► CHUYÊN ĐỀ LAO ◄
101
EVALUATION OF NUTRITIONAL STATUS AND MICRONUTRIENT LEVELS
IN CHILDREN WITH CHRONIC LIVER DISEASE
AT NGHE AN OBSTETRICS AND PEDIATRICS HOSPITAL
Ho Thi Lan1*, Vu Van Dau2, Vo Manh Hung1, Tran Thai Phong1
1Nghe An Obstetrics and Pediatrics Hospital - 19 Ton That Tung, Hung Dung Ward, Vinh City, Nghe An Province, Vietnam
2Nam Dinh University of Nursing - 257 Han Thuyen, Nam Dinh City, Nam Dinh Province, Vietnam
Received: 07/03/2025
Revised: 29/03/2025; Accepted: 15/04/2025
ABSTRACT
Objective: To describe the nutritional status and investigate the levels of certain micronutrients
in children with chronic liver disease at Nghe An Obstetrics and Pediatrics Hospital in 2023.
Subjects and methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on all children with
chronic liver disease who were under monitoring and treatment at Nghe An Obstetrics and
Pediatrics Hospital from January 2023 to October 2023.
Results: The study involved 37 children with chronic liver disease receiving treatment at
Nghe An Obstetrics and Pediatrics Hospital to assess deficiencies in certain micronutrients.
Male children accounted for 51.4%, while females accounted for 48.6%. The mean age of the
study population was 29.7 ± 36.7 months. Children under 1 year of age constituted the largest
proportion at 48.7%, with a male-to-female ratio of approximately 1:1. The most common cause
of chronic liver disease was viral hepatitis, representing 48.6%. Micronutrient deficiencies were
observed at varying rates: zinc (59.5%), vitamin D (48.6%), and vitamin K (8.8%). Deficiencies
in calcium, iron, and magnesium were lower, at 43.2%, 40.5%, and no cases of magnesium
deficiency, respectively. Overall, micronutrient deficiencies were most prevalent in children
under 5 years of age.
Conclusion: Micronutrient deficiencies remain relatively common among children with chronic
liver disease. Children under 5 years old have a higher prevalence compared to other age groups.
Regular assessments of micronutrient levels in children with chronic liver disease are essential.
Keywords: Chronic liver disease, micronutrient deficiency, children.
Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 6, 101-106
*Corresponding author
Email: Holan12121991@gmail.com Phone: (+84) 975510699 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD6.2283
www.tapchiyhcd.vn
102
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ VI CHẤT DINH DƯỠNG
Ở TRẺ EM MẮC BỆNH GAN MẠN TÍNH TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NGHỆ AN
Hồ Thị Lan1*, Vũ Văn Đẩu2, Võ Mạnh Hùng1, Trần Thái Phong1
1Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An - 19 Tôn Thất Tùng, P. Hưng Dũng, Tp. Vinh, Tỉnh Nghệ An, Việt Nam
2Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định - 257 Hàn Thuyên, Tp. Nam Định, Tỉnh Nam Định, Việt Nam
Ngày nhận bài: 07/03/2025
Chỉnh sửa ngày: 29/03/2025; Ngày duyệt đăng: 15/04/2025
TÓM TẮT
Mục tiêu: tả tình trạng dinh dưỡng và khảo sát tình trạng một số vi chất dinh dưỡng trẻ
em mắc bệnh gan mạn tính tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2023.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tất cả trẻ mắc bệnh gan
mạn tính đang theo dõi điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An từ tháng 1/2023 đến tháng
10/2023.
Kết quả: Nghiên cứu trên 37 trẻ mắc bệnh gan mạn tính đang điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi
Nghệ An để khảo sát tình trạng thiếu hụt một số vi chất dinh dưỡng. Số trẻ nam chiếm 51,4%
và trẻ nữ chiếm 48,6%. Tuổi trung bình của nghiên cứu là 29,7 ± 36,7 tháng. Nhóm trẻ < 1 tuổi
chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,7%. Tỷ lệ nam/nữ ~ 1/1. Nguyên nhân hay gặp nhất gây bệnh gan
mạn tính là viêm gan virus chiếm 48,6%. Các vi khoáng chất thiếu hụt với tỷ lệ khác nhau: kẽm
(59,5%), vitamin D (48,6%) và vitamin K (8,8%). Tỷ lệ thiếu hụt calci, sắt, magie thấp hơn, lần
lượt 43,2%, 40,5% không thấy bệnh nhân nào thiếu magie. Tình trạng thiếu các vi chất
dinh dưỡng nói chung phổ biến nhất ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi.
