu sách của nhân dân đòi giải phóng dân tộc"

[10, 507].

Mặt khác, cũng nhƣ các khẩu hiệu "Châu Mỹ của người châu Mỹ" và "chính sách mở

cửa", chiêu bài "chống chủ nghĩa thực dân" trong những năm 4940-1945 và 1954-1956 nằm

trong âm mƣu của Mỹ "chia lại thế giới đã bị chia rồi" (redivision of the already divided

world). Theo nhà sử học Mỹ gốc Pháp Bernard B. Fall, các nhà cầm quyền Mỹ chỉ trích chủ

nghĩa thực dân Pháp "vì Pháp đã cai trị Đông Dƣơng một cách tồi tệ, nên bƣớc lô-gíc tiếp

theo là ngăn cản Pháp đòi lại chủ quyền của họ tại xứ này và thay bằng một chính quyền

khác" [] do Mỹ dựng lên. Viên tƣớng Pháp Henri Navarre cũng chỉ ra: "Cái gọi là chống chủ

nghĩa thực dân mà Mỹ rêu rao chẳng qua chỉ là một chính sách rất thực dụng với những động

cơ rất phức tạp và hoàn toàn vụ lợi, che đậy dƣới nhãn hiệu "giải phóng các dân tộc bị áp

bức". Chính sách đó trƣớc hết nhằm xây dựng một đế quốc Mỹ (...) trên sự đổ nát của các đế

quốc châu Âu" [140, 319].

Một số tác giả Việt Nam có cùng suy nghĩ nhƣ trên. Theo Võ Việt Quốc, "mối quan

tâm của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ không phải là giành độc lập và chủ quyền quốc gia cho

Việt Nam, nhƣng là mƣu toan loại bỏ ảnh hƣởng của Pháp ra khỏi Việt Nam để bành trƣớng

thế lực của họ", nói một cách khác, để "thay ách thực dân Pháp bằng cái ách của cái gọi là

"thế giới tự do" có lẽ còn nặng nề hơn và khó thoát hơn, vì ách này giàu thế lực hơn và tinh vi

hơn" [155, 7-8]. Phạm Xanh cũng cho rằng việc Roosevelt đả kích thực dân Pháp "không

phải là thiện ý của ông đối với số phận của Đông Dƣơng, mà chính là một sách lƣợc thể hiện

một âm mƣu, một dã tâm của thế lực bành trƣớng Mỹ muốn có chân tại Đông Dƣơng mà xƣa

nay chƣa thực hiện đƣợc" [158, 28].

197

Vì "chống chủ nghĩa thực dân" chỉ là chiêu bài, nên khi nó không còn phù hợp với

tình hình mới, chính phủ Mỹ không ngần ngại vất bỏ nó để thay bằng chiêu bài khác. Vào

cuối chiến tranh thế giới lần thứ II, Mỹ không những không chống chủ nghĩa thực dân mà,

ngƣợc lại, còn giúp lập lại chủ nghĩa thực dân - dƣới một hình thức tinh vi hơn, kín đáo hơn -

ở Việt Nam đến độ - nhƣ John J. Sbrega nhận xét - "trở nên gắn bó chặt chẽ với việc phƣơng

Tây đàn áp những nguyện vọng độc lập chính đáng của ngƣời châu Á" [172, 107]. Trong thƣ

xin từ chức gửi tổng thống Truman ngày 26-11-1945, đại sứ Mỹ tại Trung Hoa Patrick. J.

Hurley chỉ trích chính phủ Mỹ "bỏ rơi các lý tƣởng của Hiến chƣơng Đại Tây Dƣơng và bảo

đảm một cách rõ ràng cho việc lập lại đế quốc ở châu Á" []. Ngày 13-12-1945, Charles Yost,

cố vấn chính trị của Mỹ ở Thái Lan, viết cho ngoại trƣởng James F. Byrnes: "Nhân dân

Indonesia và Đông Dƣơng cảm thấy vỡ mộng trƣớc việc Mỹ không ủng hộ yêu sách đòi độc

lập của họ. Họ nghĩ rằng Mỹ có ý định chiều theo Anh, Pháp và Hà Lan" [].

Vì sao Mỹ thay đổi sách lƣợc ở Việt Nam? Theo Noam Chomsky, giáo sƣ Viện công

nghệ Massachusetts, Mỹ muốn "buộc Đông Dƣơng phải nằm trong hệ thống toàn cầu do Mỹ

lãnh đạo". Thế nhƣng những ngƣời lãnh đạo cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 ở Việt Nam

"muốn có sự phát triển độc lập", "phát triển bên ngoài ảnh hƣởng của Mỹ - một điều [Mỹ]

không thể chấp nhận đƣợc". Do đó, "ngƣời Việt Nam phải bị trừng phạt vì dám chống lại sức

mạnh của Mỹ". Trong thâm tâm, Mỹ sợ "sự phát triển thành công của Việt Nam sẽ tạo ra một

mẫu hình mới cho các quốc gia khác trong khu vực". Chính vì sợ "con virút [Việt Nam] sẽ

xâm nhập toàn khu vực" nên Mỹ tìm cách "triệt phá nó, sau đó tiêm kháng sinh để bệnh tật

không lan ra đƣợc. Đó cũng là chiến lƣợc căn bản của Mỹ đối với thế giới thứ ba" [6, 50-51].

Việt Nam

198

đƣợc xem nhƣ con cờ đô-mi-nô đầu tiên trong "thuyết đô-mi-nô" (the domino theory ) của

Mỹ.

Mỹ giƣơng lên lá cờ "chống Cộng sản, bảo vệ thế giới tự do" ở Việt Nam. Dƣới con

mắt của những ngƣời cầm quyền ở Mỹ, cuộc chiến tranh của Pháp ở Việt Nam (từ 1945 đến

1954) không phải là cuộc chiến tranh tái chiếm thuộc địa mà biến thành một bộ phận của

cuộc "thánh chiến chống Cộng sản" ( a n anti-Communist crusade). Nhà yêu nƣớc Hồ Chí

Minh bị ngoại trƣởng Mỹ Dean Acheson xem nhƣ là "kẻ tử thù của nền độc lập bản xứ ở

Đông Dƣơng" (the mortal enemy of native independence in Indochina) [175, 244]. Ngƣợc lại,

Mỹ không tiếc lời ca ngợi "công trạng" của Pháp ở Đông Dƣơng:

"Thế giới tự do phải biết ơn Pháp và các lực lƣợng của Các quốc gia liên kết về những

hy sinh to lớn của họ cho chính nghĩa tự do, chống lại xâm lăng cộng sản" (phó tổng thống

Nixon, 23-12-1953) [179, 12]

"Bằng nhiều cách, Mỹ bày tỏ thiện cảm của mình đối với cuộc chiến đấu hào hùng mà

lực lƣợng Pháp và Các quốc gia liên kết đang tiến hành ở Đông Dƣơng" (ngoại trƣởng

Dulles, 29-3-1954) [180, 540]

Và giữa lúc quân viễn chinh Pháp đang hấp hối trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên

Phủ, đích thân Eisenhower viết thƣ cho các tƣớng lĩnh Pháp để "kính chào lòng dũng cảm và

sức chịu đựng của viên chỉ huy [tƣớng De Castries] và các chiến sĩ đang bảo vệ Điện Biên

Phủ", bày tỏ lòng "ngƣỡng mộ sâu sắc nhất đối với cuộc chiến đấu gan dạ và tháo vát mà

quân đội Pháp, Việt Nam và các thành viên khác của Liên hiệp Pháp đang tiến hành ở đó", ca

ngợi "những chiến sĩ này, trung thành với những truyền thống vĩ đại của họ, đang bảo vệ

chính nghĩa tự do của con ngƣời và đang chứng minh bằng một cách đúng đắn nhất những

phẩm chất mà sự sống còn của Thế giới tự do tuỳ thuộc vào đó" [64, 430].

199

Thực chất của cái "Thế giới tự do" mà những nhà cầm quyền nƣớc Mỹ ra sức bảo vệ

là gì? Một tác giả Mỹ, Neil Sheehan, giải thích: Thế giới đó "gồm những nƣớc đƣợc bảo trợ

bằng sức mạnh quân sự của Mỹ, thừa nhận quyền lãnh đạo của Mỹ trong các vấn đề quốc tế,

và hội nhập vào một trật tự kinh tế trong đó đồng đô-la đóng vai trò đồng tiền trao đổi chủ

yếu và nền kinh doanh Mỹ chiếm ƣu thế", vẫn theo Neil Shechan, tại những nƣớc đó, Mỹ

dựng lên "những chính phủ địa phƣơng ngoan ngoãn tuân theo ý muốn của Mỹ, và nếu có thể

đƣợc, sẽ do Mỹ giật dây gián tiếp ở hậu trƣờng. Washington muốn có những chế độ bản xứ

hoạt động nhƣ những đại diện cho quyền lực của Mỹ. Mục đích là thống trị các nƣớc đồng

minh và phụ thuộc, thực hiện ý muốn của nƣớc đế quốc trong các vấn đề thế giới mà không

cần đến cấu trúc của chủ nghĩa thuộc địa kiểu cũ" [28, 176-177].

