Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng, ĐHXDHN, 2025, 19 (4V): 43–55
DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA DẦM MICRO BẰNG VẬT LIỆU
TÍNH BIẾN THIÊN THEO THUYẾT CẶP ỨNG SUẤT SỬA ĐỔI
Hoàng Anha, Nguyễn Sỹ Namb, Trần Văn Liênb,
aCông ty Trách nhiệm hữu hạn vấn Đại học Xây dựng, Trường Đại học Xây dựng Nội,
số 55 đường Giải Phóng, phường Bạch Mai, Nội, Việt Nam
bKhoa Xây dựng Dân dụng & Công nghiệp, Trường Đại học Xây dựng Nội,
số 55 đường Giải Phóng, phường Bạch Mai, Nội, Việt Nam
Nhận ngày 11/9/2025, Sửa xong 21/10/2025, Chấp nhận đăng 18/11/2025
Tóm tắt
Bài báo phân tích dao động tự do của các dầm vi làm bằng vật liệu tính biến thiên (FGM) đặt trên nền đàn hồi
Winkler–Pasternak dựa trên thuyết dầm Timoshenko thuyết cặp ứng suất sửa đổi xét đến hiệu ứng kích thước.
Các đặc tính vật liệu dầm thay đổi theo chiều cao dầm theo quy luật phân bố lũy thừa được đồng nhất hóa bằng kỹ thuật
Mori–Tanaka. Một hình phần tử hữu hạn phụ thuộc kích thước với các hàm dạng phi cổ điển mới được đề xuất, từ đó
thu được các ma trận độ cứng ma trận khối lượng của dầm Timoshenko vi bằng FGM. Ảnh hưởng của hiệu ứng kích
thước, tham số vật liệu, hình học điều kiện biên đến tần số dao động riêng dạng dao động được phân tích. Kết quả
nghiên cứu này thể áp dụng cho các loại vật liệu FGM khác cũng như các kết cấu dầm vi phức tạp hơn.
Từ khoá: dầm micro FGM; MCST; hàm dạng phi cổ điển; tần số dao động; dạng dao động riêng.
FREE VIBRATIONS OF FGM MICROBEAMS BASED ON THE MODIFIED COUPLE STRESS THEORY
Abstract
The paper analyzes the free vibration of microbeams made of functionally graded material (FGM) resting on a
Winkler–Pasternak elastic foundation, based on Timoshenko beam theory and the modified couple stress theory considering
the size effect. The material properties of the beam, which vary along its thickness according to a power law distribution,
are homogenized using the Mori–Tanaka technique. A size-dependent finite element model with new non-classical shape
functions is proposed to derive the stiffness and mass matrices of FGM Timoshenko microbeams. The effects of size
dependency, material parameters, geometry, and boundary conditions on natural frequencies and mode shapes are analyzed.
The results of this study can be applied to other types of FGMs as well as more complex microbeam structures
Keywords: FGM microbeam; MCST; non-classical shape functions; natural frequency; mode shape.
https://doi.org/10.31814/stce.huce2025-19(4V)-04 © 2025 Trường Đại học Xây dựng Nội (ĐHXDHN)
1. Mở đầu
Vật liệu tính biến thiên (FGM) một loại vật liệu composite thế hệ mới với các đặc tính
- nhiệt độc đáo nên chúng được ứng dụng nhiều trong hệ thống vi điện tử (MEMS), trong các
ngành hàng không, sinh học, công nghệ kỹ thuật cao, ... Các kết cấu vi như dầm, tấm các cấu
kiện bản, quan trọng, được sử dụng rộng rãi trong các thiết bị. thế, các kết cấu làm từ FGM ngày
càng thu hút nhiều sự chú ý của các nghiên cứu trong ngoài nước.
Các thuyết đàn hồi phi cổ điển đã cung cấp lời giải thỏa đáng cho các kết cấu vi do xét đến
hiệu ứng kích thước cấp độ micro/nano. Trong đó thuyết cặp ứng suất sửa đổi (MCST), chỉ sử
dụng một tham số chiều dài vật liệu để biểu diễn ứng xử kết cấu vi đã được nhiều tác giả lựa chọn
để phân tích các kết cấu micro.
Các phân tích độ bền, dao động riêng, dao động cưỡng bức ổn định của dầm micro FGM đã
được nhiều tác giả nghiên cứu, từ đó đã thiết lập các phương trình bản theo các thuyết dầm
Euler Bernouli, dầm Timoshenko, biến dạng trượt bậc cao, ... phụ thuộc vào tham số kích thước. Đã
nhiều công trình [114] nghiên cứu ứng xử uốn tĩnh dao động riêng của dầm vi FGM dùng
thuyết MCST. Nateghi Salamat-talab [15], Babei cs. [16], Jalali cs. [17] đã nghiên cứu ảnh
Tác giả đại diện. Địa chỉ e-mail: lientv@huce.edu.vn (Liên, T. V.)