Kết luận: Tình trạng thiếu hụt vi chất dinh dưỡng còn khá phổ biến trẻ mắc bệnh gan mạn
tính. Trẻ dưới 5 tuổi chiếm tỷ lệ cao hơn so với các nhóm tuổi khác. Khảo sát định kỳ các vi chất
dinh dưỡng ở trẻ mắc bệnh gan mạn tính là thực sự cần thiết.
Từ khoá: Bệnh gan mạn tính, thiếu vi chất dinh dưỡng, trẻ em.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh gan mạn tính (Chronic liver disease CLD)
sự phá hủy tái tạo nhu gan tiến triển dẫn tới
hóa và xơ gan, gây suy giảm chức năng gan không hồi
phục. Bệnh được xác định khi có tình trạng tổn thương
gan trên lâm sàng xét nghiệm kéo dài trên 6 tháng.
Tỷ lệ mắc bệnh gan mạn tính ở trẻ em đang ngày càng
gia tăng, là một trong những nguyên nhân gây tử vong
cao. Hỗ trợ dinh dưỡng ở trẻ mắc bệnh gan mạn tính đã
được ghi nhận có thể giảm thiểu các triệu chứng và cải
thiện kết quả lâm sàng cũng như chất lượng cuộc sống
của trẻ, đồng thời ngăn ngừa các biến chứng tiến
triển của bệnh [1].
Tại Việt Nam cho đến nay rất ít nghiên cứu về vấn đề
này trên đối tượng trẻ em. Tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ
An vấn đề này dường như ít được quan tâm hiện chưa
có nghiên cứu nào về vấn đề này. Vì vậy, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu này với mục tiêu:
Khảo sát tình trạng một số vi chất dinh dưỡng ở trẻ em
mắc bệnh gan mạn tính tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Tất cả trẻ mắc bệnh gan mạn tính đang theo dõi điều
trị tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An từ tháng 1/2023 đến
tháng 10/2023.
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Bệnh nhân ≤ 16 tuổi tính theo tiêu chuẩn của WHO.
+ Bệnh nhân có đủ tiêu chuẩn chẩn đoán mắc bệnh gan
mạn tính:
• Có bằng chứng tổn thương gan mạn tính kéo dài trên
6 tháng trên lâm sàng (gan lách to, phù/cổ chướng, tuần
hoàn bàng hệ, sao mạch,…).
thay đổi chức năng gan về cận lâm sàng kéo dài
trên 6 tháng (Tăng Transaminase trên 80UI/l, albumin
dưới 35g/L; thời gian Prothrombin kéo dài hơn 3s so
với chuẩn, siêu âm gan hình thái cấu trúc bất
thường,…).
H.T. Lan et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 6, 101-106
*Tác giả liên hệ
Email: Holan12121991@gmail.com Điện thoại: (+84) 975510699 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD6.2283
103
HOẶC: kết quả chẩn đoán xác định bệnh viện
khác chuyển đến.
+ Bệnh nhân được lấy xét nghiệm ngay khi vào khám
tại các phòng khám nội nhi hoặc các khoa phòng hệ nội
nhi - Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An.
+ Cha mẹ hoặc người giám hộ của bệnh nhân đồng ý
tham gia nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Bệnh nhân đang sử dụng các thuốc chống đông hoặc
được truyền huyết tương tươi trước khi lấy máu xét
nghiệm do làm thay đổi các chỉ số xét nghiệm đông máu.
+ Cha mẹ hoặc người giám hộ của bệnh nhân không
đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1/2023 đến tháng
9/2023.
- Địa điểm nghiên cứu tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Cỡ mẫu: Chọn mẫu thuận tiện lấy tất cả các bệnh nhân
thỏa mãn tiêu chuẩn nghiên cứu điều trị tại Bệnh viện
Sản Nhi Nghệ An.
