ĐIỆN TỬ HÓA QUÁ TRÌNH TUYỂN DỤNG LAO ĐỘNG
VÀ THÁI ĐỘ CỦA LAO ĐỘNG TIỀM NĂNG
TRONG NGÀNH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬVIỆT NAM: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
ThS. Kiều Quốc Hoàn1
Tóm tắt: Trong thời gian gần đây, thế giới đang chứng kiến xu thế mạnh mẽ của việc ứng dụng công nghệ
thông tin vào hoạt động của các doanh nghiệp, và quản trị nguồn nhân lực cũng không nằm ngoài xu thế đó.
Điện tử hóa hệ thống tuyển dụng đã được các doanh nghiệp sử dụng ngày càng phổ biến, và mang lại những
lợi ích thiết thực như những lợi ích thiết thực như giảm thiểu chi phí, trước áp lực cạnh tranh trên thị trường lao
động. Đây là cách thức tốt nhất để tiếp cận các đối tượng lao động tiềm năng. Người lao động có nhu cầu tìm
kiếm việc làm cũng cho thấy sự quan tâm khi tiếp cận với những thông tin và quảng cáo điện tử về việc làm.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thực hiện một nghiên cứu đánh giá tổng quan về mối quan hệ giữa tuyển
dụng điện tử và thái độ của người lao động tiềm năng khi tiếp cận hệ thống tuyển dụng này của doanh nghiệp.
Kết luận được rút ra là cá nhân lao động tiềm năng có xu hướng sử dụng hệ thống liên quan đến công nghệ
được xác định bởi 2 nhân tố chính: đánh giá về tính hữu dụng, và mức độ dễ sử dụng. Các nhân tố đặc trưng
này sẽ ảnh hưởng đến thái độ của cá nhân khi tiếp cận hệ thống tuyển dụng điện tử thể hiện qua 3 nhân tố sau:
1- Dự định nộp hồ sơ; 2 – Tiếp tục tiếp cận; 3- Giới thiệu cho người khác. Dựa trên kết quả đó, nghiên cứu xây
dựng một mô hình mang tính nền tảng sẽ được sử dụng để đánh giá tác động của hệ thống tuyển dụng điện
tử đối với thái độ của những lao động tiềm năng trong ngành thương mại điện tử ở Việt Nam.
Từ khóa: Quản trị nhân lực, tuyển dụng điện tử, thương mại điện tử
Abstract: Nowaday, the world has been experiencing a tremendous application of information technology
within the business organizations. HRM also tends towards using technology extensively. Electronic
recruitment is the system of recruiting candidates through electronic sources is now widely practiced as part of
the technology orientations. More and more companies currently recruit online, partly because of cost savings
and competitive pressure, and partly because it is the best way to reach their target group of applicants.
Recruitment, one of the most important functions of HR, is becoming more and more exposed to Internet
and many firms are using electronic recruitment system instead of conventional paper based employee
recruitment. The job seekers also are showing interest in seeking job related information and advertisement
electronically. In this study, we make a literature review regarding to relation ship between E- recruitment and
job cadidates attitude when asseccing the firms e – recruitment system. And conclusion is that individuals’
intention to use a technology related system is determined by two main factors: perceived usefulness and ease
of use. The variable candidates attitude is formed through three factors 1) Intention to apply, 2) Continuous
access and 3) Recommendations to others. Based on it, the study conduct a framework model that will be used
to estimate affect of e-recruitment on candidates attitude in Vietnam ecommerce sector.
Keywords: Human resource management; electronic recruitment; e-commerce
1 Email: hoandhtm@gmail.com, Khoa Quản trị nhân lực, Trường Đại học Thương mại.
119
PHẦN 1. QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP
1. GIỚI THIỆU
Với lợi thế thị trường tỷ lệ người sử dụng smartphone lớn nhất khu vực số lượng
người bán hàng trực tuyến cũng rất cao (Theo Pearl Nguyễn, trưởng đại diện của bộ phận bán hàng
Việt Nam trên Google), gần đây Việt Nam đang chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của ngành
công nghiệp thương mại điện tử, cụ thể năm 2018 Việt Nam 53% dân số sử dụng Internet
gần 54 triệu dân sở hữu smartphone.