Thay cho cấu trúc của chủ nghĩa thuộc địa kiểu cũ là cấu trúc của chủ nghĩa thực dân

kiểu mới đƣợc Henri Navarre mô tả nhƣ sau: "Không có toàn quyền, không có công sứ, cũng

không có cao uỷ. Chỉ có đại sứ Mỹ, nhƣng sẽ không làm gì đƣợc nếu viên đại sứ đó không

đồng ý. Dân các nƣớc đƣợc Mỹ viện trợ cứ tƣởng rằng mình đƣợc tự do vì họ đƣợc những

ngƣời cùng nòi giống với họ cai trị. Họ có biết đâu rằng những ngƣời này chỉ là những con

rối dƣới bàn tay điều khiển của đại sứ Mỹ" [].

Mỹ muốn Việt Nam trở thành một nƣớc "tự do" nhƣ thế. Và khi ngƣời Việt Nam

không chấp nhận một nền "tự do" theo kiểu Mỹ, "muốn có sự phát triển độc lập", "phát triển

bên ngoài ảnh hƣởng của Mỹ" - nhƣ Noam Chomsky đã nói - , Mỹ can thiệp ngày càng sâu

sắc, càng trực tiếp vào Việt Nam...

*

* *

200

Mùa thu năm 1945, khi nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi Cách mạng tháng

Tám, nếu Mỹ không đồng ý với "việc nhà cầm quyền và quân đội Pháp quay trở lại" Việt

Nam [131, 250] và sau đó không giúp đỡ đô-la cùng vũ khí để Pháp tái chiếm Việt Nam thì

chắc chắn cuộc chiến tranh Việt Nam lần thứ I 1945-1954 đã không xảy ra.

Và sau Hội nghị Genève 1954 về Đông Dƣơng, nếu Mỹ thi hành các điều khoản của

Hiệp định đình chiến và Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị, không phá hoại cuộc tổng tuyển

cử thống nhất Việt Nam, không bắt bớ giam cầm bắn giết những ngƣời yêu nƣớc ở Miền

Nam, thì cũng không có cuộc chiến tranh Việt Nam lần thứ II 1954-1975.

Hậu quả của 30 năm chiến tranh hết sức tàn khốc mà hơn ai hết, nhân dân Việt Nam

phải gánh chịu:

- 1.100.000 cán bộ và chiến sĩ hy sinh

- 2.000.000 ngƣời dân bị sát hại

- 300.000 ngƣời mất tích trong chiến đấu

- 600.000 thƣơng binh (mới tính những ngƣời đã xếp hạng thƣơng tật và đƣợc hƣởng

trợ cấp)

- 2.000.000 ngƣời bị tàn tật

- 2.000.000 ngƣời bị ảnh hƣởng các chất độc hoá học

- 500.000 trẻ em dị dạng [3, 582-583]

Pháp có 92.000 chết và mất tích, 114.000 bị thƣơng và 28.000 bị bắt làm tù binh [145,

186-187].

Mỹ cũng có 58.193 quân nhân chết và 153.366 bị thƣơng [92, 209]. Hơn thế nữa theo

giáo sƣ Paul Kennedy (thuộc Viện nghiên cứu cao cấp Princeton và Học viện Alexander Von

Humbold), "đây là cuộc chiến tranh mà rõ ràng

201

[lần] đầu tiên Mỹ đã thua. Cuộc chiến tranh đó đã làm tiêu tan những kinh nghiệm thắng trận

trong Chiến tranh thế giới lần thứ II và đã chôn vùi danh tiếng của những tƣớng lĩnh bốn sao

và những trí thức "thông minh nhất và tài giỏi nhất". Cuộc chiến tranh đó gây ra sự rạn vỡ

trong xã hội Mỹ, cộng thêm còn có lạm phát, các cuộc phản đối chƣa từng có của sinh viên,

những sự lộn xộn trong thành phố, tiếp sau là cuộc khủng hoảng Walergate đã làm mất uy tín

tổng thống Mỹ trong một thời gian; nhiều ngƣời còn thấy nó mâu thuẫn cay đắng và mỉa mai

đối với những lời dạy của các bậc cha anh lập nƣớc và đã làm cho Mỹ mất lòng dân chúng

hầu khắp trên địa cầu" [14, 104-105]. Cựu bộ trƣởng Quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara

cũng thừa nhận: "Cuộc chiến tranh đó tàn phá nƣớc Mỹ ghê gớm" cả về kinh tế lẫn về chính

trị: "Nền kinh tế của chúng ta đã bị tàn phá bởi những chi phí cao và bất hợp lý cho cuộc

chiến tranh trong nhiều năm liền và sự thống nhất chính trị của xã hội chúng ta bị tan nát và

hàng thập kỷ sau vẫn không khôi phục đƣợc" [19, 12, 313].

Hai mƣơi năm sau khi chiến tranh kết thúc, McNamara rút ra những bài học từ những

việc làm của các chính phủ Mỹ tại Việt Nam, và phải thốt ra lời thú nhận muộn màng:

"Chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp" [19, 12].

Tuy nhiên, căn cứ thái độ và hành động của Mỹ trong những năm cuối thế kỷ XX -

đầu thế kỷ XXI - nhƣ gây ra các cuộc chiến tranh ác liệt ở vùng Vịnh, ở bán đảo Balkan... và

đang đe dọa mở chiến tranh chống lại Irak, xem ra Mỹ vẫn chƣa rút đƣợc điều gì từ bài học

Việt Nam, tiếp tục tham vọng bành trƣớng thế lực ra toàn thế giới, tiếp tục ý đồ "định hình

mọi dân tộc theo hình ảnh của chính chúng ta hoặc theo hình ảnh mà chúng ta chọn" (nhƣ lời

của McNamara,), chà đạp chủ quyền và quyền tự quyết của các dân tộc khác.

Do đó vẫn không thừa khi nhắc lại lời cảnh báo của Julius Fucik "Loài ngƣời ơi, hãy

cảnh giác!".

202

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

1. Những cuộc tiếp xúc giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với người Mỹ trong những năm

đầu thập niên 40 (tham luận tại Hội thảo khoa học "Chủ tịch Hồ Chí Minh - anh hùng giải

phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá lớn" tại Trƣờng Đại học sƣ phạm Thành phố Hồ Chí

Minh, 31-3-1990).

2. Dấu ấn Điện Biên Phủ trong hồi ký của một tổng thống Mỹ (tham luận tại Hội nghị

khoa học về Chiến thắng Điện Biên Phủ do Trƣờng Đại học sƣ phạm, Hội khoa học lịch sử

và Hội cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 20-4-1995 tại thành phố Hồ Chí

Minh, đăng lại trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử của Viện Sử học Việt Nam, số 3 (274), V-VI.

1994, trang 80-86).

3. 1945-1946: một cơ hội bị bỏ lỡ trong quan hệ Việt - Mỹ (tham luận tại Hội thảo

quốc tế "Việt Nam trong thế kỷ XX" do Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia và

Đại học quốc gia Hà Nội tổ chức tại Hội trƣờng Ba Đình, Hà Nội, từ 19 đến 21-9-2000).

203

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. SÁCH

1.1. Tiếng Việt

1. Amter, Joseph (1985), Lời phán quyết về Việt Nam (bản dịch của Nguyễn Tấn Cƣu),

NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.

2. Nguyễn Thế Anh (1970), Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, NXB Lửa thiêng, Sài Gòn.

3. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975

- Thắng lợi và bài học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Burchett, Wilfred (1985), Hồi k ý , NXB Thông tin lý luận, Hà Nội.

5. Burchett, Wilfred (1986), Tam giác Trung Quốc - Căm-pu-chia - Việt Nam, NXB

Thông tin lý luận, Hà Nội.

6. Chomsky, Noam (1995), Chú Sam thực sự muốn gì, NXB Chính trị quốc gia, Hà

Nội.

7. Lê Văn Dƣơng và nnk (1972),

204

Quân lực Việt Nam cộng hoà trong giai đoạn hình thành 1946-1955, Phòng 5 Bộ tổng

tham mƣu xuất bản, Sài Gòn.

8. Trần Hữu Đính - Lê Trung Dũng (1997), Quan hệ Việt - Mỹ trong Cách mạng tháng Tám,

NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

9. Fichou, Jean-Pierre (1998), Văn minh Hoa Kỳ, NXB Thế Giới, Hà Nội.

10. Foster, William Z. (1962), Lịch sử Đảng cộng sản Mỹ, NXB Sự thật, Hà Nội.

11. Giu-cốp, G.K. (1987), Nhớ lại và suy nghĩ (3 tập), NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.

12. Khổng Doãn Hợi (1985), Đế quốc Mỹ sau Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.

13. Joyaux, Fraňcois (1981),Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dƣơng lần

thứ I - Giơ-ne-vơ 1954, NXB Thông tin lý luận, Hà Nội.

14. Kennedy, Paul (1992), Hưng thịnh và suy vong của các cường quốc, NXB Thông tin lý

luận, Hà Nội.