43
Anh, V. H., cs. / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng
hưởng của nhiệt độ đến hiện tượng ổn định dao động riêng của dầm vi FGM. Kliewer Glisic
[18] đã phân tích uốn dao động riêng của dầm vi FGM vật liệu áp điện. Arbind Reddy
[19] đã so sánh độ võng phi tuyến của dầm FG phụ thuộc vào cấu trúc vi sử dụng thuyết dầm
Euler-Bernoulli thuyết dầm Timoshenko (TBT). Lu cs. [20] đã nghiên cứu hiện tượng sau ổn
định của ống vi composite nhiều lớp gia cường graphene chứa sai lệch hình học ban đầu dựa
trên thuyết dầm bậc cao hiệu chỉnh. Ke Wang [21], Li Ke [22] đã khảo sát ổn định động
của dầm vi FGM theo TBT bằng phương pháp cầu phương vi phân. Mollamahmutoğlu Mercan
[23] đã khảo sát dao động phi tuyến của dầm FGM vi tiết diện thay đổi dọc trục với các điều kiện
biên tổng quát. Chen cs. [24] đã nghiên cứu dao động riêng, mất ổn định sau mất ổn định động
của dầm vi FGM hai chiều nằm trong môi trường đàn hồi. Sheng Wang [25] đã nghiên cứu dao
động cưỡng bức phi tuyến của dầm vi FGM nguyên vẹn theo MCST chịu tải trọng ngang theo
hình cản Kelvin–Voigt. Peng cs. [26] đã nghiên cứu ảnh hưởng của hiệu ứng kích thước cho các
dầm vi FGM dạng sandwich kết hợp hình dẫn nhiệt pha trễ kép phi cổ điển, hình đàn hồi
phi cổ điển, thuyết đàn hồi bề mặt MCST. Attia cs. [27] đã phân tích đáp ứng động của dầm
vi FGM 2 chiều chịu tải trọng điều hòa chuyển động trong môi trường nhiệt bằng phương pháp
giải tích Laplace, trong khi hầu hết các nghiên cứu khác sử dụng phương pháp PTHH. Akbas [28] đã
phân tích dao động cưỡng bức của dầm vi FGM cản theo hình Kelvin–Voigt sử dụng
các hàm dạng Charkraborty [29] nhằm tránh hiện tượng khóa cắt. Cũng sử dụng các hàm dạng trên,
Liu cs. [30] đã nghiên cứu phản ứng động của dầm vi FG 2D chịu tải trọng điều hòa di động
xét đến ảnh hưởng của nhiệt độ. Kahrobaiyan cs. [31] đã phát triển một hình phần tử hữu hạn
(FEM) cho dầm vi đồng nhất, trong đó các hàm dạng được dẫn xuất từ việc giải phương trình
bản cho dầm vi đồng chất theo MCST. Sử dụng các hàm dạng này, Zhang Liu [32] đã nghiên
cứu phản ứng động của dầm vi FGM hai chiều lỗ xốp chịu tải trọng di động bằng FEM với hàm
dạng trên. Esen cs. [33] đã khảo sát phản ứng động của dầm vi lỗ dưới tác động của khối
lượng/tải trọng di động. Tuy nhiên, Dehrouyeh-Semnani Bahrami [34] đã chứng minh rằng dạng
hiển của ma trận độ cứng do Kahrobaiyan đề xuất không chính xác. Việt Nam cũng đã những
nghiên cứu về dầm FGM như Ninh Kiên [35] đã nghiên cứu ảnh hưởng của tham số kích thước
lên hệ số động lực học của dầm micro chịu khối lượng di động. Kế cs. [36] đã phân tích dao động
riêng của dầm nano cong FG nằm trên nền đàn hồi sử dụng phương pháp Rayleigh–Ritz. Liên
[37] đã nghiên cứu ảnh hưởng của hình giảm chấn đến phản ứng động của các dầm vi FGM
vết nứt đặt trên nền đàn hồi chịu tải trọng di động.