Một báo cáo của Google Temasek cho thấy tại khu vục Đông Nam Á trong năm 2018 tỷ
trọng của bộ phận thương mại điện tử trong nền kinh tế Internet đã tăng lên đến 32%. Riêng thị
trường Việt Nam, quy mô của khu vực này đã chiếm 2,8 tỷ USD, với tốc độ tăng hàng năm 87%.
Cũng theo Google và Temasek, tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực thương mại điện tử của Việt Nam
xếp thứ 2 khu vực Đông Nam Á, chỉ sau Indonesia. Quy của thương mại điện tử từ 4,07 tỷ
USD vào năm 2015, đạt 5,1 tỷ vào 2016, 6,2 tỷ vào 2017 và sẽ sớm đạt con số 10 tỷ USD vào năm
2020, lúc đó khoảng 30% dân số Việt Nam sẽ mua bán trên shop online với mức chi tiêu trung bình
khoảng 350 USD một người/ năm. Thương mại điện tử dự báo thực sự bùng nổ từ năm 2019 đặc
biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những con số ấn tượng này mang lại cho Việt Nam cơ
hội tuyệt vời để phát triển mạnh mẽ nền kinh tế số hóa.
Một nghiên cứu gần đây của Viện nghiên cứu về sự lãnh đạo toàn cầu trực thuộc Đại học Tufts
Mỹ cho thấy Việt Nam xếp hạng thứ 48 trên 60 quốc gia trong lĩnh vực chuyển đối nhanh chóng
sang nền kinh tế số hóa và đứng thứ 22 trong lĩnh vực số hóa. Một điều tra về chính phủ điện tử do
Liên hợp quốc thực hiện năm 2018 chỉ ra rằng, từ 2014 Việt Nam đã nhẩy 11 bậc tới vị trí 88 trên
bảng xếp hạng 193 quốc gia và vùng lành thổ về chỉ số phát triển chính phủ điện tử, đứng thứ 7 ở
khu vực ASEAN, sau Singapore, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Brunei.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế kỹ thuật số bào gồm thanh
toán điện tử, hệ thống phân phối, nguồn nhân lực, công nghệ thông tin, hệ thống an ninh, an toàn
mạng còn nhiều hạn chế. Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam, ngay cả những doanh nghiệp về thương
mại điện tử cũng không quan tâm nhiều đến sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ hiện đại.
Những công nghệ về thương mại điện tử ngày nay đang thay đổi cách các công việc,
nhiệm vụ được hình thành, và chính nó đã tham gia một cách tích cực vào cách thức doanh nghiệp
quản lý nguồn nhân lực của mình. Mặc dù những tác động của công nghệ thông tin vào công việc
việc làm đã chủ đề của nhiều nghiên cứu, nhưng Việt Nam đến nay vẫn rất ít sự quan tâm
dành cho thương mại điện tử và sự tác động ứng dụng số hóa đến công việc và hoạt động quản lý
nguồn nhân lực của các doanh nghiệp. Nghiên cứu này tiến hành tổng hợp tập trung vào phân
tích những nghiên cứu trước đó về ứng dụng số hóa trong tuyển dụng nhân sự, đặc biệt là tác động
của nó đến thái độ của người lao động tiềm năng. Từ đó đề xuất một mô hình phân tích ảnh hưởng
của tuyển dụng điện tử đến thái độ của lao động tiềm năng trong lĩnh vực thương mại điện tử
Việt Nam.
2. THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM VÀ NGUỒN NHÂN LỰC
Khi nói về những thuộc tính của quản trị nhân lực khi ứng dụng số hóa, cần thiết phải nhìn
nhận trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử. Hiện nay do phần lớn doanh
120 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
nghiệp trong lĩnh vực thương mại điện tử đều mới khởi nghiệp, nhưng các hình thức tổ chức của
lại rất đa dạng, nên việc tìm hiểu nguồn nhân lực trong thương mại điện tử là một vấn đề không
đơn giản, thực sự rất khó có thể rút ra được những nhân tố đặc trưng phù hợp và nắm bắt được hết
sự đang dạng của nó.