15. Lê-nin, V.I. (nhiều năm), Toàn tập (nhiều tập),

205

NXB Sự thật, Hà Nội.

16. Lƣu Văn Lợi - Nguyễn Hồng Thạch (2002), Pháp tái chiếm Đông Dương và Chiến tranh

lạnh, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.

17. Hồ Chí Minh (nhiều năm), Toàn tập (10 tập), NXB Sự thật, Hà Nội.

18. Đỗ Mậu (1995), Việt Nam máu lửa, quê hương tôi, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.

19. McNamara, Robert S. (1995), Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt

Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

20. Nhiều tác giả (1986), Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 9-1945 - 7-1954,

NXB Sự thật, Hà Nội.

21. Palmer, Dave R. (1987), Tiếng kèn gọi quân, NXB Thông tiu lý luận, Hà Nội.

22. Đặng Phong (1991), 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam, Viện nghiên cứu khoa học thị

trƣờng - giá cả xuất bản, Hà Nội.

21. Nguyễn Phƣơng (1957), Liên tục giữa Mỹ và Việt Nam, Không ghi nhà và nơi xuất bản.

22. Nguyễn Phƣơng (1957),

206

Sự quan trọng của Đông Dương trước mặt quốc tế, Không ghi nhà và nơi xuất bản.

25. Poole, Peter A. (1986), Nước Mỹ và Đông Dương từ Roosevelt đến Nixon, NXB Thông

tin lý luận, Hà Nội.

26. Lê Văn Quang (2001), Lịch sử quan hệ quốc tế từ 1917 đến 1945, NXB Giáo dục, Hà

Nội.

27. Nguyễn Huy Quý và nnk (1985), Sự thất bại của chủ nghĩa quân phiệt Nhật trong chiến

tranh thế giới thứ hai, NXB Sự thật, Hà Nội.

28. Shechan, Neil (1990), Sự lừa dối hào nhoáng (2 tập), NXB Thành phố Hồ Chí Minh.

29. Vĩnh Sính (1991), Nhật Bản cận đại, NXB Thành phố Hồ Chí Minh.

30. Sử quán triều Nguyễn (nhiều năm), Đại Nam thực lục chính biên (bản dịch - nhiều tập),

Viện sử học xuất bản, Hà Nội.

31. Lê Trọng Tấn và nnk (1985), Bác của chúng ta, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.

32. Nguyễn Anh Thái (1985), Kỷ niệm 40 năm chiến thắng chủ nghĩa phát-xít,

207

NXB Giáo dục, Hà Nội.

33. Nguyễn Anh Thái và nnk (1986), Lịch sử thế giới hiện đại 1945-1975, NXB Giáo dục, Hà

Nội.

34. Đoàn Thêm (1966), Hai mươi năm qua, việc từng ngày 1945-1964, Nam Chi tùng thƣ

xuất bản, Sài Gòn.

35. Nghiêm Kế Tổ (1954), Việt Nam máu lửa, NXB Mai Lĩnh, Sài Gòn.

36. Nguyễn Văn Trung (1963), Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam - Thực chất và huyền

thoại, NXB Nam Sơn, Sài Gòn.

36. Trung tâm từ điển bách khoa quân sự (1996), Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, NXB

Quân đội nhân dân, Hà Nội.

1.2. Tiếng Anh

38. Acheson, Dean (1970), Present at the Creation, NXB The New American Library, New

York.

39. Alen, Douglas - Ngô Vĩnh Long (1991), Coming to Terms - Indochina, the United States

and the War, NXB Westview Press, Colorado.

40. Ambrose, Stephen E. (1991),

208

Rise to Globalism - American Foreign Policy since 1938, NXB Penguin Books, New

York.

41. Ashmore, Harry và William Baggs (1968), Mission to Hanoi, NXB Putnam's, New York.

42. Barber, Hollis W. (1961), The United States in World Affairs 1955, NXB Harper, New

York.

43. Bator, Victor (1965), Vietnam Diplomatic Tragedy - The Origins of the U.S. Involvement,

NXB Dobbs Ferry, New York.

44. Bradley, Mark P. (2000), Imagining Vietnam and America - The Making of Postcolonial

Vietnam 1919-1950, The University of North Carolina xuất bản, North Carolina.

45. Bridgwater, William (chủ biên) (1964), The Columbia - Viking Desk Encyclopedia, NXB

Dell, New York.

46. Buttinger, Joseph (1967), Vietnam: A Dragon Embattled (2 volumes), NXB Praeger, New

York.

47. Charlton, Michael và Anthony Moncrieff (1978), Many Reason Why: The American

Involvement in Vietnam, NXB Hin and Wang, New York.

48. Chen, King C (1969),

209

Vietnam and China 1938- 1945, Princeton University Press xuất bản, New Jersey.

49. Chennault, Claire L. (1949), Way of a Fighter, NXB G.P. Putnam's Sons, New York.

50. Cole, Allan B (ed.) (1956), Conflict in Indochina and International Repercussions -

A Documentary History 1945-1955, Cornell University Press xuất bản, New York.

51. Committee of Concerned Asian Scholars (1970), The Indochina Story, NXB Bantam

Books, New York.

52. Cooper, Chester L. (1970), The Lost Crusade - America in Vietnam, NXB Dood, Mead &

Company, New York.

53. Council on Foreign Relations (1956), The United Stales in World Affairs 1954, NXB

Harper, New York.

54. Davidson, Phillip B. (1988), Vietnam at War, The History 1946-1975, Oxford University

Press, New York - Oxford.

55. Donovan, Robert J. (1956), Eisenhower - The Inside Story, NXB Harper, New York.

56. Drachman, Edward (1970), United States Policy toward Vietnam 1940-1945,

210

Associated University Press xuất bản, New Jersey.

57. Draper, Theodore (1967), Abuse of Power- United States Foreign Policy from Cuba to

Vietnain, NXB The Viking Press, New York;

58. Drummond, Roscoe và Gaston Coblentz (1960), Duel at the Brink, New York.

59. Duiker, William J. (1983), Vietnam, Nation in Revolution, NXB Westview Press,

Colorado.

60. Dulles, John F. (1957), War or Peace, NXB The MacMillan Company, New York.

61. Eden, Anthony (1960), Full Circle, NXB Cassell, London.

62. Effros, William G. (1970), Quotations Vietnam 1945-1970, NXB Random House, New

York.

63. Eggleston, Noel (1977), The Roots of Commitment - Uniled States Policy toward Vietnam

1945-1950, Universily of Georgia xuất bản, Georgia.

64. Eisenhower, Dwight D. (1965), Mandate for Change - The White House Years 1953-

1956, NXB The New American Library, New York.

211

65. Fall, Bernard B. (1966), Vietnam Witness 1953-1956, NXB Praeger, New York.

66. Fifield, Russel (1973), Americans in Southeast Asia - The Roots of Commitment, NXB

Crowell, New York.

67. Foster, William Z. (1951), Outline of Political History of the Americas, NXB

International Publishers, New York.

68. Fleming, D.F. (1961), The Cold War and its Origins, NXB Doubleday, New York.

69. Garden, Lloyd (1988), Approaching Vietnam from World War II through Dienbienphu,

NXB Norton and Company, New York.

70. Garfield, Gene J. (1973), The Genesis of Involvement, Southern Illinois University xuất

bản, Illinois.

71. Gettleman, Marvin E. (ed) (1968), Vietnam, NXB Fawcett Publications, Connecticut.

72. Gibbons, William C. (1984), The U.S. Government and the Vietnam War, part I: 1945-

1961, U.S. Government Printing Office, Washington, D.C.

73. Hammer, Ellen J. (1966), The Struggle for Indochina 1940-1955,

212

Stanford University Press xuất bản, California.

74. Hess, Gary R. (1987), The United States' Emergence as a Southeast Asian Power 1940-

1950, Columbia University Press xuất bản, New York.

75. Historical Division (thuộc Joint Secretariat, Joint Chiefs of Staff) (1971), History of the

Indochina Incident 1940-1954, Washington, D.C.

76. Hixson, Walter L. (2000), The Root.s of the Vietnam War, NXB Garlan, New York.

77. Hofstadter, Richard và nnk (1967), The United States - The History of a Republic, NXB

Prentice-Hall, New Jersey.

78. Hull.Cordell (1948), Memoirs, NXB MacMillan, New York.

79. Iriye, Akira (1967), Across the Pacific: An Inner History of American - East Asian

Relations, NXB Harcourt, Brace and World, New York.

80. Isaacs, Harold (1947), No Peace for Asia, New York.

81. Julien, Claude (1971), America's Empire,

213

NXB Pantheon Books, NewYork.

82. Kahin, George McT. (1986), Intervention - How America Became Involved in Vietnam,

NXB Alfred A. Knopf, New York.

83. Kahin, George McT. va John W. Lewis (1967), The United States in Vietnam, NXB The

Dial Press, New York.

84. Kail, F.M. (1973), What Washington Said - Administration Rhetoric and the Vietnam War

1949-1969. NXB Harper & Row, New York.

