intTypePromotion=1
ADSENSE

Chuyển đổi số trong dạy và học - Những vấn đề đặt ra

Chia sẻ: AtaruMoroboshi _AtaruMoroboshi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

15
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết "Chuyển đổi số trong dạy và học - Những vấn đề đặt ra" tập trung tìm hiểu, đánh giá một số vấn đề cụ thể sau: vai trò của chuyển đổi số đối với dạy và học hiện nay; thực trạng của chuyển đổi số trong dạy và học; những giải pháp cơ bản đối với chuyển đổi số trong dạy và học. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chuyển đổi số trong dạy và học - Những vấn đề đặt ra

  1. Đỗ Việt Hà Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội Tóm tắt: Trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số đã và đang là xu thế phát triển tất yếu đối với tất cả các lĩnh vực, ngành nghề. Với mục tiêu đào tạo công dân toàn cầu, chuyển đổi số được xác định là nhiệm vụ quan trọng, là khâu đột phá của ngành giáo dục nói chung và trong công tác dạy và học nói riêng. Dưới góc nhìn của mình về vấn đề này, tác giả tập trung tìm hiểu, đánh giá một số vấn đề cụ thể sau: Vai trò của chuyển đổi số đối với dạy và học hiện nay; Thực trạng của chuyển đổi số trong dạy và học; Những giải pháp cơ bản đối với chuyển đổi số trong dạy và học Từ khóa: Chuyển đổi số, công nghệ thông tin, giáo dục Đặt vấn đề: Hoạt động dạy và học là nhiệm vụ quan trọng, có tính chất quyết định trong hệ thống giáo dục và đào tạo bởi mục đích của giáo dục là đào tạo ra những công dân có kiến thức, có kỹ năng góp phần tạo ra cơ hội để hội nhập quốc tế mà công tác dạy và học thì hoàn toàn có thể đáp ứng và thỏa mãn được yêu cầu này. Trong những năm gần đây, đặc biệt khi đại dịch Covid19 diễn ra trên phạm vi toàn cầu thì việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số vào trong hoạt động giảng dạy đã giúp cho quá trình dạy và học có những thay đổi tích cực, phát huy được khả năng tư duy sáng tạo, làm chủ kiến thức, làm chủ chương trình và sử dụng học liệu một cách có hiệu quả nhằm tiết kiệm thời gian, công sức và trí tuệ. 1. Vai trò của chuyển đổi số đối với dạy và học hiện nay Có thể thấy rằng, với sự phát triển của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 thì vấn đề chuyển đổi số không còn là điều mới lạ đối với các ngành nghề như: Kinh tế, kinh doanh, dịch vụ... nhưng riêng đối với giáo dục thì chuyển đổi số mới thực sự được đưa vào sử dụng rộng rãi, có tính chất và quy mô lớn từ khi đại dịch Covid19 bùng phát. Năm 2020, là năm mà nhân loại phải chứng kiến những diễn biến có thể nói là chưa từng có trong lịch sử thế giới hiện đại, nhiều hoạt động xã hội bị đình trệ ở khắp nơi, hoạt động giáo dục như là nhu cầu tất yếu cần phải được đáp ứng kịp thời và chuyển đổi số là bài toán hữu hiệu nhất đã được các chuyên gia, nhà quản lý tìm đến như một cứu sinh không thể thiếu đối với tình hình hiện tại. Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ, khi ngay lập tức, chúng 241
  2. ta đã bắt kịp xu thế chung của thời đại là đưa công nghệ số vào trong hoạt động dạy, học, quản lý, kiểm tra, đánh giá của giáo dục. Nhận thấy tầm quan trọng và vai trò to lớn của chuyển đổi số đối với ngành giáo dục nước ta trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là trước tình hình và diễn biến phức tạp của dịch Covid19 thì chuyển đổi số trong giáo dục được đưa ra như một yêu cầu cấp bách không chỉ của riêng ngành giáo dục mà là của toàn xã hội. Ngày 03/6/2020 Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định: 749QĐ – TTg, Phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số Quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đã xác định 08 lĩnh vực cần ưu tiên chuyển chuyển đổi số, trong đó lĩnh vực giáo dục đứng