2.4. Các biến số nghiên cứu
Bảng 1. Tóm tắt các biến nghiên cứu
Chỉ số/ Biến số Giá trị Tiêu chuẩn
đánh giá
INR
0,8 – 1,2 Bình thường
> 1,2 Kéo dài
25(OH)D
< 30 nmol/L Thiếu vitamin
D
30– 50 nmol/L Không đủ
>50 nmol/L Bình thường
Nồng độ kẽm
huyết thanh <10,7 µmol/L Thiếu kẽm
Nồng độ sắt huyết
thanh <9 µmol/L Thiếu sắt
Nồng độ canxi
huyết thanh toàn
phần <2,1 mmol/L Thiếu canxi
Nồng độ magie
huyết thanh <0,7 mmol/L Thiếu magie
2.5. Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu định lượng được kiểm tra, làm sạch, mã hoá và
nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, sau đó xử thống
kê bằng phần mềm SPSS 20.0.
2.6. Đạo đức nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đã được chấp thuận thông qua Hội
đồng khoa học sự đồng ý của Bệnh viện Sản Nhi
Nghệ An. Nghiên cứu chỉ nhằm mục đích phục vụ cho
việc nâng cao chất lượng điều trị bệnh, ngoài ra không
nhằm mục đích nào khác.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 2. Phân bố tuổi, giới
của bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính
Nhóm tuổi
(năm) Nam n
(%) Nữ n
(%) Tổng n
(%)
< 1 tuổi 12 (32,5%) 6 (16,2%) 18 (48,7%)
1 – 5 tuổi 4 (10,8%) 8 (21,6%) 12 (32,4%)
> 5 tuổi 3 (8,1%) 4 (10,8%) 7 (18,9%)
Tổng 19 (51,4%) 18 (48,6%) 37 (100%)
Nhận xét: Tỷ lệ trẻ nam (51,4%) nhiều hơn trẻ nữ
(48,7%). Nhóm trẻ < 1 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với
48,7%. Tỷ lệ nam/nữ ~ 1/1.
Biểu đồ 1. Nguyên nhân gây bệnh
gan mạn tính ở trẻ em
Nhận xét: Nguyên nhân hay gặp nhất gây bệnh gan
mạn tính trong nghiên cứu của chúng tôi viêm gan
virus chiếm 48,6%, sau đó lần lượt là teo mật bẩm sinh
(24,3%), thiếu hụt Citrin (5,4%), Alagille chiếm 2,8%
và một số nguyên nhân khác chiếm 18,9%.
H.T. Lan et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 6, 101-106
www.tapchiyhcd.vn
104
Bảng 2. Tình trạng thiếu vitamin tan
trong dầu ở trẻ mắc bệnh gan mạn tính
Phân loại vitamin
tan trong dầu n%
Vitamin D
Thiếu 18 48,6
Không đủ 16 43,2
Bình thường 38,1
INR Kéo dài 38,8
Bình thường 31 91,2
Nhận xét: 18 trẻ chiếm 48,6% thiếu vitamin D, 16
trẻ chiếm 43,2% không đủ nồng độ 25(OH)D trong máu
nồng độ vitamin D bình thường thấy 3 trẻ chiếm
8,1%. Chỉ số INR kéo dài thấy 3 trẻ chiếm 8,8% phản
ánh gián tiếp tình trạng thiếu hụt vitamin K.
Biểu đồ 2. Phân bố tỷ lệ thiếu vi chất dinh dưỡng
ở trẻ mắc bệnh gan mạn
Nhận xét: Trẻ thiếu hụt kẽm chiếm tỷ lệ cao nhất
(59,5%). Tiếp đó thiếu calci (43,2%), thiếu sắt
(40,5%) và không có trẻ thiếu magie.
