
Điều kiện áp dụng án lệ của một số quốc gia
trên thế giới, kinh nghiệm cho Việt Nam
Trương Thị Thu Trang(*)
Nguyễn Thị Hồ Điệp(**)
Tóm tắt: Án lệ có vai trò quan trọng trong hoạt động xét xử của tòa án, giúp giải quyết
kịp thời các tranh chấp phát sinh khi chưa có luật điều chỉnh hoặc khi đã có luật nhưng
phát sinh tình huống mà luật chưa dự liệu hết hay quy định của luật chưa rõ ràng, từ
đó giúp bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật; bảo đảm công bằng, công lý; tăng
cường tính minh bạch và tiên liệu được kết quả trong các phán quyết của tòa án. Việc áp
dụng án lệ cần đảm bảo tuân thủ một số điều kiện nhất định. Bài viết tìm hiểu về điều kiện
áp dụng án lệ của một số quốc gia trên thế giới, từ đó gợi ý kinh nghiệm cho Việt Nam.
Từ khóa: Án lệ, Điều kiện áp dụng án lệ, Anh, Pháp, Đức, Việt Nam
Abstract: In court proceedings, case law functions as prompt resolution for disputes
that arise in cases where there are no legal norms, a law is unable to fully anticipate certain
situations or provisions of a law seem unclear. Thereby, it helps ensure consistent application
of the law; sustain fairness and justice; and increase transparency and predictability in court
decisions. The compliance with certain conditions is required to apply case law. The article
explores these conditions abroad, thereby drawing lessons for Vietnam.
Keywords: Case Law, Conditions for Applying Case Law, England, France, Germany,
Vietnam
Ngày nhận bài: 24/2/2024; Ngày duyệt đăng: 15/5/2024
1. Mở đầu1
Đời sống xã hội luôn vận động, phát
triển, còn các quy phạm trong các văn bản
1 Bài viết là sản phẩm của Đề tài cấp Bộ “Tiêu chí,
phương thức lựa chọn và điều kiện áp dụng án lệ
của một số quốc gia trên thế giới và bài học cho Việt
Nam” do TS. Trương Thị Thu Trang làm chủ nhiệm,
Viện Thông tin Khoa học xã hội chủ trì, thực hiện
năm 2023-2024.
(*) TS., Viện Thông tin Khoa học xã hội, Viện Hàn
lâm Khoa học xã hội Việt Nam;
Email: truongthutrangissi@yahoo.com
(**) ThS., Viện Thông tin Khoa học xã hội, Viện Hàn
lâm Khoa học xã hội Việt Nam;
Email: farfala129@gmail.com
pháp luật lại mang tính ổn định, hệ quả
là luật pháp có thể chưa bắt kịp sự phát
triển của xã hội để giải quyết các vấn đề
của cuộc sống. Nhằm khắc phục tình trạng
này, án lệ được hình thành để giải thích
pháp luật trong những trường hợp chưa có
quy phạm thành văn điều chỉnh; những vụ
việc với các tình tiết chính tương tự như
nhau sẽ được xét xử như nhau, đảm bảo áp
dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, từ
đó duy trì sự tôn trọng pháp luật. Ở Việt
Nam, án lệ chính thức được thừa nhận và
áp dụng từ năm 2015 theo Nghị quyết số
03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của

4 Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 6.2024
Hội đồng thẩm phán và sau đó được thay
thế bởi Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP
ngày 18/6/2019 của Hội đồng thẩm phán.
Tuy nhiên, việc áp dụng án lệ trong hoạt
động xét xử của tòa án hiện vẫn còn nhiều
vướng mắc. Do đó, việc tìm hiểu kinh
nghiệm về điều kiện áp dụng án lệ của một
số quốc gia trên thế giới, từ đó gợi ý kinh
nghiệm cho Việt Nam có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn.
2. Điều kiện áp dụng án lệ của một số
quốc gia trên thế giới
Trong quá trình xét xử, tòa án/thẩm
phán có thể áp dụng án lệ để giải quyết vụ
án. Việc áp dụng án lệ cần tuân theo một số
điều kiện nhất định theo quy định của pháp
luật từng nước. Sau đây, bài viết tổng hợp
một số điều kiện áp dụng án lệ ở một số
quốc gia trên thế giới thuộc hai hệ thống:
hệ thống Dân luật (Civil Law) với các nước
tiêu biểu như Cộng hòa Pháp, Cộng hòa
Liên bang Đức,…; hệ thống Thông luật
(Common Law) với các nước tiêu biểu như
Hoa Kỳ, Anh, Úc...