vị trí thứ 2 sau y tế. Quyết định chỉ rõ “Phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực tuyến. Phát triển công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới đào tạo cá thể hóa”. Ngày 09/12/2020, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đã phối hợp cùng với Bộ Thông tin và Truyền thông (TTTT) tổ chức hội thảo “Chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo”. Tại hội thảo, Bộ trưởng Bộ GDĐT đã phát biểu khẳng định: “Ngành Giáo dục rất quan tâm tới việc đào tạo những công dân Việt Nam có kiến thức, kỹ năng chuyển đổi số để trở thành công dân toàn cầu. Chính vì vậy, chuyển đổi số được ngành xác định là khâu đột phá, nhiệm vụ quan trọng cần chú trọng triển khai thực hiện những năm tới đây. Làm tốt chuyển đổi số không chỉ giúp nâng cao chất lượng giáo dục mà quan trọng hơn là góp phần nâng cao năng suất lao động, tạo cơ hội lớn để hội nhâp quốc tế”. Chuyển đổi số không chỉ là số hóa bài giảng, hay ứng dụng các phần mềm vào soạn bài dạy, mà còn là sự chuyển đổi toàn bộ cách thức, phương pháp giảng dạy, kỹ thuật quản lý lớp học, tương tác với người học sang không gian số, khai thác công nghệ thông tin để tổ chức giảng dạy thành công. Giúp thay đổi phương pháp giảng dạy, học tập từ truyền thống sang phương pháp giảng dạy tích cực, giúp người dạy và người học phát huy được tính chủ động, khả năng tư duy, sáng tạo với chất lượng và hiệu quả cao. Việc đưa chuyển đổi số vào hoạt động dạy và học đã dần thay đổi mô hình lớp học tập trung đã dần chuyển sang các mô hình dạy học trực tuyến, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ các hoạt động giảng dạy, học tập và cơ sở quyết định sự thành công của giáo dục trong bối cảnh hiện nay. Quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục đào tạo ở nước ta giai hiện nay thu được nhiều kết quả khả thi: Đối với công tác quản lý: Chuyển đổi số góp phần giảm chi phí đào tạo, cơ sở đào tạo tiết kiệm được chi phí trang bị cơ sở vật chất, chi phí chi trả cho giảng 242
  3. viên. Việc đưa công nghệ vào vận hành giúp quản lý giáo viên và học viên triệt để hơn, chất lượng công việc đạt hiệu quả cao. Nâng cao chất lượng giáo dục, giúp tăng cường quản lý, giám sát trong các cơ sở giáo dục, giúp xây dựng hệ thống quản lý thông tin và hồ sơ của người học. Điều này càng thêm phần khẳng định vai trò tuyệt đối của chuyển đổi số với các trường học, cơ sở đào tạo trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, cho thấy việc ứng dụng công nghệ số góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và khẳng định vị trí, uy tín của ngành giáo dục trước đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Vai trò của chuyển đổi số đối với người dạy: - Việc áp dụng công nghệ trong chuyển đổi số vào hoạt động dạy học, giúp người dạy có khả năng kết nối đa chiều, công việc được triển khai trôi chảy vì hầu hết nội dung bài giảng, học liệu... đều đã được tự động hóa. Người dạy sẽ làm chủ được kiến thức của mình, để từ đó có thể tương tác với người học một cách hiệu quả, ghi chép điểm danh quá trình học tập, lập và cập nhật bảng điểm của người học để đảm bảo thông tin dữ liệu được cụ thể, minh bạch. - Thông qua dữ liệu thì người dạy có thể phân tích hành vi học tập của người học để có phương pháp giáo dục cho phù hợp với đối tượng học. Đồng thời người dạy có thể áp dụng các thông tin mà họ có được để tiến hành điều chỉnh các kế hoạch giảng dạy, nội dung chương trình. Với chuyển đổi số, người dạy có thể xây dựng chương trình học một cách nhanh chóng, chất lượng, hiệu quả. - Người dạy có thể chuẩn bị các khóa học và chương trình của họ bằng cách sử dụng những nội dung đặc sắc nhất, hay nhất từ kho học liệu có sẵn trên hệ thống được tạo bởi các đồng nghiệp, các chuyên