Bảng 3. Phân bố tỷ lệ thiếu vi chất dinh dưỡng theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi
(tuổi)
Thiếu
VitaminD
n (%)
INR kéo
dài n (%) Thiếu kẽm
n (%) Thiếu sắt n
(%) Thiếu calci
n (%)
Thiếu
magie n
(%) Tổng n (%)
<1 12 (32,4) 1 (2,7) 10 (27) 6 (16,2) 8 (21,7) 0 (0) 37 (100)
1-5 4 (14,8) 2 (7,4) 8 (29,7) 7 (25,9) 6 (22,2) 0 (0) 27 (100)
>5 2 (20) 0(0%) 4 (40) 2 (20) 2 (20) 0 (0) 10 (100)
Nhận xét: Tỷ lệ thiếu các vi chất dinh dưỡng cao nhất ở nhóm trẻ < 1 tuổi, trong đó thiếu vitamin D gặp ở 32,4%,
thiếu kẽm gặp ở 27%, INR kéo dài gặp 2,7% (phản ánh gián tiếp tình trạng thiếu vitamin K), 0% trẻ thiếu magie.
Nhóm trẻ 1-5 tuổi chủ yếu gặp thiếu kẽm (29,7%), thiếu sắt (25,9%). Tình trạng thiếu vi chất ít gặp ở nhóm trẻ >
5 tuổi.
4. BÀN LUẬN
Nghiên cứu được thực hiện trên 37 trẻ được chẩn đoán
bệnh gan mạn tính trong khoảng thời gian 01/01/2023
đến 30/09/2023, nhằm khảo sát tình trạng một số vi chất
dinh dưỡng trẻ em mắc bệnh gan mạn tính tại Bệnh
viện Sản Nhi Nghệ An.
Kết quả cho thấy, độ tuổi trung bình của nhóm nghiên
cứu 29,7 ± 36,7 tháng tuổi (thấp nhất 2 tháng
cao nhất 12 tuổi). Nhóm tuổi dưới 1 tuổi chiếm tỷ lệ
cao nhất 48,7%, trẻ từ 1-5 tuổi chiếm 32,4% nhóm
trẻ trên 5 tuổi chiếm 18,9%. Nghiên cứu của chúng tôi
tương đương nghiên cứu của Phạm Thảo Linh (2022)
trên 160 trẻ LCD [2] và nghiên cứu của Koofy trên 69
trẻ CLD [3] , độ tuổi trung bình của nhóm trẻ CLD lần
lượt 39 ± 46 tháng 2,1 ± 1,5 tuổi. Tỷ lệ trẻ nam/
nữ ~ 1, trong đó số trẻ nam 19 trẻ chiếm 51,4%, số
trẻ nữ là 18 trẻ chiếm 48,6%. Tương đương nghiên cứu
của Daniele Santetti (2015) 23 nữ (53,5%) 20 nam
(46,5%) [4]. Không sự chênh lệch nhiều so với kết
quả nghiên cứu của chúng tôi. Do nghiên cứu của chúng
tôi tiến hành trên nhóm trẻ bệnh gan mạn với chủ yếu
là nhóm bệnh lý bẩm sinh, di truyền, thường được phát
hiện sớm nên trẻ thường được chẩn đoán xác định bệnh
gan mạn ở lứa tuổi nhỏ.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, viêm gan virus chiếm
tỉ lệ cao nhất là 48,6% trong đó Viêm gan do CMV
HBV đều chiếm 24,3%. Sau đó lần lượt là teo mật bẩm
sinh chiếm 24,3%; thiếu hụt Citrin chiếm 5,4% và một
số nguyên nhân khác chiếm 18,9%. Khác với nghiên
cứu của Koofy (2019) trên 69 trẻ CLD cho thấy nhóm
teo mật bẩm sinh vẫn chiếm tỉ lệ cao nhất chiếm 56,5%,
tiếp theo viêm gan sinh (14,5%), PFIC (10,1%)
[3]. Nghiên cứu của Nguyễn Phạm Anh Hoa (2017)
các nguyên nhân gây CLD ở trẻ em khá đa dạng, trong
đó nhóm bệnh do rối loạn chuyển hóa di truyền chiếm
tỷ lệ cao nhất (44%). Các bất thường đường mật bẩm
sinh, đứng hàng đầu là teo mật bẩm sinh chiếm 29,9%,
thiểu sản đường mật 2,8%, viêm đường mật 0,1%.
Khác với các nguyên nhân gây CLD ở người lớn, viêm
gan B mạn chỉ chiếm 6,8%, viêm gan C mạn 1,9%.