85. Kalb, Marvin va Elie Abel (1971), Roots of Involvement - The United States in Asia 1784-

1971, NXB W.W.Norton & Company, New York.

86. Karnow, Stanley (1987), Vietnam, A History, NXB Penguin Bokks, New York.

87. Kennedy, John F. (1960), The Strategy of Peace, NXB Harper & Row, New York.

88. Kennedy, John F. (1962), To Turn the Tide, NXB Harper & Row, New York.

89. Kimball, Jeffrey P. (1990), To Reason Why: The Debate about the Causes of U.S.

Involvement in the Vietnam War,

214

NXB McGraw-Hill, New York.

90. Lacouture, Jean (1968), Hô Chi Minh, A Political Biography (bản dịch của Peter Wiles),

NXB Vinlage Books, New York.

91. Lansdale, Edward G. (1972), In the Midst of Wars - An American's Mission to Southeast

Asia, NXB Harper & Row, New York.

92. Leahy, William D. (1950), I was there, NXB McGrawHill, New York.

9.3. Lens, Sydney (1970), The Military-Industrial Complex, NXB Pilgrim Press,

Philadelphia.

94. Maclear, Michael (1984), Vietnam - The Ten Thousand Day War, NXB Thames Methuen,

London.

95. McGeveran Jr., William A. (2002), The World Almanac and Book of Facts 2002, NXB

World Almanac Books, New York.

96. McCann, Kevin (1952), Man from Abilene, NXB Double Day, New York.

97. McNamara, Robert S. và nnk (1999), Argument without End - In Search of Answers to the

Vietnam Tragedy, NXB Public Affairs, New York.

98. Mallin, Jay (1965),

215

Fortress Cuba, NXB Regnery, Chicago.

99. Miller, Robert H. (1990), The United States and Vietnam 1787-1941, National Defense

University Press xuất bản, Washington, D.C.

100. Morris, Richard B. (1953), Encyclopedia of American History, NXB Harper, New York.

101. Nhiều tác giả (1971), The Pentagon Papers (ấn bản của The New York Times), NXB

Bantam Books, New York.

102. Nhiều tác giả (1971), The Pentagon Papers (ấn bản của thƣợng nghị sĩ Gravel) (4

volumes), NXB Beacon Press, Boston.

103. Nhiều tác giả (1988), The Lesson of the Vietnam War, Center for Social Studies

Education xuất bản, Pennsylvania.

104. Nixon, Richard M. (1986), No more Vietnams, NXB Avon, New York.

105. Patti, Archimedes L.A. (1980), Why Vietnam?- Prelude to America's Albatross,

University of California Press, Berkeley.

106. Podhoretz, Norman (1982), Why we were in Vietnam, NXB Simon & Schuster, New

York.

216

107. Rosenman, Samuel I. (1950), The Public Papers and Addresses of Franklin D.

Roosevelt: Victory and the Threshold of Peace, NXB Harper & Bros., New York.

108. Rotter, Andrew J. (1987), The Path to Vietnam: Origins of the American Commitment to

the Southeast Asia, Cornell University Press xuất bản, New York.

109. Roy, Jules (1966), The Battle of Dienbienphu (bản dịch của Robert Baldick), NXB

Pyramid Books, New York.

110. Scheer, Robert (1965), How the United States Got Involved in Vietnam, Center for the

Study of Democratic Institutions xuất bản, California.

111. Schlesinger Jr., Arthur M. (1967), A Thousand Days - John F. Kennedy in the White

House, NXB Fawcetrt Publications, Connecticut.

112. Shaplen, Robert (1966), The Lost Revolution - The United States in Vietnam 1946-1966,

NXB Harper & Row, New York.

113. Shigenori, Togo (1956), The Cause of Japan, NXB Simon & Schuster, New York.

114. Snyder, Louis L . ( 1955), Fifty Major Documents of the Twentieth Century, NXB Van

Nostrand, New Jersey.

217

115. Spector, Ronald H. (1983), United States Army in Vietnam: Advice and Support - The

Early Years 1941-1960, Center of Military History (U.S. Army) xuất bản,

Washington, D.C.

116. Tonnesson, Stein (1991), The Vietnamese Revolution of 1945 - Roosevelt, Hô Chi Minh

and de Gaulle in a World at War, International Peace Research Institude, Oslo.

117. Truman, Harry S. (1956), Memoirs (2 vols), NXB The New American Library, New

York.

118. U.S. Department of Defense (1971), United States - Vietnam Relations 1945-1967,

Government Printing Office ấn hành, Washington, D.C.

119. U.S. Department of State (1970), Foreign Relations of the United States, Government

Printing Office ấn hành, Washington, D.C.

120. U.S. Government (1958), Public Papers of the Presidents of the U.S. - Dwight D.

Eisenhower, 1954, Government Printing Office ấn hành, Washington, D.C.

121. U.S. Senate Committee on Foreign Relations (1978), Executive Sessions of the Senate

Foreign Relations Committee, Historical Series (VIII, 1956), Washington, D.C.

122. Wade, Richard C. và nnk (1966), A History of the United States,

218

NXB Houghton Mifflin, Boston.

123. Wallace, Henry A. (1948), Toward World Peace, NXB Reynal & Hitchcock, New York.

124. Werner, Jayne S. va Luu Doan Huynh (eds) (1993), The Vietnam War, NXB M.E.

Sharpe, New York.

125. White, John (1823), History of a Voyage to the China Sea, NXB Wells and Lilly,

Boston.

126. Williams, William A. (1954), The Tragedy of American Diplomacy, NXB World

Publishing Company, Cleveland.

127. Williams, William A. va nnk (1985), America in Vietnam, NXB Anchor Press /

Doubleday, New York.

128. Yakovlev, Alexander (1985), On the Edge of an Abyss, NXB Progress, Moscow.

1.3. Tiếng Pháp

129. Argenlieu, Thierry d' (1985), Chronique d' Indochina 1945-1947, NXB Albin Michel.

130. Artaud, Denise và Lawrence Kaplan (eds) (1989),

219

Diên Biên Phu - L'Alliance atlantique et la défense du Sud-est Asiatique, NXB La

Manufacture, Paris.

131. Berstein, Serge va Pierre Milza (1991), Histoire de la France au XXè siècle (3 tomes),

NXB Complexe, Paris.

132. Colleoni, Angelo (1988), Histoire sominaire des agressions des Etats Unis, Thông tấn

xã Orbis xuất bản, Prague.

133. Commission d'enquête de la République démocratique du Viêt Nam sur les crimes de

guerre des impérialistes américains au Viêt Nam (1968), Chronologic des faits et

Documents relatis à 1'agression américaine au Viêt Nam (tome I: 1941-1966),

Association d'amitié Franco - Viêtnamienne xuất bản, Paris.

134. Devillers, Philippe (1952), Histoire du Vietnam de 1940 à 1952, NXB Seuil, Paris.

135. Devillers, Philippe và Jean Lacouture (1969), Vietnam de la guerre française à la guerre

américaine, NXB Seuil, Paris.

136. Fall, Bernard B. (1962), Indochine 1946-1962 - Chronique d'une guerre révolutionnaire,

NXB Robert Laffont, Paris.

137. Fall, Bernard B. (1967), Les deux Vietnam,

220

NXB Payot, Paris.

138. Gaulle, Charles de (1959), Mémoires de guerre (3 tomes), NXB Plon, Paris.

139. Hémery, Daniel (1990), Hô Chi Minh de l' Indochina au Vietnam, NXB Gallimard,

Paris.

140. Karnow, Stanley (1984), Vietnam (bản dịch của Jacques Martinache), NXB Presses de la

Cité, Paris.

141. Thái Văn Kiểm (1956), Vietnam d'hier et d'aujourd' hiu, NXB Commercial Transworld

Editions, Tanger.

142. Nguyễn Kiên (1963), Le Sud-Vietnam depuis Dien Bien Phu, NXB Francois Maspero,

Paris.

143. Lacouture, Jean (1981), Pierre-Mendès France, NXB Seuil, Paris.

144. Lacouture, Jean và Philippe Devillers (1960), La Fin d'une guerre - Indochine 1954,

NXB Seuil, Paris.

145. Laniel, Joseph (1957), Le Drame Indochinois: de Dien Bien Phu au pari de Genève,

NXB Plon, Paris.

146. Manfred, A. (chủ biên) (1980),

221

Hisloire de la France (3 tomes), NXB Progrès, Moscou.

147. Navarre, Henri (1957), Agonie de l' Indoclune, NXB Plon. Paris.

148. Roosevelt, Elliott (1947), Mon père m'a dit (bản dịch của Nathalie Gara), NXB

Flammarion, Paris.

149. Rouanet, Pierre (1965), Mendès France au pouvoir, NXB Laffout, Paris.

150. Ruscio, Alain (1985), Les Communistes français et la guerre d'Indochine 1944-1954,

NXB L'Harmattan, Paris.

151. Sainteny, Jean (1953), Hisloire d'une paix manquée, NXB Amiot - Dumonl, Paris.

152. Saurel, Louis (1966), La guerre d' Indoclune, NXB Rouff, Paris.

153. Taboulet, Georges (1955), La geste français en Indochine, NXB Adrien - Maisonneuve,

Paris.