Thứ nhất là áp dụng án lệ khi chưa
có luật nhưng tòa án vẫn phải xử để bảo
đảm công lý. Đây thường là điều kiện áp
dụng của các nước theo hệ thống Dân luật.
Chẳng hạn, ở một số nước như Cộng hòa
Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, pháp luật
quy định tòa án không được từ chối giải
quyết vụ án vì lý do chưa có điều luật để
áp dụng1. Do đó, mặc dù không tìm thấy
văn bản quy phạm pháp luật nào trong hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật hoặc
không tìm thấy những điều, khoản được
quy định trong luật với tư cách một văn bản
quy phạm pháp luật độc lập thì tòa án vẫn
không được từ chối giải quyết vụ án. Điều
1 Điều 4 Bộ luật Dân sự Pháp quy định thẩm phán
có nghĩa vụ phải xét xử kể cả trong trường hợp pháp
luật không quy định hoặc quy định không rõ ràng về
vấn đề mà mình đang thụ lý.
này gắn liền với đạo đức và trách nhiệm
của thẩm phán trong việc thực hiện chức
năng bảo vệ công lý của tòa án.
Ở Cộng hòa Liên bang Đức, tòa án
được trao quyền xử lý tình huống không
có luật điều chỉnh (ohne eine gesetzliche
Grundlage/praeter legem) hoặc phát triển
một quy tắc pháp lý mới đi ngược lại lời
văn của luật về mặt hình thức (gegen den
Gesetzeswortlaut/contra legem) do bối
cảnh thực tiễn xã hội đã thay đổi. Ví dụ,
khoản 1 Điều 823 Bộ luật Dân sự Cộng
hòa Liên bang Đức quy định: bất kỳ ai cũng
phải có nghĩa vụ bồi thường nếu làm hỏng
tài sản của người khác. Tuy nhiên, phạm vi
bồi thường (từ Điều 249 đến Điều 252) lại
không chứa đựng quy định cho trường hợp:
Liệu một người có thể khởi kiện yêu cầu
bồi thường cho vật, khi mà người đó không
sử dụng vật đang bị hỏng trong thời gian
sửa chữa hay không. Tòa án tối cao Liên
bang Đức đã thiết lập một nguyên tắc án
lệ: Do khả năng sử dụng của vật bị mất đi,
do vậy phải bồi thường, nếu khả năng sử
dụng này được dùng vào việc thương mại
hóa (kommerzialisiert), người chiếm hữu
đã xem vật này là công cụ để giao dịch. Án
lệ này đã được thẩm phán áp dụng đối với
vụ việc một chiếc xe ô tô trong thời gian
sửa chữa, nếu người sửa chữa xe này dùng
nó vào mục đích thương mại, không được
sự đồng ý của chủ xe (Nguyễn Minh Tuấn,
Lê Minh Thúy, 2021).
Thứ hai là áp dụng án lệ khi luật không
rõ ràng, thẩm phán phải tự mình nhận thức,
giải thích luật và thể hiện nhận thức trong
bản án. Đây cũng thường là điều kiện áp
dụng của các nước theo hệ thống Dân luật.
Trong thực tiễn xét xử, tòa án/thẩm
phán có thể gặp tình huống có quy định
pháp luật liên quan đến vụ án nhưng nội
dung quy định pháp luật đó lại không rõ
ràng, có những cách hiểu khác nhau đòi hỏi

5
Điều kiện áp dụng án lệ… 5
tòa án/thẩm phán phải tự mình nhận thức,
giải thích luật. Khi đó, tòa án/thẩm phán
có thể áp dụng án lệ đã có tương tự với
tình huống này để xét xử. Đây cũng là nhu
cầu tự thân của chính các thẩm phán nếu
họ thực sự quan tâm đến vấn đề cần được
giải quyết.
Ở Cộng hòa Liên bang Đức, thuật
ngữ pháp lý được sử dụng phổ biến là
Rechtsfortbildung, có nghĩa là sự phát triển
pháp luật của tòa án. Phán quyết của tòa án
được sử dụng trước tiên để giải thích một
thuật ngữ hay quy phạm mà còn có nhiều
cách hiểu khác nhau, chưa thống nhất. Hay
ở Pháp, một số điều của Bộ luật Dân sự về
hợp đồng thường rất bao quát, đôi khi mập
mờ như: Việc giải thích hợp đồng trong luật
dân sự là gì? Nghĩa vụ của các bên được
hiểu như thế nào cho đúng trong những vụ
việc cụ thể... Do đó, khi xét xử, tòa án/thẩm
phán ở Pháp đã áp dụng nhiều án lệ của Tòa
phá án1 liên quan đến việc giải thích các
điều luật này. Chẳng hạn, trong vụ Guilloux
v. Société thichaffi neries nantaises (25 May
1870), Tòa án tối cao Pháp tuyên bố “một
bên sẽ không bị ràng buộc bởi nghĩa vụ vì lý
do đơn thuần là không thực hiện việc trả lời
thư tuyên bố anh ta bị ràng buộc như vậy.
