
-1-
SỞ GD & ĐT QUẢNG TRỊ
TRƯỜNG THPT VĨNH LINH
(Đề có 02 trang)
KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT LẦN 1
NĂM 2022
Bài thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài:120 phút, không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc văn bản:
HOA VÀ ĐẤT
(1) Khi con ra đời
Cha gọi con là nụ hoa
Cha gọi con là ngọn gió
Cha gọi con là mặt trời
Cha gọi con bằng tất cả
Những từ ngữ đẹp nhất trên đời.
…
(2) Khi ấy
phía sau vầng trán của con là bóng mẹ
rất âm thầm
Mẹ không làm thơ không viết văn
nên chỉ gọi con bằng con của mẹ.
Đôi mắt mẹ thâm quầng thiếu ngủ
bao nhiêu đêm con khó nhọc trong người
mẹ gầy đi, mẹ nhỏ nhoi
đi đứng, ra vào như chiếc bóng
để dành cho cha niềm hạnh phúc
cho cha chạy nhảy trong nhà
cho cha đích thực được làm cha
mẹ tiêu hao quá nhiều sinh lực
cha chỉ thức vài hôm
Mẹ có mấy khi được ngủ
nằm xuống, ngồi lên đêm hóa thành ngày
dòng sữa dành cho con
Mẹ nổi gân tay
Đã có bài thơ nào cho mẹ của con đây
Cha không nhớ ra một điều đơn giản nhất
nụ hoa nào có thể ra đời
thiếu sự cưu mang của đất.
(Hoa và đất, Đỗ Trung Quân, dẫn theo http:/thivien.net)
Trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản.
Câu 2. Hãy chỉ ra những dòng thơ nào trong đoạn (2) nhắc đến mối quan hệ không thể
thiếu giữa “hoa” và “đất”?
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của phép điệp ngữ, điệp cấu trúc trong đoạn (1)?
Câu 4. Thông điệp nào của văn bản có ý nghĩa nhất với anh/chị?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ nội dung văn bản ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày
suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa đức hi sinh của người mẹ.

-2-
Câu 2 (5,0 điểm)
Trong phút chốc, ngồi trước mặt chúng tôi lại vẫn là một người đàn bà lúng túng đầy sợ
sệt, nhưng có vẻ thông cảm với chúng tôi hơn. Mụ bắt đầu kể:
- Từ nhỏ tuổi tôi đã là một đứa con gái xấu, lại rỗ mặt, sau một bận lên đậu mùa. Hồi bấy
giờ nhà tôi còn khá giả, nhà tôi trước ở trong cái phố này. Cũng vì xấu, trong phố không ai lấy,
tôi có mang với một anh con trai một gia đình hàng chài giữa phá hay đến nhà tôi mua bả về
đan lưới. Lão chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ
đánh đập tôi.
Người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình:
- Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách
mạng về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm biển động suốt hàng tháng,
cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối…
- Lão ta hồi trước bảy nhăm có đi lính ngụy không? - Tôi bỗng hỏi một câu như lạc đề.
- Không chú à, cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính - bỗng mụ đỏ mặt - nhưng cái lỗi
chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật.
- Vậy sao không lên bờ mà ở? - Đẩu hỏi.
- Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có thể làm được cái nghề thuyền lưới vó? Từ ngày cách
mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng vẫn chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được!
- Ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không? - Tôi hỏi.
- Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống
rượu… Giá mà lão uống rượu… thì tôi còn đỡ khổ… Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được
với lão… đưa tôi lên bờ mà đánh…
- Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được! - Đẩu và tôi cùng một lúc thốt lên.
- Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất
vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông…
- Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu, - bất ngờ Đẩu trút một tiếng thở dài đầy chua chát, - trên
thuyền phải có một người đàn ông… dù hắn man rợ, tàn bạo?
- Phải – Người đàn bà đáp - Cũng có khi biển động sóng gió chứ chú?
Lát lâu sau mụ lại mới nói tiếp:
- Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần
phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp
con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con
cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho
con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc
hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó! - Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng
lên như một nụ cười - vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống
hòa thuận, vui vẻ.
- Cả đời chị có một lúc nào thật vui không? - Đột nhiên tôi hỏi.
- Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng được ăn no…
Anh/Chị hãy phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích trên; từ đó, rút
ra nhận xét về tư tưởng nhân đạo của nhà văn Nguyễn Minh Châu được thể hiện trong đoạn
trích.
(Trích Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12,
Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2008, tr. 75 - 76)
--------Hết--------
Họ và tên thí sinh:……………………………………………… Số báo danh….....