gia hoặc các nhà làm giáo dục. - Người dạy cũng sẽ phải không ngừng trau dồi kiến thức, học tập để thích nghi với những biến đổi của công nghệ. Người dạy sẽ phải ứng dụng công nghệ số một cách hiệu quả nhất vào trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học của mình và sẵn sàng tham gia các chương trình, lớp học nâng cao trình độ chuyên môn, khả năng sử dụng công nghệ thông tin khi được cơ quan, tổ chức tạo cơ hội tiếp cận với các công nghệ giáo dục mới nhất nhằm phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục. Vai trò của chuyển đối số đối với người học: - Người học có thể tiếp cận tri thức mọi nơi, mọi lúc, có thể chủ động trong việc học tập và ứng dụng kiến thực vào thực tiễn, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền giáo dục vì con người. - Giúp cho người học có những trải nghiệm đa giác quan, dễ hiểu, dễ nhớ và gây tò mò, hứng thú cho người học, đồng thời tăng tính tương tác, thực hành và ứng dụng kiến thức ngay trong lớp học. Tạo điều kiện cho người học tiếp thu kiến thức một cách linh động và thuận tiện mọi lúc, mọi nơi. 243
  4. - Công nghệ số thúc đẩy một nền giáo dục mở, giúp con người tiếp cận thông tin đa chiều, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian, từ đó phát triển nhanh về kiến thức, nhận thức và tư duy. - Thực tế tăng cường công nghệ số trong giáo dục để tạo dựng hệ thống học liệu, các phòng thí nghiệm ảo, mô hình thực tế ảo có khả năng tương tác với người dùng. Tạo không gian và thời gian học linh động, bình đẳng. Người học tiết kiệm học phí, chi phí sinh hoạt và tài liệu học tập. Tăng tính tương tác, tính thực hành - ứng dụng, người học có thể trả lời các câu hỏi của giáo viên thông qua các phần mềm, từ đó người dạy có thể đánh giá chính xác về kiến thức của người học một cách hiệu quả. 2. Thực trạng của chuyển đổi số trong dạy và học Hiện nay chuyển đổi số trong giáo dục được tập trung vào 2 vấn đề chính: Chuyển đổi số trong quản lý giáo dục và chuyển đổi số trong dạy, học, kiểm tra, đánh giá, nghiên cứu khoa học. Trong hoạt động dạy và học thì chuyển đổi số tập trung chủ yếu đến các nội dung số hóa học liệu: Sách giáo khoa điện tử, bài giảng điện tử, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm, thư viện số... Đứng trước đại dịch Covid19, Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới đã lựa chọn và áp dụng phương pháp giảng dạy trực tuyến trong suốt thời gian dài, những ưu điểm mà chúng ta có thể nhìn thấy khi áp dụng phương pháp dạy online vào quá trình dạy học đó là: Hạn chế tiếp xúc và tập trung đông người, tiết kiệm chi phí, số lượng người học trong một lớp học nhiều hơn so với lớp học truyền thống; người dạy có thể hoàn toàn chủ động với chương trình dạy học dựa trên học liệu sẵn có; học sinh – sinh viên thì chủ động tìm hiểu bài dưới sự hướng dẫn của giáo viên, có kỹ năng tìm tài liệu và khả năng tương tác tốt... Có thể thấy, với sự phát triển công nghệ hiện nay, việc tiếp cận và đưa công nghệ số vào hoạt động giảng dạy và học tập trở nên dễ dàng, thuận tiện và đạt hiệu quả, chất lượng cao. Sự phát triển của các ứng dụng trên nền tảng công nghệ thông tin (CNTT), mạng xã hội giúp cho người dùng dễ dàng tương tác mọi lúc mọi nơi, đã tạo điều kiện cho giáo dục trực tuyến phát triển lên bậc cao hơn. Ở nước ta, ngành giáo dục đã chủ trương, xác định ứng dụng CNTT là nhiệm vụ trọng tâm. Do vậy tại Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, ngày 14/11/2013 về “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo” đã xác định CNTT là 1 trong 9 nhiệm vụ quan trọng để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục . Thực hiện chủ trương của ngành giáo dục, Nghị quyết của Đảng, theo số liệu thống kê thì cho đến nay toàn ngành đã triển khai số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung từ Trung ương đến 63 sở GDĐT, 710 phòng GDĐT và khoảng 53.000 cơ sở giáo dục. Hiện nay đã số hóa và định danh dữ liệu của khoảng 53.000 trường học, 1,4 triệu giáo viên, 23 triệu học sinh. Khối phổ thông 244