Bởi những đặc điểm ưu việt như tính mới lạ về lĩnh vực kinh doanh, tiềm ẩn những trải
nghiệm mới hấp dẫn đầu tư, nên những doanh nghiệp start-up trong lĩnh vực thương mại điện
tử đang thu hút được nhiều nhân lực giỏi từ những ngành công nghiệp truyền thống, ngay cả khi
những người này thể không kiến thức phong phú về lĩnh vực họ dự định tham gia. Đặc
điểm này cần thiết đối với nguồn nhân lực thương mại điện tử, bởi lẽ sự phát triển của thương
mại điện tử đòi hỏi nhân lực trong lĩnh vực này phải sự hiểu biết mạnh mẽ, sâu rộng về nhiều
ngành công nghiệp khác nhau, về viễn cảnh mà nó mong muốn đạt được, giúp họ định hình nên hệ
sinh thái thương mại điện tử phát triển sau này.
Nhiều chuyên gia khẳng định rằng, để thành công trong lĩnh vực thương mại điện tử các
chuyên gia trong lĩnh vực quản trị nhân lực nên khả năng nhìn vào bức tranh toàn cảnh rộng lớn
hơn và liên tục sáng tạo và tối ưu hóa nguồn nhân lực trong mọi quá trình vận hành doanh nghiệp.
Có 7 đặc điểm quản trị nhân lực quan trọng đối với ngành công nghiệp thương mại điện tử
1. Người làm việc nhóm với khả năng tạo ra cảm giác đồng thuận, nhất trí “Một nhóm, một
mục tiêu”.
2. sự hiểu biết mạnh mẽ về các ngành công nghiệp khác nhau, về bối cảnh tiềm năng,
về cách thức để xây dựng hệ sinh thái thương mại điện tử.
3. Khả năng và kinh nghiệm để tham gia tích cực vào các quyết định kinh doanh.
4. khả năng trong việc xây dựng mối quan hệ với đúng người đúng thời điểm bằng
những phương cách phù hợp.
5. Có khả năng ứng biến liên tục và tối ưu hóa tại mọi thời điểm và trong mọi quá trình.
6. Có khả năng thích ứng và khả năng định hình trong từng tình huống kinh doanh.
7. Khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề trong một bối cảnh rộng lớn hơn.
Nền công nghiệp thương mại điện tử ràng phạm vị rộng hơn nếu so với các lĩnh vực
khác, đây cũng là nơi mà tầm quan trọng ngày căng gia tăng của nguồn nhân lực được thừa nhận.
Chúng ta có thể thấy những đám đông thành niên đầy phấn khích tham gia các dự án khởi nghiệp
trong lĩnh vực thương mại điện tử, khi hứa hẹn mang lại những khoản thu nhập cao tiêu
chuẩn sống đáng ước. Nhưng để được đội ngũ nhân lực tài năng vẫn luôn một thách thức.
Để khắc phục triệt để vấn đề này, chúng ta thể lựa chọn những giải pháp tự động hóa, số hóa cho
quá trình tuyển dụng. Thế giới kinh doanh thay đổi rất nhanh chóng, và các công nghệ mới không
ngừng được giới thiệu, người lao động đến rồi đi, tình hình tài chính, môi trường kinh doanh của
doanh nghiêp liên tục biến động, nhưng vai trò của nguồn nhân lực trong việc giúp doanh nghiệp
ổn định trước những thay đổi không thể bác bỏ. Lên kế hoạch kiểm soát sự thay đổi giúp cho
người lao động hiểu vai trò của họ trong bức tranh rộng lớn hơn của doanh nghiệp. Nó chính bắc
những cây cầu giữa các phòng ban và nhà quản lý, và cho phép mọi người phân tích về những tình
121
PHẦN 1. QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP
huống thể xảy ra trong kinh doanh. Nguồn nhân lực sẽ nắm lấy những thông tin này, phát
triển kế hoạch quản lý cho khủng hoảng, cho những thay đổi trong công việc và để củng cố niềm
tin của người lao động vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
3. NHỮNG HOT ĐỘNG CẤU THÀNH QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỆN TỬ
Quản trị nguồn nhân lực điện tử (E- human resource management) là việc lên kế hoạch, triển
khai và ứng dụng công nghệ thông tin vào việc liên kết mạng lưới hỗ trợ các cá nhân và chủ thể
(ít nhất 2 chủ thể) hợp tác với nhau hình thành nên hành động của nguồn nhân lực. Nó bao gồm:
Tuyển dụng nhân sự điện tử (E – Recruitment) được biết đến như tuyển dụng online, thực tế
là việc sự dụng công nghệ và những nguồn lực dựa trên nền tảng Web cho các nhiệm vụ tìm kiếm,
thu hút, đánh giá, phỏng vấn và tuyển dụng nhân sự mới.