Án lệ này của Tòa án tối cao Pháp đã được
áp dụng nhiều lần khi các tòa án/thẩm phán
giải quyết vụ việc liên quan đến nguyên tắc
mà trong đó xác định hành vi “im lặng” tự
nó không cấu thành một sự đồng ý trong
giao dịch hợp đồng (Nguyễn Minh Tuấn,
Lê Minh Thúy, 2021).
Thứ ba là áp dụng án lệ khi đã có luật
nhưng phát sinh tình huống mà luật chưa
dự liệu hết. Đây cũng thường là điều kiện
áp dụng của các nước theo hệ thống Dân
luật. Do khi giải quyết vụ việc, tình huống
mới phát sinh mà luật chưa dự liệu được
1 Tòa án tối cao của nước Công hòa Pháp.
nên thẩm phán phải tìm và áp dụng án lệ
cho tình huống mới đó.
Ở Pháp, trong nhiều vụ việc thuộc
lĩnh vực dân sự, các thẩm phán Pháp đã
sử dụng một quy tắc đạo đức để tránh việc
phải áp dụng một quy định luật quá cứng
nhắc do luật không dự liệu hết được các
tình huống phát sinh. Ví dụ như: Điều
544 Bộ luật Dân sự Pháp định nghĩa về
quyền tài sản một cách tuyệt đối: “Chủ sở
hữu có quyền thụ hưởng và sử dụng vật
một cách tuyệt đối nhất, miễn là không vi
phạm các điều cấm của luật hoặc của các
văn bản pháp quy”. Trên thực tế, nhiều
chủ sở hữu đã vận dụng quy định này một
cách tuyệt đối nhưng với mục đích xấu,
ví dụ: sơn tường của mình màu đen để
ngăn ánh sáng vào nhà hàng xóm; dựng
ống khói giả rất to nhằm hứng hết nguồn
nước không cho hàng xóm sử dụng... Đây
là hành vi không nhằm mang lại lợi ích
nào cho bản thân họ mà chỉ nhằm thoả
mãn việc “chơi xấu hàng xóm”. Các hành
vi này nếu căn cứ vào quy định tại Điều
544 Bộ luật Dân sự Pháp thì được phép,
nhưng dưới tư duy pháp lý của thẩm phán
thì việc áp dụng điều luật này một cách
thuần túy sẽ dẫn đến những hậu quả thiếu
công bằng. Bởi vậy, thẩm phán đã áp
dụng án lệ của Tòa phá án, trong đó căn
cứ vào các quy tắc đạo đức, dựa trên lập
luận là hành vi không mang lại lợi ích gì
cho chủ sở hữu hay việc làm tổn hại đến
hàng xóm và cân nhắc đến việc chủ sở
hữu có đạt được mục tiêu hợp pháp với ít
tổn hại cho hàng xóm hay không; hoặc so
sánh sự tương xứng giữa lợi ích của chủ
sở hữu và sự bất lợi cho các đối tượng
liên quan, từ đó giải quyết vụ việc theo
án lệ phù hợp với tình huống mới phát
sinh mà Bộ luật Dân sự Pháp chưa dự liệu
hết được (Nguyễn Minh Tuấn, Lê Minh
Thúy, 2021).

6 Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 6.2024
Thứ tư là vụ việc thuộc các trường hợp
bắt buộc áp dụng án lệ. Đây thường là điều
kiện áp dụng của các nước theo hệ thống
Thông luật. Ở các nước này, án lệ được coi
là một trong những nguồn luật áp dụng bắt
buộc, ít nhất là tại tòa án. Đồng thời, tòa
án cấp dưới có nghĩa vụ phải áp dụng án lệ
của tòa án cấp trên. Để đảm bảo sự thống
nhất trong việc xét xử, đảm bảo tính đúng
đắn về chuyên môn nghiệp vụ cũng như
thể hiện sự tôn trọng phán quyết của tòa
cấp trên, tòa cấp dưới có nghĩa vụ áp dụng
những bản án đã được tuyên của tòa án cấp
trên, căn cứ vào đó để đưa ra quyết định
cho vụ án cụ thể của mình.