Qua các nghiên cứu trên, ta nhận thấy rằng FEM được nhiều tác giả chọn làm công cụ để nghiên
cứu ứng xử tĩnh, dao động ổn định của dầm micro. Tuy vậy, khi áp dụng FEM, các tác giả đều
sử dụng các hàm dạng của phần tử dầm macro thông thường như hàm dạng Hermitte cho dầm Euler,
hàm dạng Kosmatka cho dầm TBT hay hàm dạng Charkraborty cho dầm composite. Đối với dầm TBT
micro, Kahrobaiyan cs. [31] Dehrouyeh-Semnani Bahrami [34] đã xây dựng các hàm dạng
từ nghiệm của bài toán tĩnh cho dầm TBT micro đồng nhất. Các hàm dạng này đều đuợc rút ra từ
nghiệm chính xác của bài toán tĩnh để tránh hiện tượng khóa cắt. Đối với dầm micro FGM, việc xây
dựng hàm dạng cần thiết nhưng chưa được đề cập đến.
Trong nghiên cứu này, dao động tự do của các dầm vi FGM trên nền đàn hồi Winkler–Pasternak
được khảo sát dựa trên MCST, thuyết dầm TBT kỹ thuật đồng nhất hóa Mori–Tanaka. Các hàm
dạng phi cổ điển của phần tử dầm vi được thiết lập dựa trên các phương trình dao động bản
cho dầm vi FGM. Sử dụng các hàm dạng đề xuất, các tác giả đã nhận được ma trận độ cứng
ma trận khối lượng cho phần tử dầm vi FGM. Trường hợp riêng khi vật liệu đồng nhất hay dầm
macro, các ma trận độ cứng ma trận khối lượng này đồng nhất với các ma trận độ cứng khối
44
Anh, V. H., cs. / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng
lượng cho dầm vi đồng nhất hoặc dầm Timoshenko cổ điển. Từ đó các tác giả khảo sát ảnh hưởng
các tham số hình học, vật liệu, nền đàn hồi, đến tần số dao động riêng dạng dao động của dầm vi
FGM.
2. Các phương trình bản của dầm micro FGM Timoshenko
Hình 1. Dầm micro FGM trên nền đàn hồi
Xét dầm micro FGM chiều dài L, tiết diện chữ nhật b×h, đặt trên nền đàn hồi Winkler-Pasternak
như Hình 1. Sự thay đổi thể tích vật liệu gốm kim loại trong dầm theo hệ thức (1):
VC= 1
2+z
h!n
;Vm=1 1
2+z
h!n
(1)
trong đó h chiều cao dầm, z tung độ tính từ mặt trung bình của dầm, n số của hàm thể tích,
chỉ số c mbiểu thị vật liệu gốm kim loại. đun đàn hồi khối hiệu dụng K đun đàn hồi
trượt hiệu dụng Gcủa vật liệu FGM được xác định theo hình Mori–Tanaka [38]:
KKm
KcKm
=Vc
1+(1Vc) (KcKm)/(Km+4Gm/3)
GGm
GcGm
=Vc
1+
(1Vc) (GcGm)
Gm+Gm(9Km+8Gm)/(6Km+12Gm)
(2)
trong đó Km,Gm Kc,Gc đun đàn hồi khối đun đàn hồi trượt của kim loại gốm. Từ
đó, môđun đàn hồi Young E, hệ số Poisson ν, mật độ khối lượng ρđược xác định là:
E(z)=9KG
3K+G;ν(z)=3K2G
2(3K+G);ρ(z)=ρcVc+ρmVm(3)
Theo TBT, chuyển vị của điểm trên tiết diện dầm Timoshenko dạng:
u(x,z,t)=u0(x,t)(zh0)θ(x,t);w(x,z,t)=w0(x,t)(4)
với u0(x,t),w0(x,t) dịch chuyển dọc trục, độ võng của điểm trên trục trung hòa; h0 khoảng cách
từ mặt trung hòa đến trục x;θ(x,t) góc quay của tiết diện quanh trục y. Áp dụng MCST các thành
phần biến dạng khác không trong dầm [3,37]:
εxx =u0
x(zh0)∂θ
x;εxz =1
2 w
xθ!;χxy =1