Mục đích của việc tuyển dụng nhân sự thương mại điện tử là tạo ra những quá trình hiệu quả
hơn, cũng như ít tốn kém hơn. Việc tuyển dụng online có thể giúp mở rộng khả năng tiếp cận với
các ứng viên tiềm năng, và tạo những điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình tuyển chọn. Hoạt động
xúc tiến online nhằm xây dựng hình ảnh doanh nghiệp như một nơi làm việc đáng mong đợi, thông
qua các website và các công cụ khác, là một yếu tố cấu thành của tuyển dụng điện tử. Phần mềm
và những hệ thống tuyển dụng điện tử đã rất phổ biến và sẵn sàng hỗ trợ quá trình này từ việc nộp
hồ sơ, đến những dịch vụ bộ sản phẩm. Hệ thống quản tuyển dụng một bộ sản phẩm kết
hợp hoặc sẽ định hướng và tự động hóa quá trình tuyển dụng liên quan.
Tuyển chọn điện tử (E- Selection): quá trình phỏng vấn đánh giá các ứng cử viên cho
một công việc cụ thể lựa chọn các nhân lực cho một vị trí việc làm dựa trên những tiêu chuẩn
cụ thể. Việc tuyển chọn nhân viên có thể là một quá trình đơn giản, nhưng cũng có thể rất phức tạp
phụ thuộc vào doanh nghiệp tuyển dụng vào vị trí tuyển dụng. Những quy định luật pháp đối với
việc tuyển dụng như chống phân biệt đối xử phải được tuân thủ trong suốt quá trình tuyển dụng.
Điện tử hóa quá trình học tập (E – Learning): được hiểu một cách chính thức là sử dụng máy
tính để cung cấp một phần hoặc toàn bộ một khóa đào tạo, được thiết kế để giảng dạy trường,
hoặc cung cấp những thành phần của chương trình đào tạo kinh doanh bắt buộc, hoặc cung cấp
trọn bộ khóa học từ xa.
Trong những ngày đầu, điện tử hóa quá trình học tập nhận được những đánh giá tiêu cực, khi
mà nhiều người nghĩ rằng việc mang máy tính vào phòng học sẽ loại bỏ nhân tố con người trong
quá trình cung cấp kiến thức, cái mà nhiều người học cho rằng là tối cần thiết và luôn đóng vai trò
trung tâm. Nhưng thời gian trôi qua, công nghệ ngày càng phát triển và được ứng dụng rộng rãi, ai
cũng mang bên mình một cái điện thoại thông minh, máy tính bảng được sử dụng phổ biến trong
lớp học văn phòng; các công cụ, thiết kế mang tính tương tác đã làm cho việc học từ xa thuận
lợi cho những người dùng nhân, chúng trở thành trung gian hiệu quả cung cấp những bài học
hữu ích đến mọi đối tượng có nhu cầu.
Xây dựng quan hệ đối tác với nhà cung cấp các chương trình đào tạo có chất lượng, kết hợp
với những nhóm kỹ thuật tận tâm, những trung tâm đào tạo ảo được xây dựng khả năng cung
cấp môi trường học tập tổng hợp hoàn hảo, mang lại cho mọi người cơ hội nâng cao trình độ bằng
những trương trình đào tạo online hiệu quả, tiện ích.
122 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Điện tử hóa quá trình đào tạo (E Training): nghĩa việc cung cấp, thực hiện các chương
trình học tập, đào tạo thông qua các công cụ điện tử. E – training bao gồm việc sử dụng máy tính,
hoặc bất cứ thiết bị điện tử nào khác để cung cấp tài liệu học tập. E – training cũng sự hội tụ giữa
Internet và học tập, hay con gọi là học tập dựa trên nền tảng Internet.