154. Tournoux, Jean - Raymond (1960), Secrets d' État, NXB Plon, Paris.

222

2. BÀI TRONG TẠP CHÍ, TRONG SÁCH

2.1. Tiếng Việt

155. Brigham, Robert K. (1993), "Những đồng minh thận trọng: Mặt trận Việt Minh - ngƣời

Mỹ và Cách mạng tháng Tám", Nghiên cứu lịch sử, (4 [269]), tr. 74-76.

156. Nguyễn Kim Dung (1996), "Quan hệ Việt - Mỹ qua hoạt động của OSS và SO ở Việt

Nam năm 1945", Lịch sử Đảng, (8), tr. 15-18.

157. Phan Ngọc Liên và Trịnh Vƣơng Hồng (1972), "Lịch sử nƣớc Mỹ trong tác phẩm của

Hồ Chủ tịch", Nghiên cứu lịch sử, (144), tr. 24-35.

158. Phan Ngọc Liên và Trịnh Vƣơng Hồng (1994), "Quan hệ Việt - Mỹ trong những năm

1945-1954", Nghiên cứu lịch sử, (2 [273]), tr. 29-35.

159. Huỳnh Lứa (1963), "Quá trình xâm nhập của đế quốc Mỹ vào nƣớc ta từ giữa thế kỷ

XIX đến năm 1954", Nghiên cứu lịch sử, (46), tr. 30-42,48.

160. Huỳnh Lứa (1965), "Vài nét về quá trình xâm lƣợc của đế quốc Mỹ ở Viễn Đông và

Đông Nam Á",

223

Nghiên cứu lịch sử, (70), tr. 21-37.

161. Nguyễn Huy Quý (1985), "Chủ nghĩa đế quốc Mỹ và cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai",

Nghiên cứu lịch sử, (3 [222]), tr. 22-28.

162. Võ Việt Quốc (1972), "Diễn tiến cuộc xây dựng và phát triển chính sách thực dân mới

của Mỹ tại Việt Nam từ 1941 đến 1954" (bản dịch của Linh Sơn và Hồng Việt), Đối

Diện, (26), tr. 1-38.

163. Shinjiro, Nagaoka (1999), "Ngƣời Việt Nam ở Nhật Bản" (bản dịch của Shiraishi

Masaya và Hoàng Ngọc Biên), Nghiên cứu Huế, (1), tr". 38-53.

164. Nguyễn Thành (1986), "Quá trình can thiệp của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lƣợc

của thực dân Pháp ở Đông Dƣơng và đối sách của Đảng ta", Lịch sử quân sự, (12), tr.

14-18.

165. Phạm Xanh (1988), "Đông Dƣơng lọt vào mắt xanh của đế quốc Mỹ từ bao giờ?", Lịch

sử quân sự, (1 [25]), tr. 25-30.

166. Cứu Quốc, 25-7-1950.

167. Nghiên cứu lịch sử, (1 [214]), 1984.

168. Bản tin Thông tấn xã (Sài Gòn), 23-3-1955.

224

2.2. Tiếng Anh

169. Bullitt, William C. (1947), "The Saddest War", Life, XXIII(26), tr. 64-69.

170. Burchett, Wilfred (1970), "Pawns and Patriots - The U.S. Fight for Laos", Laos: War

and Revolution (nhiều tác giả), NXB Harper & Row, New York.

171. Fall, Bernard B. (1964), "Dienbienphu: A Battle to Remember", The New York Times

Magazine, 3-5-1964, tr. 35-42.

172. Fall, Bernard B. (1965), "How the French Got Out of Vietnam", The New York Times

Magazine, 2-5-1965, tr. 22-24.

173. Fall, Bernard B. (1967), "U.S. Policies in Indochina 1940-1960", Last Reflection on a

War, NXB Doubleday & Company, New York, tr. 118-148.

174. Hammer, Ellen J. (1951), "Indochina", The State of Asia: A Contemporary Survey (nhiều

tác giả), NXB Alfred A. Knopf, New York, tr. 240-267.

175. House of Commons, Parliamentary Debates, 5th Serie, Vol 529, 23-6-1954, Cols 434-

435.

225

176. House of Commons, Parliamentary Debates, 5th Serie, Vol 530, 23-7-1954, Cols 43-44.

177. Kennan, George K. (1947), "The Sources of Soviet Conduct", Foreign Affairs, (7), tr.

32-35.

178. Krotkov, Boris (1988), "Two Policies", Sputnik, (1), tr. 84-86.

179. LaFeber, Walter (1975), "Roosevelt, Churchill and Indochina 1942-1945" The American

Historical Review, (80), tr. 115-117.

180. Roberts, Chalmers M. (1954), "The Day We Didn't Go to War", The Reporter, (31), tr.

31-35.

181. Sbrega, John J. (1980), "The United Slates, France and Indochina 1940-1945", French

Colonial Historical Society Proceedings, (5), tr. 100-107.

182. Scott, Peter Dale (1970), "Air America: Flying the United States into Laos", Laos: War

and Revolution (nhiều tác giả), NXB Harper & Row, New York.

183. Department of Slate Bulletin, 18-7-1949.

184. Department of Slate Bulletin, 13-2-1950.

185. Department of State Bulletin, 22-5-1950.

186. Department of State Bulletin, 30-6-1952.

226

187. Department of State Bulletin , 27-7-1953.

188. Department of State Bulletin, 4-1-1954.

189. Department of State Bulletin, 12-4-1954.

190. Department of State Bulletin, 2-8-1954.

191. Department of State Bulletin, 11-6-1956.

192. Eastern World, 11-1955.

193. New York Herald Tribune, 10-3-1947.

194. New York Times, 25-1-1949.

195. New York Times, 9-3-1950.

196. New York Times, 21 -1 -1953.

197. New York Times, 5-11-1953.

198. New York Times, 5-2-1954.

199. New York Times, 10-4-1954.

200. New York Times, 17-4-1954.

201. New York Times, 17-3-1955.

202. Time, 12-9-1969.

2.3. TiếngPháp

203. Bernard B.Fall (1955), "La politique américaine au Vietnam", Chronique de politique

étrangère, XX(3), tr. 299-322.

204. France Observateur, 8-8-1957.

205. Journal de Saigon, 25-8-1947.

206. Le Monde, 30-5-1954.

207. Paris Presse, 6-2-1956.

227

PHỤ LỤC

1. MỘT SỐ TƢ LIỆU GỐC

2. MỘT SỐ HÌNH ẢNH

3. TIỂU LUẬN: VỀ VIỆN TRỢ CỦA MỸ CHO PHÁP TRONG THỜI KỲ 1945-

1954

228

1. MỘT SỐ TƯ LIỆU GỐC

Giác thư ngày 24-1-1944 của Franklin D. Roosevelt gửi ngoại trưởng Cordell

Hull.

Tôi gặp Halifax(*) tuần qua và nói với ông ta một cách hoàn toàn thẳng thắn rằng thật

sự trong hơn một năm qua, tôi đã bày tỏ ý định rằng Đông Dƣơng sẽ không bị giao lại cho

Pháp và sẽ đƣợc cai trị bằng một sự uỷ trị quốc tế (...)

Tôi thấy không có lý do nào để bàn bạc với Bộ ngoại giao Anh trong vấn đề này. Lý

do duy nhất mà họ có vẻ chống đối lại điều đó là họ sợ hậu quả có thể có đối với những thuộc

địa của chính họ và của Hà Lan. Họ không bao giờ thích ý nghĩ về uỷ trị bởi vì, trong một số

trƣờng hợp, uỷ trị nhằm tới độc lập trong tƣơng lai. Điều đó là có thật trong trƣờng hợp Đông

Dƣơng.

Nguồn: Bộ ngoại giao Mỹ, Foreign Relations of the United Stales 1944, Government

(*) Lord Halifax, đại sứ Anh tại Mỹ

Printing Office, Washington, D.C., 1965, tập III, tr. 773

229

Tuyên bố của Franklin D. Roosevelt trong cuộc họp báo ngày 23-2-1945.

Trong hai năm trời nay tôi bận tâm kinh khủng về Đông Dƣơng (...). Ngƣời Đông

Dƣơng không giống ngƣời Trung Hoa (...) sẽ cần một thời gian dài để dạy cho họ tự quản trị

lấy họ (...). Với ngƣời Đông Dƣơng, có cảm tƣởng rằng họ phải đƣợc độc lập, nhƣng họ

không sẵn sàng đƣợc nhƣ vậy. Lúc đó, tôi gợi ý với Tƣởng [Giới Thạch] rằng Đông Dƣơng

phải đƣợc đặt dƣới chế độ uỷ trị (...) để dạy cho họ tự quản trị lấy họ. Chúng ta cần tới năm

mƣơi năm để làm việc đó ở Philippines.