  5. khoảng 82% các trường sử dụng phần mềm quản lý trường học, sổ điểm điện tử, học bạ điện tử và hầu hết các cơ sở giáo dục đại học đều sử dụng phần mềm quản trị nhà trường. Hệ thống quản lý hành chính điện tử kết nối 63 sở GDĐT và hơn 300 trường đại học, cao đẳng trên cả nước với Bộ GDĐT. Về cơ sở học liệu, bộ hợp tác phát triển kho học liệu số dùng chung gồm 5.000 bài giảng E-learning, hơn 2.000 bài giảng trên truyền hình, 200 thí nghiệm ảo, 35.000 câu hỏi trắc nghiệm, gần 200 đầu sách giáo khoa theo chương trình giáo dục phổ thông và trên 7.500 luận án tiến sĩ. Đi kèm với giáo dục mở là tài nguyên học liệu mở, giúp người học, người dạy kết nối với kiến thức Mặc dù việc số hóa đã đạt được những dấu ấn nhất định nhưng nó cũng còn tồn tại một số khó khăn trong công tác xây dựng, thẩm định, chia sẻ học liệu vì việc này đòi hỏi phải có sự đầu tư về kinh phí tài chính, về nhân lực làm nhiệm vụ thì mới có thể hoàn thành và đảm bảo để kho học liệu được đầy đủ, đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, số lượng, chất lượng... Trên thực tế kho học liệu số vẫn còn tương đối lủng củng, hoạt động còn mang tính chất hình thức, đối phó, chưa đi làm nề nếp hoạt động nên hiệu quả của việc dạy và học chất lượng còn chưa cao, tính tương tác giữa người dạy và người học còn hạn chế dẫn đến nhàm chán khi áp dụng phương pháp học trực tuyến trong hoạt động dạy và học hiện nay. Quá trình giáo dục có những thay đổi căn bản, phương pháp, kỹ thuật sư phạm truyền thống không còn hiệu quả. Cách thức thực hiện, triển khai phương pháp giáo dục hiện nay đòi hỏi phải thay đổi linh hoạt trong vận dụng và sử dụng các thiết bị, tính năng của công nghệ sao cho việc giảng dạy đạt kết quả tốt nhưng trong quá trình học trực tuyến chúng ta gặp phải một số khó khăn: Bên cạnh một số trường, có sở đào tạo đã áp dụng công nghệ vào giảng dạy trực tuyến thì vẫn còn khá nhiều trường, cơ sở đào tạo chưa quen với hình thức đào tạo này, hoặc cơ sở vật chất, hạ tầng thông tin chưa đảm bảo để thực hiện giảng dạy trực tuyến một cách có hiệu quả và phát huy được năng lực của người học. Có những nơi chưa đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi số, cả về dạy và học; công nghệ chưa đạt chuẩn; đường truyền, dịch vụ internet còn chưa ổn định hoặc có chênh lệch giữa các khu vực, không đồng đều trong sử dụng CNTT giữa các vùng miền; quá trình quản lý và đánh giá năng lực của người học còn chung chung; người dạy tự trang bị thiết bị dạy học nên còn thiếu đồng bộ; người học thì còn chưa thực sự chủ động, còn chậm đổi mới nhận thức đối với ứng dụng chuyển đổi số. Điều này vô hình chung tạo ra sự bất bình đẳng về cơ hội học tập của người học và sự chênh lệch về chuyên môn cũng như khả năng ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học của người dạy. Với mục tiêu cố gắng phấn đấu để Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hàng đầu về chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo, để đạt được mục 245