Viêm gan tự miễn 3,8%, NASH 2,6% [5]. Tuy nhiên,
nghiên cứu của chúng tôi tương đương nghiên cứu của
Phan Thị Thanh Nhàn trên 114 bệnh nhân bệnh gan
mạn người lớn cho thấy, viêm gan virus B chiếm tỉ lệ
H.T. Lan et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 6, 101-106
105
cao nhất 64,9%, sau đó viêm gan virus C (20,2%),
lạm dụng rượu (7,9%) và xơ gan chưa rõ nguyên nhân
(7%) [6]. Sự khác biệt này thể do sự khác biệt về
địa điểm nghiên cứu. Nghiên cứu của chúng tôi được
tiến hành tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An với đối tượng
nghiên cứu trẻ em nên ngoài căn nguyên viêm gan do
virus thì nhiều nguyên nhân gây bệnh thuộc nhóm
bệnh bẩm sinh, di truyền như teo mật bẩm sinh,
NICCD, Alagille…trong khi nhóm bệnh nhân người
lón nguyên nhân gây bệnh gan mạn tính chủ yếu là do
virus hoặc do rượu.
Kết quả của nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, 18
trẻ (48,6%) bị thiếu vitamin D, 16 trẻ (43,2%) không
đủ vitamin D 3 trẻ (8,1%) nồng độ vitamin D
bình thường. Tỷ lệ thiếu hụt vitamin D nghiên cứu
của chúng tôi cao hơn so với kết quả nghiên cứu của
của Phạm Thảo Linh (2022) có 45 trẻ (28,5%) bị thiếu
vitamin D, 45 trẻ (28,5%) không đủ vitamin D 68
trẻ (43%) có nồng độ vitamin D bình thường [2]. Thiếu
vitamin D là phổ biến ở bệnh nhân xơ gan và cho thấy
một mối liên quan đáng kể giữa nồng độ 25(OH)D với
mức độ rối loạn chức năng gan gợi ý rằng nồng độ
25(OH)D thấp thể dự đoán tiến triển mất tử
vong những bệnh nhân bị bệnh gan mạn tính [7].
Thiếu vitamin D thường gặp nhóm trẻ nhỏ dưới 5
tuổi, ít gặp ở các trẻ lớn hơn. Nhóm trẻ nhỏ dưới 5 tuổi
tập trung phần lớn các trẻ thuộc nhóm bệnh gan ứ mật,
như đã phân tích trên đây các nhóm nguyên nhân
chính sự thiếu hụt vitamin D. Ngoài ra lứa tuổi nhỏ ít
được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, kèm theo chế độ ăn
của trẻ chưa phong phú các loại thực phẩm chứa nhiều
vitamin D như ở nhóm trẻ lớn. Chỉ số INR kéo dài thấy
ở 3 trẻ CLD (8,8%), phản ánh gián tiếp tình trạng thiếu
hụt vitamin K.
Trong số các vi chất dinh dưỡng được khảo sát, trẻ CLD
tình trạng thiếu hụt kẽm trầm trọng nhất, chiếm tới
59,5%. Thiếu kẽm gặp phổ biến nhất trẻ CLD dưới
5 tuổi. Một số nghiên cứu khác trên thế giới cũng cho
thấy tình trạng thiếu hụt kẽm với tỷ lệ cao trên đối tượng
bệnh nhân bệnh gan mạn. Nghiên cứu của Llibre-Nieto
G cộng sự (2021) trên 125 bệnh nhân người lớn bị
gan mất do các nguyên nhân khác nhau, tỷ lệ thiếu
hụt kẽm lên tới 85,6% [8].
Cân bằng nội môi của kẽm chủ yếu được điều chỉnh
bởi gan, do đó, tổn thương gan mạn tính dẫn đến rối
loạn cân bằng nội môi kẽm, và cuối cùng dẫn đến thiếu
kẽm [9]. Thiếu hụt kẽm trong bệnh gan mạn tính có thể
do kém hấp thu cũng như gia tăng đào thải qua thận, vì
kẽm được giữ lại trong cơ thể do liên kết với albumin.
Sự giảm tổng hợp albumin trong bệnh gan mạn tính làm
giảm sự liên kết giữa albumin và kẽm, do đó làm tăng
đào thải kẽm qua nước tiểu [1].