Chữ ký của cán bộ coi thi………………………………………

-3-
SỞ GD&ĐT QUẢNG TRỊ
TRƯỜNG THPT VĨNH LINH
THI THỬ TN THPT LẦN 1, NĂM HỌC 2021- 2022
ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM
Môn: Ngữ văn
(Đáp án và hướng dẫn chấm gồm 04 trang)
Phần
Câu
Nội dung
Điểm
I
ĐỌC HIỂU
3,0
1
-Văn bản trên thuộc PCNN nghệ thuật
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh trả lời chính xác như đáp án: 0,75 điểm.
- Học sinh không trả lời đúng “PCNN nghệ thuật”: không cho điểm
0,75
2
- Những dòng thơ:
nụ hoa nào có thể ra đời
thiếu sự cưu mang của đất.
Hướng dẫn chấm:
- Trả lời như đáp án: 0,75 điểm.
- Học sinh trích được 3 câu sau hoặc cả đoạn (2) cũng đạt điểm tối đa.
0,75
3
- Chỉ ra biện pháp tu từ:
+ Điệp ngữ: lặp lại cụm từ “Cha gọi con là”
+ Điệp cấu trúc: lặp cấu trúc câu “Cha gọi con là…”
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu cho lời thơ, giúp cho lời thơ giàu hình ảnh, giàu sức gợi.
+ Nhấn mạnh: với cha, con như là mọi điều đẹp đẽ và quý giá nhất. Qua đó,
đoạn thơ diễn tả tình yêu tha thiết, niềm hạnh phúc vô bờ của người cha khi
nói về con.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh trả lời được như đáp án: 1,0 điểm.
- Học sinh chỉ ra phép điệp từ, điệp cấu trúc, mỗi biện pháp: 0,25 điểm
- Học sinh trả lời được 1/2 ý của phần tác dụng: 0,25 điểm.
1,0
4
Học sinh rút ra một thông điệp có ý nghĩa nhất đối với bản thân.
Có thể theo gợi ý sau: Tình yêu gia đình; cách yêu thương của cha, mẹ; đức
hi sinh của mẹ; chữ hiếu…
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh trình bày thuyết phục: 0,5 điểm.
- Học sinh trình bày chưa thuyết phục: 0,25 điểm.
0,5
II
LÀM VĂN
7,0
1
Viết đoạn văn về ý nghĩa đức hi sinh của người mẹ
2,0
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn
Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân
- hợp, móc xích hoặc song hành.
0, 25
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Ý nghĩa đức hi sinh của người mẹ
0,25
c. Triển khai vấn đề nghị luận
Học sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề
nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ đức hi sinh của người mẹ. Có
thể theo hướng sau:
- “Đức hi sinh” là sự quên mình vì người khác. Đây là một trong những
phẩm chất quý giá của người mẹ.
- Biểu hiện của đức hi sinh ở mẹ: yêu thương con vô điều kiện, từ việc sinh
thành, dưỡng dục…. mẹ đều chấp nhận khổ cực, vất vả, sự hạn chế về thời
1,0

-4-
gian, sự xấu xí về vóc dáng, nhan sắc…
-> Đức hi sinh của người mẹ bao la, không bao giờ ngừng nghỉ, không bao
giờ mong được đáp trả.
- Ý nghĩa của đức hi sinh của người mẹ:
+ Để giúp con cái có một cuộc sống đầy đủ nhất, những gì tốt đẹp nhất…
+ Giúp cho mối quan hệ gia đình trở nên gắn bó, khăng khít hơn.
-> Đức hi sinh của người mẹ thật cao đẹp, cần được ngợi ca, tôn trọng.
- Nguồn gốc của đức hi sinh: Tình yêu con tha thiết, bao la
- Bàn bạc, mở rộng: Sự hi sinh vô điều kiện đó có thể làm cho con cái ỉ lại,
hư hỏng, sống ích kỉ, vô ơn…
- Bài học liên hệ: Con cái cần có thái độ biết ơn, tôn trọng mẹ, nỗ lực phấn
đấu thành công trong cuộc sống để mẹ an tâm, tự hào…
Hướng dẫn chấm:
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; dẫn chứng tiêu biểu, phù
hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng (1,0 điểm).
- Lập luận chưa thật chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng nhưng không có
dẫn chứng hoặc dẫn chứng không tiêu biểu (0,75 điểm).
- Lập luận không chặt chẽ, thiếu thuyết phục: lí lẽ không xác đáng, không
liên quan mật thiết đến vấn đề nghị luận, không có dẫn chứng hoặc dẫn
chứng không phù hợp (0,5 điểm).
- Học sinh viết được 01 đoạn văn, đảm bảo về hình thức, ít sai lỗi chính tả, ít
tẩy xóa (0,25 điểm).
Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với
chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
d. Chính tả, ngữ pháp
Bảo đảm chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
Hướng dẫn chấm:
- Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp.
0,25
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Hướng dẫn chấm: Học sinh huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản
thân để bàn luận về tư tưởng, đạo lí; có sáng tạo trong viết câu, dựng đoạn
làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh.