  6. tiêu này chúng ta cần trang bị tốt kỹ năng về chuyển đổi số cho từng cấp học nên bộ GDĐT đã đưa môn tin học trở thành môn học bắt buộc từ lớp 3, trong quá trình học luôn lồng ghép và gắn CNTT với các môn học khác. Chẳng hạn như giải toán qua mạng, tiếng anh qua mạng hay các cuộc thi đều được học sinh thao tác trên máy tính. Đối với các chương trình đào tạo ở những cấp bậc trên thì môn học hay chuyên ngành CNTT cũng rất được chú trọng, ngay cả khi thi tuyển vào đơn vị, cơ quan doanh nghiệp nào đó thì yếu tố CNTT cũng được đạt lên hàng đầu. Chính vì tầm quan trọng của CNTT trong cuộc sống, đặc biệt là trong cuộc sông số như hiện nay càng đòi hỏi mỗi người phải tự mình thay đổi nhận thức, hành vi để có khả năng ứng dụng chuyển đổi số vào công việc, đời sống. 3. Những giải pháp cơ bản đối với chuyển đổi số trong dạy và học Nền tảng cơ bản của chuyển đổi số trong giáo dục dựa vào cơ sở vật chất, hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu số chuyên ngành, đường lối, chủ trương chính sách và đội ngũ lãnh đạo, cán bộ viên chức, giảng viên, giáo viên, người học. Để chuyển đổi số giáo dục thành công, đặc biệt chuyển đổi số trong công tác dạy và học đạt kết quả cao, chất lượng tốt, đào tạo ra những công dân toàn cầu có khả năng lao động, học tập và thích nghi với mọi hoàn cảnh thì chúng ta cần đưa ra những giải pháp nhằm bảo đảm cho chuyển đổi số được tồn tại, phát triển, lan rộng và có sức sống bền vững trước mọi biến động của xã hội. Trong nội dung bài viết này, tác giả xin được đưa ra một số giải pháp cơ bản: - Thứ nhất, vì chuyển đổi số tạo ra thay đổi tư duy dạy và học nên bản thân người dạy và người học phải thay đổi, thay đổi tư duy, thay đổi cách nhận thức và cách tiếp cận để thích nghi thì chuyển đổi số mới thành công. Nhưng thách thức lớn nhất, rào cản lớn nhất cũng chính là thay đổi tư duy của nhà quản lý, thay đổi tư duy của người thầy. Như chúng ta biết, hiện nay người học có quá nhiều kênh thông tin, tài liệu để tiếp cận. Bởi vậy, người dạy cần phải nhận thấy bản chất của vấn đề, qua đó phải thay đổi phương thức dạy học từ việc truyền thụ kiến thức sang biết chọn lọc và tập hợp kiến thức để xây dựng được chương trình, giáo án; phải có phương pháp cá thể hóa tới từng học sinh, phân loại người học. - Thứ hai, cần có hệ thống chính sách pháp luật phù hợp để đào tạo trực tuyến được công nhận hợp pháp. Cần tạo hành lang pháp lý chung phù hợp với các quy định về bản quyền tác giả, an ninh thông tin. Cần hoàn thiện quy định, quy chế cho ngành giáo dục như: Quy định về chương trình học, quy định về điều kiện tổ chức lớp học, thời lượng học, kiểm tra, đánh giá kết quả. Việc xây dựng và ban hành chính sách cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng và khoa học. Cần phải có hệ thống các công cụ giám sát, quản lý và đảm bảo chất lượng giáo dục trực tuyến để đảm bảo tính giá trị của hình thức đào tạo này. 246
  7. Tập trung triển khai xã hội hóa giáo dục có sự kiểm soát, tạo môi trường số kết nối, chia sẻ giữa cơ quan quản lý giáo dục, nhà trường, gia đình, giáo viên giảng viên, học sinh sinh viên. - Thứ ba, tăng cường đào tạo nhân lực CNTT chuyên nghiệp theo hướng ứng dụng, phục vụ yêu cầu chuyển đổi số. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, nhà giáo có kỹ năng CNTT cần thiết để làm việc trên môi trường số, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Người dạy cần tập trung vào công việc chính là giảng dạy và cần được giải phóng khỏi các công việc hành chính, giấy tờ sổ sách. Tạo điều kiện cho người dạy không bị chi phối và toàn tâm, toàn ý vào bài giảng. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực. Khuyến khích đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ có thể đáp ứng yêu cầu của thời đại công nghệ số. - Thứ tư, hoàn thiện hạ tầng mạng đồng bộ, thiết bị CNTT thiết thực phục vụ dạy - học, tạo cơ hội học tập bình đẳng giữa các vùng miền có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, vận động xã hội hóa cùng tham gia thực hiện. Tăng cường kết hợp công nghệ với cơ sở dữ liệu số chuyên ngành nhằm xây dựng các hệ thống thu thập thông tin, tạo ra các ứng dụng, dịch vụ phù hợp đến từng đối tượng. Triển khai các giải