4 2w
x2+∂θ
x!(5)
Sử dụng định luật Hooke, ta nhận được
σxx =(2G+λ)εxx;σxz =2ksGεxz;σyy =σzz =λεxx;mxy =2Gl2χxy (6)
45
Anh, V. H., cs. / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng
trong đó λ hệ số Lame; ks=5/6 hệ số hiệu chỉnh cắt; l tham số phụ thuộc kích thước. Đồng
thời phương trình cân bằng của phần tử dầm micro dạng:
ksA33
d
dx dw
dx θ!1
4A33l2d2
dx2 d2w
dx2+dθ
dx !=0
A22
d2θ
dx2+ksA33 dw
dx θ!+1
4A33l2d
dx d2w
dx2+dθ
dx !=0
(7)
trong đó A11,A12,A22 A33 các độ cứng
(A11,A12,A22)=Z
A
(λ(z)+2G(z))1,zh0,(zh0)2dA;A33 =Z
A
G(z)dA
h0=Z
A
[λ(z)+2G(z)]zdA.Z
A
[λ(z)+2G(z)]dA
(8)
Đặt biến mới γ=dw/dx θ;φ=dw/dx +θ tích phân phương trình đầu của (7), ta
ksγ=l2
4
d2φ
dx2+c1
A33
(9)
trong đó c1 hằng số tích phân. Tích phân phương trình thứ hai của (7), ta nhận được
l2
8ks
d4φ
dx41
2(1+α)d2φ
dx2=c1
A22
với α=A33l2
A22
Nếu sử dụng biến mới ¯x=x/L, ta
l2
8ksL4
d4φ
d¯x41
2(1+α)d2φ
L2d¯x2=c1
A22
Số hạng đầu tiên chứa cùng bậc cao (l/L)20nên được bỏ qua, từ đó
d2φ
dx2=2c1
A22 (1+α)(10)
Thực hiện tích phân các phương trình (9) (10), ta được
φ=
c1
A22 (1+α)x2+c2x+c3 γ=c1
A33ks 2+α
2(1+α)!
nên
θ=
c1
2A22 (1+α)x2+c2
2x+1
2"c3c1
A33ks 2+α
2(1+α)!#
w=c1
6A22 (1+α)x3+c2
4x2+1
2"c3+c1
A33ks 2+α
2(1+α)!#x+c4
(11)
trong đó c1,c2,c3,c4 các hằng số được xác định từ các điều kiện biên tại hai đầu dầm
w(x=0) =w1;θ(x=0) =θ1;w(x=L)=w2;θ(x=L)=θ2(12)
46
Anh, V. H., cs. / Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng
Từ đó ta nhận được
w=Nw
1w1+Nw
3w2+Nw
2θ1+Nw
4θ2;θ=Nθ
1w1+Nθ
3w2+Nθ
2θ1+Nθ
4θ2(13)
trong đó Nθ
i;Nw
j các hàm dạng phi cổ điển
Nθ
1=
6
L(1+η)
x
L1x
L;Nθ
2=1x
L"13
(1+η)
x
L#
Nθ
3=6
L(1+η)
x
L1x
L;Nθ
4=x
L"13
(1+η)1x
L#
Nw
1=1+1
(1+η)"2x
L3
3x
L2
ηx
L#
Nw
2=L
2(1+η)"2x
L3
(4+η)x
L2
+(2 +η)x
L#
Nw
3=
1
(1+η)"2x
L3
3x
L2
ηx
L#
Nw
4=L
2(1+η)"2x
L3
+(η2)x
L2
ηx
L#
(14)
η tỷ số giữa độ cứng uốn cắt của phần tử dầm Timoshenko xét đến hiệu ứng kích thước
η=12A22
ksA33L21+α
2(15)
Khi vật liệu đồng nhất, ηtương tự hệ số ϕdo Kahrobaiyan cs. [31] đề xuất, sau đó được
Dehrouyeh-Semnani Bahrami [34] hiệu chỉnh, đồng thời các hàm dạng phi cổ điển (14) tương tự
các hàm dạng được đề xuất trong [34,39,40]. Khi cho tham số kích thước bằng 0, ta nhận được các
hàm dạng của phần tử dầm Timoshenko cổ điển [41].
3. Thiết lập ma trận độ cứng ma trận khối lượng của dầm micro FGM Timoshenko
Đối với dầm micro Timoshenko đặt trên nền đàn hồi, biểu thức động năng T, thế năng biến dạng
Ucủa dầm thế năng biến dạng nền UF dạng [42,43]
T=1
2
L
Z
0
I11
u0
t!2
+ w
t!2
I12 u0
t
∂θ
t
+∂θ
t
u0
t!+I22 ∂θ
t!2
dx
U=1
2
L
Z
0
A11 u0
x!2
2A12
u0
x
∂θ
x
+A22 ∂θ
x!2
+ksA33 w
xθ!2
+l2
4A33 2w
x2+∂θ
x!2
dx
UF=1
2
L
Z
0
kww2+kp dw
dx !2
dx
(16)
trong đó I11,I12 I22 các men quán tính khối lượng
(I11,I12,I22)=Z
A
ρ(z)1,zh0,(zh0)2dA (17)
47