ĐÁNH GIÁ VÀ XỬ TRÍ HEN PHẾ
QUẢN THEO IMCI
Mục tiêu
1. Định nghĩa được hen phế quản (HPQ) theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới.
2. Phân biệt được HPQ với một số bệnh lý thường gặp khác.
3. Đánh giá xử trí được HPQ tại cộng đồng theo chương trình XTrí Lồng
Ghép Bệnh Trẻ Em (IMCI - Integrated Management of Childhood Illness).
1. Định nghĩa HPQ theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới
HPQ một bệnh viêm mạn tính với tình trạng tắc nghẽn đường thở hồi
phục. Bệnh được đặc trưng bởi từng đợt sò sè tái diễn, thường kèm theo ho, và đáp
ứng với các thuốc giãn phế quản và thuốc kháng viêm.
2. Dịch tễ học
Hen phế quản là bệnh phổi mạn tính phổ biến nhất trẻ em. Hiện nay tỷ lệ trẻ em
bhen phế quản tăng nhanh trên toàn cầu các nước phát triển và đang phát triển.
Theo thông báo của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, khoảng t7-10% tr em đã mắc
hen, csau 20 năm hen phế quản trẻ em ng lên 2-3 lần. Chính vì vậy, tỷ lệ tử
vong và nhập viện tăng đáng kể ở các nước phát triển.
Mỹ, mặc dù công tác quản điều trị hen trẻ em đã nhiều tiến bộ, song m
2002 tlệ trẻ em dưới 5 tuổi hen phế quản tăng hơn 160% tăng 74% nhóm
tuổi 5-14 tuổi so với năm 1982; trên toàn ớc Mỹ đã mất khoảng 14 triệu ngày
học và 14,5 triệu ngày công lao động do bố mẹ nghỉ chăm sóc con cái; mỗi năm đã
tiêu tốn hơn 14 tỷ đô-la cho việc chăm sóc ngưi bệnh hen.
nước ta, trong năm 1999 có gần 658.000 lần cấp cứu nhi khoa do hen. Tỷ lệ cấp
cứu ước tính hàng m trẻ dưới 5 tuổi là 137,1/10.000 tr- tlệ mắc bệnh cao
nhất ở nhóm tuổi này.
Bệnh hen m mất đi khoảng 10 triệu ngày học ng m của học sinh. Ðây
nguyên nhân hàng đầu làm cho trẻ em nghỉ học và bỏ học do bệnh kéo dài.
Giá thành điều trị hen ước tính hàng năm lứa tuổi dưới 18 khoảng 3,2 tỷ đô-la
Mỹ. Một nghiên cứu tại TP Hồ Chí Minh cho thấy chi phí ước tính cho việc chăm
sóc bệnh nhân hen là 108 triệu USD, trong đó 50-70% dành cho nhập viện và cấp
cứu, 30% là thuốc điều trị; 288064 ngày công lao động bị mất.
3. Chn đoán HPQ
- Tiền sử có những đợt sò sè tái diễn, thường kèm theo ho.
- Khám lâm sàngthcó:
+ Ngực căng phồng.
+ Rút lõm lồng ngực.
+ Thì th ra kéo dài kèm với tiếng sò sè.
+ Giảm lượng khí hít vào nếu tình trạng tắc nghẽn nặng.
+ Không sốt.
+ Đáp ứng tốt với thuốc giãn phế quản.
Trong trường hợp chẩn đoán còn nghi ngờ, hãy cho một liều thuốc giãn phế quản
tác dụng nhanh. Trẻ bị HPQ thường sẽ cải thiện nhanh với các dấu hiệu như giảm
tần số thở, giảm rút lõm lồng ngực và đỡ kthở. Tuy nhiên, trbị HPQ nặng
khi phải cần nhiều liều thuốc giãn phế quản mới cải thiện.
4. Chn đoán phân biệt HPQ
Cần chẩn đoán phân biệt HPQ với các bệnh lý sò sè. trẻ nhũ nhi và trnhỏ
dưới 2 tuổi, đợt sò đầu tiên thường xảy ra trong mùa dịch virus hợp bào hấp
(RSV) viêm tiểu phế quản cấp thường là nguyên nhân của đợt sò này. trẻ
lớn n những trẻ những đợt sò tái diễn thì HPQ và các bệnh tăng đáp
ứng đường thở (reactive airways disease) là những nguyên nhân quan trọng nhất
gây sò sè.
Một số bệnh lý có sò sè cần được chẩn đoán phân biệt với HPQ :
4.1. Viêm tiểu phế quản cấp
- Sò sè xuất hiện lần đầu trong mùa dịch RSV.
- Thường gặp ở trẻ < 2 tuổi.
- Ngực căng phồng và gõ trong.
- Rút lõm lồng ngực.
- Nghe phổi có thể có ran nổ mịn hoặc ran rít.
- Ăn, bú mẹ hoặc uống kém do khó thở.
- Sò sè không đáp ứng với thuốc giãn phế quản.
4.2. Sò sè kèm với ho hoặc cảm lạnh
- Hầu hết các đợt sò đầu tiên trẻ < 2 tuổi đều liên quan với ho hoặc cảm
lạnh.
- Trkhông có tiền sử dị ứng trong gia đình (chàm, viêm mũi dị ứng...).
- Các đợt sò sè thưa hơn khi trẻ lớn lên.
- Sò sè thường đáp ứng tốt với Salbutamol uống tại nhà.
4.3. Một số nhiễm khuẩn hấp như viêm phổi do virus hoặc viêm phổi do
Mycoplasma có thkèm theo sò sè
4.4. Dị vật đường thở
4.5. Hạch bạch huyết chèn ép vào phế quản: hạch lao, u lympho và các khối u
hạch bạch huyết khác.
5. Xử trí HPQ
- Nếu trẻ bị sò sè lần đầu và không khó th thì chỉ cần chăm sóc tại nhà, không cần
thuốc giãn phế quản.
- Nếu trẻ khó thở và tái diễn thì cho Salbutamol dưới dạng phun sương
(nebulizer) hoặc bình hít liu định sẵn (metered-dose inhaler = MDI). Nếu
không Salbutamol thì cho Epinephrine tiêm dưới da. Đánh giá lại trẻ sau 30
phút để quyết định bước điều trị tiếp theo:
+ Nếu trẻ hết khó thở và không còn th nhanh : khuyên bà mchăm sóc và vnhà
điều trvới Salbutamol uống (si-rô hoặc viên).
+ Nếu trẻ còn khó thở: cho trẻ nhập viện điều trị với thở oxy, các thuốc giãn
phế quản tác dụng nhanh và những thuốc khác được trình bày ở phần sau.
+ Nếu trẻ m trung m hoặc không uống được: cho trẻ nhập viện điều trị
với thở oxy, các thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh và những thuốc khác được
trình bày phần sau.
Khi trnhập viện, cần cho thở oxy ngay, cho một thuốc giãn phế quản tác dụng
nhanh và một liều steroids (uống hoặc tiêm tĩnh mạch). Nên đánh giá đáp ứng với
điều trị trong 30 phút bằng các dấu hiện như đ khó thở, và thông khi phế nang cải
thiện khi nghe phổi. Nếu không cải thiện thì tiếp tục cho thuốc giãn phế quản tác
dụng nhanh với khoảng cách thể 1 giờ 1 lần. Sau khi đã cho 3 liều thuốc giãn
phế quản tác dụng nhanh mà tr vẫn không đáp ứng thì cho thêm Aminophylline
tiêm tĩnh mạch.