pháp, liên kết giữa các cơ sở đào tạo, đặc biệt là các trường đại học với các tổ chức khoa học và công nghệ nhẳm thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa về công nghệ. - Thứ năm, chuyển đổi số không đơn giản chỉ là số hoá các nguồn tài liệu mà còn bao gồm việc chuyển đổi phần cứng, kéo theo việc quản trị các nguồn lực dành cho giáo dục, đào tạo cũng thay đổi. Do vậy, toàn bộ dữ liệu về người học như (việc đào tạo, đánh giá, kiểm tra, xác thực danh tính của người học, công nhận kết quả) cũng cần phải số hóa để quy trình quản lý người học và thực hiện đánh giá quá trình cũng như kết quả học tập đạt chuẩn. Toàn bộ dữ liệu về quá trình học tập của người học cũng được theo dõi và lưu trữ bằng công nghệ chứ không phải bằng hệ thống hồ sơ sổ sách truyền thống trước đây. Thúc đẩy phát triển học liệu số, hình thành kho học liệu số, học liệu mở đáp ứng nhu cầu tự học, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền; tiếp tục đổi mới cách dạy và học trên cơ sở áp dụng công nghệ số, khuyến khích và hỗ trợ áp dụng các mô hình giáo dục đào tạo mới. - Thứ sáu, cần phải phổ biến, tuyên truyền, nâng cao nhận thức, quyết tâm thực hiện chuyển đổi số trong toàn ngành giáo dục, đến từng địa phương, nhà trường, giáo viên, học sinh; xây dựng văn hoá số trong ngành giáo dục. Tiếp tục đẩy mạnh triển khai, hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu toàn ngành giáo dục. Lồng ghép nội dung giáo dục về chuyển đổi số quốc gia, đặc biệt là những kỹ năng, 247
  8. kiến thức cơ bản, tư duy sáng tạo đưa vào giảng dạy trong nhà trường một cách phù hợp. Đồng thời, cần phải thực hiện phổ cập tin học triển khai dạy tin học cơ bản, làm quen với tin học cho học sinh ở tất cả các cấp học. - Thứ bảy, ngành giáo dục nên tận dụng những công nghệ mang tính chất nền tảng, các công cụ phần mềm sẵn có. Đó là đổi mới phương pháp quản lý từng lớp học, đổi mới nội dung từng tiết học, từng bài giảng với mục đích tăng tương tác giữa thầy và trò trong và ngoài lớp học, có cách thức và phương pháp khuyến khích học sinh chủ động, tham gia tích cực vào quá trình học tập. Hướng dẫn và khuyến khích học sinh tự học, sử dụng các kho học liệu mở và phần mềm sẵn có. Khi người học được tương tác nhiều hơn, thấy được vai trò của cá nhân đối với sự thay đổi tích cực của lớp học và bản tiến bộ hơn qua từng tiết học, các em sẽ hứng thú hơn và tham nhiệt tình hơn. Khi tất cả hệ thống giáo dục, các trường, các cơ sở đào tạo cùng thực hiện sẽ tạo ra sự lan tỏa mạnh mẽ, góp phần và sự thành công bước đầu của chuyển đổi số trong giáo dục. Kết luận: Chuyển đổi số là điều kiện tiên quyết để quyết định sự thành công trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Đưa chuyển đổi số vào giáo dục là góp phần chuyển mạnh quá trình giáo dục từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học với mục tiêu đào tạo công dân toàn cầu, có khả năng lao động và học tập trong mọi hoàn cảnh. Để giáo dục đào tạo có thể làm tốt nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó thì chuyển đổi số trong công tác dạy và học là then chốt quyết định thắng lợi của công cuộc này. Bởi vậy mỗi người cần thay đổi nhận thức, cách tiếp cận của mình về vấn đề này để góp phần tích cực sự nghiệp chung của dân tộc. Tài liệu tham khảo: [1]. Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/01/2017 phê duyệt Đề án "Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy-học, NCKH góp phần nâng cao chất lượng GDĐT giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025". [2]. Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia [3]. Chỉ thị, báo cáo tổng kết năm học và hướng dẫn nhiệm vụ CNTT các năm học của Bộ Giáo dục và Đào tạo 248
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2