Điện tử hóa đánh giá hiệu quả (E-Performance Appraisal): Bằng việc ứng dụng công nghệ
thông tin trong đánh giá hiệu quả sẽ góp phần năng cao tính thực tế, chính xác. sẽ hướng nhà
quản vào một hệ thống đánh giá hiệu quả đồng bộ, duy trì hệ thống bảng ghi đảm bảo tính
cập nhật theo thời gian. mang lại tối đa lợi ích cho cả nhà quản nhân viên nhờ quá trình
đánh giá có năng suất và độ chính xác cao.
4. ĐIỆN TỬ HÓA QUÁ TRÌNH TUYỂN DỤNG
Một trong những lợi thế cạnh tranh lớn nhất của doanh nghiệp phát triển duy trì nguồn
nhân lực chất lượng cao của mình (Karim et al., 2015). Và một trong những chức năng quan trọng
nhất mang lại hiệu quả của doanh nghiệp là khả năng thu hút, phát triển những kỹ năng, năng lực
của đội ngũ lao động trình độ cao (Thomas & Ray, 2000). Để thể cạnh tranh thành công trong
Môi trường kinh doanh khắc nghiệt như ngày nay, doanh nghiệp phải khả năng được, phát
triển duy trì lực lượng lao động chất lượng cao, nhưng đây lại điều kiện rất khó khăn, do
nguồn nhân lực chất lượng cao này luôn đối tượng săn đuổi của các doanh nghiệp khác. Thêm
vào đó, công nghệ thông tin và sự đầu vào các ngành khoa học tiên tiến đang làm thay đổi mạnh
mẽ những cách thức tiến hành kinh doanh. một trong những lĩnh vực bị ảnh hưởng rất nhiều
của công nghệ thông tin chính tuyển dụng lao động trong các doanh nghiệp. Ngày nay người
ta thường hay nói đến tuyển dụng lao động online, hay ứng dụng công nghệ thông tin trong tuyển
dụng (e-recruitment hay online recruitement). Tại Việt Nam với sự phát triển mạnh mẽ của nền
tảng công nghệ thông tin, đại bộ phận dân chúng đã có thể nhanh chóng tiếp cận với Internet, với
các website mạng hội, các ứng dụng chạy trên các nền tảng này được sử dụng rất phổ biến.
Trong thời gian gần đây, ngày càng nhiều doanh nghiệp thực hiện tuyển dụng online (Allen,
Mahto, Otondo, 2007; Jones & Dages, 2003; Maurer & Liu, 2007), một phần bởi chi phí tuyển
dụng online rẻ hơn các cách truyền thống, một phần khác bởi áp lực cạnh tranh ngày căng tăng lên.
Trên thị trường lao động, số tỷ trọng người trẻ trong độ tuổi lao động ngày cảng giảm do tỷ lệ sinh
có xu hướng giảm đi, thêm vào đó do tác động của xu hướng toàn cầu hóa dẫn đến tình trạng chảy
máu chất xám, thiếu lao động chất lượng cao các quốc gia đang phát triển, trong đó Việt
Nam. Điều này dẫn đến mức độ cạnh tranh trong tuyển dụng lao động giữa các doanh nghiệp ngày
căng cao (Collins & Han, 2004; Collins & Stevens, 2002; Ng & Burke, 2005). Tuyển dụng được
miêu tả như một quá trình tích cực của quảng cáo để tìm kiếm những ứng cử viên tiềm năng,
là giai đoạn đầu tiên và là một phần rất quan trọng của quá trình thuê mướn lao động đáp ứng nhu
cầu về nguồn nhân lực của doanh nghiệp.
Mondy Noe (2008) đã định nghĩa tuyển dụng một quá trình xác định thu hút những
ứng cử viên tiềm năng, và lựa chọn là một quá trình để đưa ra quyết định cuối cùng từ những ứng
cử viên này thông qua một số bài kiểm tra. Tuyển dụng điện tử là một công cụ sử dụng công nghệ
thông in để mang lại hiệu quả hơn, đẩy nhanh tốc độ và hoàn thiện quá trình tuyển dụng (Tong &
Sivanand, 2005). Tuyển dụng điện tử cũng là một phần của quản trị nhân lực điện tử, ở đó quản trị