(...) Trung Hoa thích ý kiến đó. Ngƣời Anh lại không thích ý kiến đó. Y kiến đó có

thể làm phá sản đế quốc của họ, bởi vì nếu ngƣời Đông Dƣơng hợp tác với nhau và đạt đƣợc

độc lập thì ngƣời Miến Điện cũng có thể làm nhƣ vậy đối với Anh. Ngƣời Pháp đã nói về

việc họ mong muốn chiếm lại Đông Dƣơng, nhƣng họ không có tàu bè để làm đƣợc điều đó

(...)

Nguồn: William A. Williains và nnk (biên tập), America in Vietnam - A Documentary

History, NXB Anchor Press / Doubleday, New York, 1985.

230

Ghi chép của Charles Taussig(*) về buổi hội đàm ngày 15-3-1945 với Franklin D.

Roosevelt.

Tôi hỏi tổng thống rằng ông có thay đổi ý kiến hay không về Đông Dƣơng thuộc Pháp

khi ông phát biểu với chúng tôi tại bữa ăn trƣa với Slanley(**) (...). Ông do dự một lát rồi nói:

nếu chúng ta có thể có đƣợc lời cam kết từ phía Pháp rằng họ đảm nhận các nghĩa vụ của uỷ

trị, tôi sẽ đồng ý cho Pháp giữ các thuộc địa này với điều kiện độc lập sẽ là mục tiêu cuối

cùng.

Nguồn: Bộ ngoại giao Mỹ, Foreign Relations of the United States 1945, Government

Printing Office, Washington, D.C., 1967, tập I, tr. 124.

(*) Charles Taussig, cố vấn về những vấn dồ Caribbean (**) Đại lá Oliver Slanlcy, bộ trƣởng Bộ thuộc địa của Anh. 16-1-1945

231

Điện ngày 8-5-1945 của ngoại trưởng Edward R. Stettinius, Jr.

Vấn đề Đông Dƣơng đƣợc bàn đến trong buổi hội đàm mới đây giữa tôi với Bidault(*)

và Bonnet(**). Ông Bonnet lƣu ý rằng mặc dù chính phủ Pháp hiểu tuyên bố năm 1942 của

ông Welles(***) liên quan tới việc lập lại chủ quyền của Pháp tại Đế quốc Pháp là bao gồm cả

Đông Dƣơng, nhƣng báo chí cứ tiếp tục hàm ý rằng một quan hệ đặc biệt sẽ dành cho thuộc

địa này. Đã nói rõ với Bidault rằng hoàn toàn không có tuyên bố chính thức nào của chính

phủ này đặt thành vấn đề - ngay cả bằng cách ngụ ý - chủ quyền của Pháp đối với Đông

Dƣơng. Bidault có vẻ an tâm và chắc chắn đã đánh điện cho Paris rằng ông ta đã nhận đƣợc

lời đảm bảo mới về việc chúng ta công nhận chủ quyền của Pháp đối với khu vực đó.

Nguồn: Bộ ngoại giao Mỹ, Foreign Relations of the United States 1949, Government

(*) Georges Bidaull, ngoại trƣởng Pháp (**) Henri Bonnet, đại sứ Pháp tại Mỹ (***) Trong thƣ ngày 13-4-1942 gửi đại sứ Pháp Gaston Henry-Haye, quyền ngoại trƣởng Mỹ Sumner Welles viết: "Chính phủ Mỹ công nhận chủ quyền pháp lý của nhân dân Pháp đối với lãnh thổ Pháp và các thuộc địa của Pháp ở hải ngoại".

Printing Office, Washington, D.C., 1967, tập VI, tr. 307.

232

Điện số 657 ngày 30-8-1945 của ngoại trưởng Mỹ Jumes F. Byrnes gửi Max W.

Bishop, thư ký của Uỷ ban Mỹ tại New Delhi, Ấn Độ.

Mỹ không có ý phản đối việc Pháp lập lại sự kiểm soát của họ ở Đông Dƣơng và

không có tuyên bố chính thức nào của chính phủ Mỹ đặt thành vấn đề - ngay cả bằng cách

ngụ ý - chủ quyền của Pháp ở Đông Dƣơng (...)

Nguồn: Allan W. Cameron (biên tập), Viet-Nam Crisis - A Documentary History,

Cornell Press, Ithaca, 1971, tập I, tr. 51.

233

Diễn văn ngày 27-6-1950 của Harry S. Truman

(...) Cuộc tấn công Triều Tiên khiến cho rõ ràng không còn nghi ngờ gì nữa rằng

Cộng sản đã vƣợt qua việc dùng lật đổ để chinh phục các nƣớc độc lập và nay dùng xâm lăng

vũ trang và chiến tranh. Họ đã thách thức các mệnh lệnh mà Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc

đƣa ra để bảo đảm hoà bình và an ninh quốc tế. Trong trƣờng hợp đó việc các lực lƣợng Cộng

sản chiếm Đài Loan sẽ là một đe doạ trực tiếp đến an ninh của vùng Thái Bình Dƣơng và đến

lực lƣợng Mỹ đang thi hành những chức năng hợp pháp và cần thiết ở vùng đó.

Vì vậy tôi đã ra lệnh cho hạm đội số 7 ngăn ngừa mọi cuộc tấn công Đài Loan (...).

Tôi cũng chỉ thị củng cố lực lƣợng Mỹ ở Philippines và tăng nhanh hơn viện trợ quân

sự cho chính phủ Philippines.

Tƣơng tự tôi đã chỉ thị đẩy nhanh việc cung cấp viện trợ quân sự cho lực lƣợng của

Pháp và Các quốc gia liên kết ở Đông Dƣơng và gửi một phái bộ quân sự [sang Đông Dƣơng]

để có những liên lạc công tác mật thiết với những lực lƣợng này.

Nguồn: Allan B. Cole (biên lập), Conflict in Indochina and Intemational

Repercussions - A Documentary History 1945-1955, Comell University Press xuất bản, New

York, 1956.

234

Thư đề ngày 4-4-1954 của Dwight D. Eisenhower gửi thủ tướng Anh Winston

Churchill.

Tôi tin chắc rằng ngài đang theo dõi với mối quan tâm và lo lắng sâu sắc những báo

cáo hàng ngày về cuộc chiến đấu dũng cảm mà ngƣời Pháp đang tiến hành ở Điện Biên Phủ.

Hôm nay tình hình ở đó chƣa có vẻ tuyệt vọng.

Nhƣng bất chấp kết quả của trận đánh đặc biệt đó, tôi e rằng ngƣời Pháp không thể

một mình thấy rõ bản chất của sự việc, mặc dù chúng tôi đã cho họ một sự giúp đỡ rất quan

trọng về tiền bạc và chiến cụ. Chỉ yêu cầu họ tăng cƣờng nỗ lực không thôi thì không giải

quyết đƣợc vấn đề. Nếu họ không thấy rõ bản chất của sự việc và Đông Dƣơng rơi vào tay

của Cộng sản thì hậu quả cuối cùng đối với thế chiến lƣợc toàn cầu của chúng tôi và của các

ngài với sự thay đổi từ đó trong tƣơng quan quyền lực của châu Á và Thái Bình Dƣơng có thể

là thảm khốc và, tôi biết, ngài và tôi không thể chấp nhận... Điều đó dẫn chúng tôi đến kết

luận rõ ràng rằng tình hình ở Đông Nam Á đòi hỏi chúng tôi phải khẩn trƣơng có những

quyết định nghiêm trọng và có ảnh hƣởng sâu rộng.

Chƣa đầy bốn tuần nữa thì đến [Hội nghị] Genève. Căn cứ vào tâm trạng ở Pháp thì ở

Genève Cộng sản có khả năng chia rẽ chúng ta lớn hơn rất nhiều so với ở Berlin. Tôi có thể

hiểu đƣợc khát vọng rất tự nhiên của ngƣời Pháp là tìm cách kết thúc cuộc chiến tranh này,

cuộc chiến mà đã làm cho họ phải đổ máu trong tám năm. Nhƣng việc tìm lối thoát khỏi thế

bế tắc này buộc chúng ta phải đi đến kết luận rằng không có giải pháp đàm phán nào cho vấn

đề Đông Dƣơng mà trong bản chất lại không phải là một cách giữ thể diện nhằm che đậy sự

đầu hàng của Pháp hay sự rút lui của Cộng sản. Khả năng thứ nhất quá nghiêm trọng trong

các mối quan hệ chiến lƣợc rộng rãi của nó nên chúng tôi không thể chấp nhận đƣợc.

235

Bằng cách nào đó chúng ta phải tính toán để dẫn lới khả năng thứ hai. Những dòng

suy nghĩ sơ khởi của chúng tôi đƣợc [John] Fosler [Dulles] phác thảo trong bài diễn văn của

ông ấy vào tối thứ hai vừa qua [29-3-1954] khi ông ấy nói rằng trong những điều kiện hiện

nay việc áp đặt hệ thống chính trị của Nga Cộng và đồng minh Trung Cộng của họ lên Đông

Nam Á bằng bất cứ phƣơng tiện nào cũng sẽ là một mối đe doa nghiêm trọng đối với toàn bộ

cộng đồng tự do, và rằng, theo quan điểm của chúng tôi, khả năng này cần phải đƣợc đáp ứng

bằng hành động thống nhất (united action) chứ không phải đƣợc chấp nhận một cách thụ

động ...