Tỷ lệ thiếu sắt gặp 40,5% bệnh nhân, thiếu sắt
gặp với tỷ lệ tương đương nhau các nhóm tuổi. Kết
quả này tương tự với nghiên cứu của Llibre và cộng sự
(2021) trên 125 bệnh nhân CLD người lớn, thiếu sắt gặp
34,4% bệnh nhân, tuy nhiên nồng độ sắt ferritin
cao hơn gặp các bệnh nhân tình trạng nặng hơn
dựa trên đánh giá bằng thang điểm MELD [8]. Thực
tế, ở bệnh nhân bệnh gan mạn có thể gặp cả tình trạng
thiếu sắt thừa sắt. Gan đóng một vai trò quan trọng
trong việc cân bằng nội môi của sắt. Cần kiểm tra định
kỳ nồng độ sắt huyết thanh trẻ CLD, cả thiếu sắt
và thừa sắt đều có ảnh hưởng tiêu cực đến tiến triển và
tiên lượng bệnh gan mạn.
Tình trạng thiếu hụt calci ở trẻ mắc bệnh gan mạn tính
43,2%, chủ yếu gặp nhiều nhất ở nhóm trẻ CLD dưới
5 tuổi. Calci liên kết với các axit béo không được hấp
thụ tại ruột do giảm sự bài tiết mật, làm giảm khả năng
hấp thụ calci ở trẻ em bị bệnh gan mạn tính. vậy, cần
có thêm các thử nghiệm lâm sàng để đánh giá liệu việc
bổ sung vitamin D cho trẻ bệnh gan mạn thể cải thiện
mức độ nặng của bệnh và nồng độ Ca hay không. Tỷ lệ
thiếu magie ở trẻ CLD chiếm 0%.
5. KẾT LUẬN
Tình trạng thiếu hụt vi chất dinh dưỡng còn khá phổ
biến ở trẻ mắc bệnh gan mạn tính. Thiếu kẽm, vitamin
K vitamin D chiếm tỷ lệ cao nhất nhóm trẻ mắc
bệnh này. Tỷ lệ thiếu hụt sắt, calci thấp hơn. Trẻ dưới
5 tuổi mắc bệnh gan mạn tính tình trạng thiếu hụt
các vi chất dinh dưỡng chiếm tỷ lệ cao hơn so với các
nhóm tuổi khác. Trẻ bệnh gan mạn > 5 tuổi hầu như rất
ít gặp tình trạng thiếu vi chất. Khảo sát định kỳ các vi
chất dinh dưỡng trẻ mắc bệnh gan mạn tính thực
sự cần thiết, đặc biệt nhóm trẻ < 5 tuổi để có kế hoạch
bổ sung kịp thời nhằm giảm thiểu các triệu chứng
cải thiện kết quả lâm sàng cũng như chất lượng cuộc
sống của trẻ, đồng thời ngăn ngừa các biến chứng
tiến triển của bệnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] C. H. Yang, B. J. Perumpail, E. R. Yoo, A.
Ahmed, and J. A. Kerner, Nutritional needs and
support for children with chronic liver disease,
Nutrients, vol. 9, no. 10, Oct. 2017, doi: 10.3390/
nu9101127.
[2] Phạm Thảo Linh, Tình trạng dinh dưỡng thiếu
vi chất ở trẻ em mắc bệnh gan mạn tính tại Bệnh
Viện Nhi Trung Ương, Luận văn thạc sỹ y học.
Trường Đại học Y Hà nội., 2022.
[3] N. El Koofy et al., Anthropometric, biochemical
and clinical assessment of malnutrition among
Egyptian children with chronic liver diseases: a
single institutional cross-sectional study, BMC
Gastroenterol., vol. 19, no. 1, Dec. 2019, doi:
10.1186/S12876-019-1145-3.
[4] D. Santetti et al., Serum proinflammatory cyto-
kines and nutritional status in pediatric chronic
liver disease, World J. Gastroenterol., vol. 21,
no. 29, pp. 8981–8984, Aug. 2015, doi: 10.3748/
WJG.V21.I29.8927.
H.T. Lan et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 6, 101-106