0,25
2
Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích “Trong
phút chốc… ăn no.” Từ đó, rút ra nhận xét về tư tưởng nhân đạo của
Nguyễn Minh Châu được thể hiện trong đoạn trích.
5,0
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát
được vấn đề.
0,25
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Những đặc điểm nổi bật về cuộc
đời, tính cách, tâm hồn nhân vật người đàn bà hàng chài và tư tưởng
nhân đạo của tác giả thể hiện trong đoạn trích.
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm.
- Học sinh xác định chưa đầy đủ vấn đề nghị luận: 0,25 điểm.
0,5
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao
tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu
sau:
* Giới thiệu khái quát về tác giả (0,25 điểm), truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài
xa và vấn đề NL + dẫn đoạn trích (0,25 điểm).
0,5

-5-
* Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích “Trong
phút chốc… ăn no.” Từ đó, rút ra nhận xét về tư tưởng nhân đạo của
Nguyễn Minh Châu được thể hiện trong đoạn trích.
**Giới thiệu ngắn gọn về nhân vật người đàn bà hàng chài:
- Không có tên cụ thể
- Tuổi trạc 40.
- Dáng vóc thô kệch, mặt rỗ, sắc thái mỏi mệt. Ngoại hình của người đàn bà
đã vẽ nên diện mạo lam lũ, nhọc nhằn...
- Thái độ cam chịu những trận đòn của người chồng.
**Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong câu chuyện tại tòa án
huyện:
Qua thái độ, cách xưng hô, lời kể (cũng là lời giải thích lí do xin không bỏ
chồng) của người đàn bà, ta thấy:
- Cuộc đời lấm láp nỗi khổ: từ nạn bạo hành, từ nghề mưu sinh vất vả, từ
hoàn cảnh gia đình đông con...
- Vẻ đẹp tỏa sáng từ tính cách, tâm hồn:
+ Lòng bao dung, nhân ái, vị tha: chị nhận tất cả lỗi về mình, nhận hết trách
nhiệm về mình.
+ Sự thấu hiểu lẽ đời: Chị hiểu nguyên nhân sâu xa dẫn đến hành động vũ
phu của chồng. Chị không coi chồng là thủ phạm gây ra nỗi khổ đời mình...
+ Đức hi sinh, lòng thương con vô bờ bến: Chị quan niệm lấy chồng thì phải
theo chồng rồi phải nuôi con khôn lớn. Chị chấp nhận tất cả vì con. Chị
không muốn con bị tổn thương về tâm hồn. Tình thương con của chị không
chỉ gắn liền với cảm xúc, tình cảm mà còn là lí trí, trách nhiệm của một người
mẹ.
+ Niềm khát khao hạnh phúc bình dị đời thường.
- Nghệ thuật đặc sắc: Đặt nhân vật trong tình huống cụ thể, thông qua
sự phát hiện và nhận thức của Phùng và Đẩu, sử dụng chi tiết nghệ
thuật đặc sắc (chi tiết miêu tả thái độ, giọng điệu, lời nói..), ngôn từ
giản dị mà sâu sắc...
**Nhận xét về tư tưởng nhân đạo của tác giả thể hiện trong đoạn trích:
- Thể hiện tấm lòng thương cảm, thấu hiểu sâu sắc của tác giả cho số phận và
cuộc đời của người đàn bà hàng chài - những người dân vùng biển luôn có
cuộc sống bấp bênh, lam lũ, vất vả.
- Khẳng định, trân trọng và ngợi ca vẻ đẹp tính cách, tâm hồn của người phụ
nữ lao động và đặt niềm tin tốt đẹp ở họ.
- Thương cho một kiếp người như gã chồng bị thay đổi tính cách do môi
trường, hoàn cảnh sống.
- Tố cáo những hậu quả mà chiến tranh để lại trên đất nước ta: đói nghèo, lạc
hậu, sự thiếu hụt về tri thức, sự kém hiểu biết về kế hoạch hóa gia đình...
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh cảm nhận về nhân vật trong đoạn trích đầy đủ, sâu sắc: 2,5 điểm.
- Học sinh cảm nhận chưa đầy đủ hoặc chưa sâu sắc: 1,75 điểm - 2,25 điểm.
- Cảm nhận chung chung, chưa rõ: 0,75 điểm - 1,25 điểm.
- Cảm nhận sơ lược, không rõ: 0,25 điểm - 0,5 điểm.
0,5
1,5
0,5
**Đánh giá chung
- Đoạn trích góp phần khắc họa hoàn chỉnh, thành công, ấn tượng về
nhân vật người đàn bà hàng chài; từ đó góp phần thể hiện quan niệm
của Nguyễn Minh Châu về cách nhìn nhận, đánh giá con người và cuộc
sống.
- Người đàn bà hàng chài được khắc họa trong đoạn trích là hình ảnh
0,5