Tôi tin rằng cách tốt nhất để làm cho khái niệm này thực sự có giá trị và mang lại

nguồn yểm trợ lớn hơn về tinh thần và vật chất cho nỗ lực của Pháp là thông qua việc thiết

lập một nhóm hay một liên minh mới, đặc biệt, bao gồm các quốc gia có quan tâm sống còn

đến việc ngăn chặn sự bành trƣớng của Cộng sản ở khu vực này. Tôi nghĩ rằng, ngoài hai

nƣớc chúng la, còn có Pháp, Các quốc gia liên kết, Australia, New Zealand, Thái Lan,

Philippines. Chính phủ Mỹ mong muốn sẽ làm tròn phần việc của mình trong một liên minh

nhƣ thế ...

Điều quan trọng là liên minh phải mạnh và phải sẵn lòng tham gia chiến đấu khi cần.

Tôi không dự tính cần có lực lƣợng trên bộ đáng kể về phía các ngài cũng nhƣ về phía chúng

tôi.

Cho tôi nhắc lại lịch sử: chúng ta đã không thể ngăn chặn Hirohilo, Mussolini và

Hiller vì đã không hành dộng một cách đoàn kết nhất trí và đúng lúc. Điều đó đánh dấu sự bắt

đầu của nhiều năm bi kịch nặng nề và thảm họa tuyệt vọng. Chẳng lẽ các nƣớc chúng ta

chẳng học đƣợc điều gì từ bài học đó sao?...

Trân trọng.

236

Ike.

Nguồn: Dwight D. Eienhower, The White House Years: Mandate for Change, N X B

The New American Library, New York, 1965, tr. 419-420.

237

2. MỘT SỐ HÌNH ẢNH

H.l. History o f a Voyage to the China Sea của John White (1823) là cuốn sách đầu tiên giới

thiệu khá đầy đủ Việt Nam với công chúng Mỹ.

H.2. Andrew Jackson là tổng thống đầu tiên của Mỹ muốn thiết lập quan hệ chính thức giữa

Mỹ với Việt Nam, ba lần gửi các phái bộ sang Việt Nam (vào các năm 1831, 1832 và

1836).

H.3. Thƣ đề ngày 31-1-1832 của Andrew Jackson gửi Vua Việt Nam.

H.4. Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 86, trang 1, ghi chép sự kiện phái bộ Mỹ

đến Việt Nam năm 1832.

H.5. Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 168, trang 3, ghi chép sự kiện phái bộ

Mỹ đến Việt Nam năm 1836.

H.6. Franklin D. Roosevelt: "Trong hai năm trời nay, tôi ưu tư khủng khiếp về Đông Dương".

H.7. Roosevelt thảo luận với ngoại trƣởng Cordell Hull.

H.8. Hai tƣớng Mỹ trên đất Trung Hoa: tƣớng Alberl C. Wedemeyer (bên phải), cố vấn quân

sự của Tƣởng Giới Thạch, và tƣớng Claire L. Chennault, tƣ lệnh Lực lƣợng không

quân số 14.

H.9. Tại hội nghị Cairo (Ai Cập) tháng 11-1943, Roosevelt trao đổi với Tƣởng Giới Thạch về

vấn đề Việt Nam (hàng đầu từ trái sang phải: Tƣởng Giới Thạch, Roosevelt, Churchill

và Tống Mỹ Linh, vợ của Tƣởng Giới Thạch).

H.10. Tƣởng Giới Thạch và tƣớng Mỹ Claire L. Chennault. H . l l . Harry S. Truman: "Chính

phủ tôi không phản đối việc chính quyền và quân đội Pháp quay trở lại [Đông

Dƣơng]...".

H.12. Truman thảo luận với ngoại trƣởng James F. Byrnes.

238

H.13-14. Hai trong số những thƣ và điện của chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Truman

H.15. Tƣớng Douglas MacArthur: "[Pháp] hãy mang quân sang [Việt Nam], mang thêm

nhiều hơn nữa... " .

H.16. Truman (bên trái) thảo luận với thủ tƣớng Pháp René Pleven về Việt Nam. Đứng sau

Truman là bộ trƣởng ngoại giao Dean Acheson và bộ trƣởng quốc phòng George

Marshall.

H.17. Tƣớng J. Lawton Collins, tham mƣu trƣởng lục quân Mỹ, đƣợc gửi sang Việt Nam

(tháng 10-1951) và đƣợc tƣớng de Lathe, tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dƣơng,

đón. Nghị sĩ John F. Kennedy có mặt ở hàng cuối.

H.18. Dean Acheson: Hồ Chí Minh là "kẻ tử thù của nền độc lập bản xứ ở Đông Dương" .

H. 19. Nhân dân Sài Gòn xuống đƣờng chống sự can thiệp của Mỹ (19-3-1950)

H.20. Dwight D. Eisenhower: "Tầm quan trọng chiến lược của Đông Dương là rõ ràng".

H.21. Eisenhower thảo luận với ngoại trƣởng John F. Dulles.

H.22. Hai trợ lý thân thiết của Eisenhower: phó tổng thống Richard M. Nixon và ngoại

trƣởng Dulles.

H.23. Dulles thảo luận với nguyên thủ tƣớng Pháp Antoine Pinay và đại sứ Pháp tại Mỹ

Henri Bonnel.

H.24. Nixon là nhân vật cao cấp nhất của chính phủ Mỹ sang Việt Nam, đƣợc tƣớng René

Cogny tiếp.

H.25. Tƣớng John O'Daniel, thủ trƣởng MAAG, đƣợc đại tá de Castries đƣa đi thăm tập đoàn

cứ điểm Điện Biên Phủ.

239

H.26. Súng đạn của Mỹ viện trợ cho Pháp đƣợc bốc dỡ tại sân bay Cái Bi (Hải Phòng).

H.27. Máy bay Mỹ chở lính Pháp đến sân bay Tân Sơn Nhất (Sài Gòn).

H.28. Lính cơ khí Mỹ đang sửa chữa máy bay C.47 cho Pháp.

H.29. Đô đốc Arthur W. Radford, tác giả kế hoạch "Cuộc hành quân Chim kên kên " .

H.30. Theo kế hoạch "Cuộc hành quân Chim kên kên", 60 máy bay B.29 của Mỹ sẽ ném hàng

nghìn tấn bom xuống các vị trí của Việt Minh ở Điện Biên Phủ.

H.31. Theo kế hoạch "Cuộc hành quân Chim kên kên", hai tàu sân bay Boxer và Essex tiến

vào vịnh Bắc Bộ.

H.32. Tƣớng Mallhew B. Ridgway, tham mƣu trƣởng Lục quân Mỹ, không tin ở sự thành

công của kế hoạch "Cuộc hành quân Chim kên kên" .

H.33. Hai thƣợng nghị sĩ William F. Knowland và Lyndon B. Johnson, thủ lĩnh của hai đảng

Cộng hoà và Dân chủ ở thƣợng viện Mỹ, thảo luận về việc Mỹ can thiệp quân sự trực

tiếp vào Việt Nam (03-4-1954).

H.34. Ngày 05-5-1954, Dulles rời Genève (Thụy Sĩ), tẩy chay hội nghị về Đông Dƣơng sắp

khai mạc. H.35. Tƣớng Walter B. Smith, trƣởng đoàn đại biểu chính phủ Mỹ tại Hội

nghị Genève, thảo luận với Georges Bidault (Pháp) và Anthony Eden (Anh).

H.36-37. Đằng sau "lá bài Bảo Đại" (1949) và "lá bài Ngô Đình Diệm" (1954), đều có bàn

tay của Mỹ.

H.38-39. Những ngƣời tạo ra "lá bài Ngô Đình Diệm": Eisenhower và Dulles.

240

H.40-41-42-43. Những ngƣời đỡ đầu Ngô Đình Diệm trong 5 năm lƣu vong trên đất Mỹ:

hồng y Francis Spellman, chánh án William O. Douglas, thƣợng nghị sĩ John F.

Kennedy và thƣợng nghị sĩ Mike Mansfield.

H.44. Tƣớng J. Lawton Collins đƣợc cử sang Sài Gòn làm đặc sứ để đẩy nhanh việc loại

Pháp ra khỏi Miền Nam Việt Nam.

H.45. Collins thảo luận với Ngô Đình Diệm về việc thay thế ảnh hƣởng của Pháp bằng ảnh

hƣởng của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam.

H.46. Từ đầu năm 1955, cố vấn Mỹ bắt dầu huấn luyện sĩ quan cho Ngô Đình Diệm.

H.47-48. Vây quanh Ngô Đình Diệm là các viên chức, tƣớng tá và cố vấn Mỹ (trong đó có

tƣớng John O'Daniel, đại sứ Frederick Reinhard và đại tá Edward Lansdale).

H. 49. Tháng 9-1954, Dulles (bìa phải) cùng đại diện 7 chính phủ đồng minh của Mỹ đến

Manila (Philippines) thành lập SEATO.

241

3. TIỂU LUẬN:

Về viện trợ của Mỹ cho Pháp trong thời kỳ 1945-1954.

Trả lời các nhà báo về việc Mỹ can thiệp vào Đông Dƣơng, chủ tịch Hồ Chí Minh

nói: "Lâu nay thực dân Pháp làm chiến tranh ở Việt Nam, Miên và Ai Lao là nhờ tiền bạc,

súng đạn Mỹ" [166].

Bốn mƣơi lăm năm sau, nguyên bộ trƣởng Quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara xác

nhận điều đó: "Thực tế là trong một thập kỷ sau đó (sau khi Thế chiến thứ II kết thúc], chúng

ta [tức Mỹ] đã phải bao cấp cho những hoạt động quân sự của Pháp chống lại các lực lƣợng

của ông Hồ" [19, 43].

Số tiền mà Mỹ đã viện trợ cho Pháp là bao nhiêu? Cho đến nay các nguồn tƣ liệu -

của Mỹ, của Pháp và của Việt Nam - không thống nhất với nhau. Chẳng hạn, khoản tiền mà

Mỹ viện trợ cho Pháp ở Đông Dƣơng trong năm cuối cùng của cuộc chiến (1954) là:

- 815 triệu đô-la theo Joseph Bultinger [46, II, 808].

- 905 triệu đô-la theo Fraňcois Joyaux [13, 99].

- 1 tỉ đô-la theo các tác giả cuốn The Indochina Story [51, 23].

- 1,063 tỉ đô-la theo các tác giả Tài liệu Lầu Năm Góc [98, I, 77].

- 1,1 tỉ đô-la theo các tác giả Tài liệu Lầu Năm Góc [97, 10].

- 1,113 tỉ đô-la theo Hồ Chí Minh [17, VII, 89].

- 1,133 tỉ đô-la theo Harold Slassen [82].

- 1,246 tỉ đô-la theo Allan B. Cole [50, 260].

- 1,518 tỉ đô-la theo tạp chí Nghiên cứu lịch sử [160, 58].

- 1,698 tỉ đô-la theo George McT. Kahin [80, 42].

242

Ban lịch sử (trực thuộc Ban thƣ ký chung của Hội đồng tham mƣu trƣởng liên quân

Mỹ) thừa nhận: "Các con số do các nguồn khác nhau cung cấp tỏ ra mâu thuẫn với nhau một

cách nghiêm trọng" [73, 486n]. Giáo sƣ G. Kahin nhận định: "Thật khó mà thiết lập tổng giá

trị những đóng góp của Mỹ [cho chiến phí của Pháp] (...) một cách chính xác, bởi những

nguồn chính thức khác nhau một cách quan trọng" [80, 446].

Con số của G. Kahin gấp đôi con số của J. Buttinger! Sở dĩ có sự sai biệt giữa các con

số - theo tiến sĩ F. Joyaux - là "do có sự khác nhau trong phƣơng pháp tính toán, do sự phức

tạp của các thủ tục viện trợ của Mỹ cho nƣớc ngoài" [13, 99]. Điều này khiến những ngƣời

làm công việc nghiên cứu cảm thấy bối rối, không biết nên dựa vào số liệu nào. Có thể chia

thời kỳ 1945-1954 làm hai giai đoạn:

Giai đoạn 1945 - 1949: Mỹ viện trợ cho Pháp, sau đó Pháp trích một phần từ số tiền

viện trợ của Mỹ để chi phí cho chiến tranh ở Đông Dƣơng.

Giai đoạn 1950 - giữa 1954: Mỹ chi phí trực tiếp cho chiến tranh của Pháp ở Đông

Dƣơng.

*

* *

Giai đoạn 1945-1949:

Theo Peter A. Poole, từ tháng 7-1945 đến tháng 7-1948, Mỹ viện trợ cho Pháp 1,2 tỉ

đô-la [28].

243

Theo A. Manfred và nhiều ngƣời khác, từ tháng 4-1948 đến tháng 10-1951, Mỹ viện

trợ cho Pháp 2,458 tỉ đô-la [139, 340]. Con số này gần khớp với con số mà Allan B. Cole đƣa

ra: 2,094.284 tỉ đô-la, chia ra nhƣ sau:

1948: 400 triệu đô-la

1949: 751,428 triệu đô-la

1950: 517,142 triệu đô-la

1951: 425,714 triệu đô-la [50, 260].

Trong một tài liệu khác, hai giáo sƣ Viện nghiên cứu chính trị Paris -Serge Berslein

và Pierre Milza - cho biết: từ mùa xuân 1948 đến đầu năm 1952, Mỹ viện trợ cho Pháp 2,6 tỉ

đô-la, trong đó 85% dƣới hình thức "tặng" (don) và 15% dƣới hình thức "cho vay" (prêt) với

lãi suất 2,5% trả trong 35 năm kể từ 1956 [124, III, 166].

Cũng về thời gian này, Philippe Devillers đƣa ra những khoản tiền tính bằng phờ-

răng:

1948: 140 tỉ phờ-răng

1949: 263 tỉ phờ-răng

1950: 181 tỉ phờ-răng

1951: 149 tỉ phờ-răng [127, 472].

Giai đoạn 1950 - giữa 1954

Về khoản tiền Mỹ viện trợ cho Pháp từng năm trong giai đoạn này, các nguồn tƣ liệu

đƣa ra những con số rất khác biệt nhau (nhƣ đã trình bày ở phần đầu phụ lục này). Tuy nhiên

tổng số tiền Mỹ viện trợ cho Pháp cho suốt giai đoạn này không khác nhau bao nhiêu:

2,354 tỉ đô-la (theo Bernard B.Fall) [130, 134-135]

2,5 tỉ đô-la (theo Stanley Karnow) [133, 82]

244

2,523 tỉ đô-la (theo tạp chí Nghiên cứu lịch sử của Viện sử họcViệt Nam) [160, 58]

hơn 2,6 tỉ đô-la (theo các tác giả The Lessons of the Vietnam War) [103,II, 8]

2,7 tỉ đô-la (theo các giả Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 9-1945 -

7-1954) [20, 206]

2,763 tỉ đô-la (theo Hội đồng tham mƣu trƣởng Liên quân Mỹ) [73, 487-488] và (theo

George McT. Kahin) [80, 42]

Khoảng cách giữa con số cao nhất (2,763 tỉ đô-la) và con số thấp nhất (2,354 tỉ đô-la)

là 409 triệu đô-la.

B. Fall đƣa ra con số thấp nhất vì theo ông, trong số tiền viện trợ 1,5 tỉ đô-la mà Quốc

hội Mỹ thông qua cho năm 1954, có đến 954 triệu đô-la mãi đến lúc đình chiến mới đƣợc giải

ngân [129, 319].

Theo Harold Stassen, phối hợp viên của Chƣơng trình viện trợ nƣớc ngoài của Mỹ,

trong 1,133 tỉ đô-la của năm 1954, chỉ có 800 triệu đô-la viện trợ quân sự, còn 333.000 triệu

đô-la còn lại là viện trợ kinh tế và kỹ thuật [82, 75].

Trong khi đó, G. McT. Kahin đƣa ra con số cao nhất vì theo ông, trong năm 1954, Mỹ

viện trợ cho Pháp 1,313 tỉ đô-la, sau viện trợ bổ sung 385 triệu đô-la nữa, nâng tổng số viện

trợ của năm 1954 lên 1,698 tỉ đô-la [80,42].

Hội đồng tham mƣu trƣởng Liên quân Mỹ phân tích tổng số tiền 2,763 tỉ đô-la viện

trợ cho Pháp nhƣ sau:

- Viện trợ quân sự: 1,308 tỉ đô-la

- Yểm trợ tài chính cho ngân sách của Pháp: 1,285 tỉ đô-la

- Chƣơng trình yểm trợ quân sự: 75 triệu đô-la

- Chƣơng trình yểm trợ phòng thủ: 95 triệu đô-la [73, 487-488].

245

Ngoài viện trợ cho Pháp, theo Allen B. Cole, từ 5-6-1950 đến 30-6-1954, Mỹ viện trợ

kinh tế trực tiếp cho chính phủ Bảo Đại 96 triệu đô-la [50, 260].

Nếu cộng các con số nói trên, ta có tổng số viện trợ của Mỹ từ tháng 7-1945 đến

tháng 7-1954 là 4,714428 tỉ đô-la(*).

Mặc dù đƣa ra những con số khác nhau, các tài liệu đều nhất trí với nhau rằng viện trợ

Mỹ trang trải ngày càng nhiều chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dƣơng: 33% năm 1953

và 78% cho năm 1954 [80, 42]. Điều này cho thấy sự can thiệp của Mỹ vào chiến tranh Đông

0,751428 tỉ đô-la [50, 260]

(*) 7-1945 - 7-1948: 1,2 tỉ đô-la [25, 28] 1949 : 1950 - 7.1954: 2.763 tỉ đôla [80, 42]

Dƣơng ngày càng sâu.

246