Chẳng hạn, tại Hoa Kỳ, các tòa án cấp
dưới của Liên bang và các tòa án của bang
có nghĩa vụ tuân thủ các quyết định trước
đây của Tòa án tối cao Liên bang. Các phán
quyết của tòa án phúc thẩm khu vực của
Liên bang mang tính bắt buộc phải tuân
theo đối với các tòa án cấp dưới nằm trong
lãnh thổ khu vực đó chứ không ràng buộc
các tòa án khu vực khác. Tương tự, các
phán quyết của tòa án cấp trên chỉ có giá trị
ràng buộc đối với các tòa án cấp dưới trong
cùng một bang (Dẫn theo: Tòa án nhân dân
tối cao, 2012).
Tại Anh, án lệ có giá trị ràng buộc
chính thức đối với các vụ việc trong tương
lai. Thẩm phán được trao quyền làm luật
thông qua việc tạo lập và áp dụng án lệ.
Nền tảng để áp dụng án lệ trong hệ thống
này chính là nguyên tắc “Stare decisis”1,
theo đó, thẩm phán trong hệ thống các cơ
quan tòa án khi xét xử vụ việc cụ thể cần
phải căn cứ ngay vào các bản án trước đó,
đặc biệt là các phán quyết của các tòa án
cấp trên (Đặng Thị Hồng Tuyến, Bùi Thị
Minh Trang, 2020).
1 “Stare decicis” là một học thuyết, một nguyên tắc
pháp lý, tiếng La tinh có nghĩa là thẩm phán bị ràng
buộc bởi những phán quyết đã có trước đó.
Ở Úc, tòa án cấp dưới có nghĩa vụ phải
tuân theo các phán quyết trước đây của tòa
án cấp trên, cụ thể là tòa án tối cao của bang
phải tuân theo phán quyết của tòa toàn phần
hoặc tòa phúc thẩm hoặc tòa phúc thẩm hình
sự, và các tòa này phải tuân theo các phán
quyết của Tòa án tối cao Liên bang (High
Court). Còn tại Anh, không phải toàn bộ các
phán quyết của Thượng nghị viện, tòa phúc
thẩm và tòa án cấp cao đều có giá trị bắt
buộc, mà chỉ những bản án được xuất bản
mới trở thành án lệ và có giá trị bắt buộc.
Tuy nhiên, việc bắt buộc áp dụng án
lệ ở các nước theo hệ thống Thông luật chỉ
đặt ra với những điều kiện sau:
(i) Có sự phù hợp của án lệ với vụ việc
cần giải quyết, tức là án lệ được áp dụng
khi vụ án đang xét xử, vụ án có án lệ và có
sự giống nhau cơ bản giữa vụ án đó với án
lệ. Pháp luật trong hệ thống Thông luật quy
định trong trường hợp vụ án có án lệ và vụ
án đang xét xử giống nhau cơ bản thì phải
áp dụng án lệ. Ngược lại, nếu chúng có sự
khác biệt cơ bản thì tòa án không phải áp
dụng nhưng phải chỉ ra được sự khác biệt
cơ bản đó. Chẳng hạn, pháp luật Ireland
quy định: “Nếu thẩm phán không muốn áp
dụng án lệ thì phải đưa ra lập luận về việc
vụ án đang được xét xử là không giống như
vụ án được coi là án lệ” (Lưu Tiến Dũng,
2021: 815). Quy định này một lần nữa thể
hiện giá trị pháp lý của án lệ tại các nước
thuộc hệ thống Thông luật.
Nhưng việc hiểu và xác định thế nào
là giống nhau cơ bản lại không có sự thống
nhất mà tùy thuộc vào lập luận của thẩm
phán. Thông thường, thẩm phán phân tích
và phát hiện các tình tiết cơ bản của án lệ,
so sánh và đối chiếu với các tình tiết của vụ
việc đang giải quyết để đánh giá tình huống
pháp lý có phải là tương tự hay không, từ
đó quyết định áp dụng án lệ đã có để giải
quyết vụ án.

7
Điều kiện áp dụng án lệ… 7
(ii) Có sự phù hợp của án lệ với pháp
luật và với thực tiễn thực hiện quan hệ
pháp luật. Các quốc gia dù thuộc hệ thống
Thông luật hay Dân luật đều có quan niệm
chung là nguồn luật là văn bản quy phạm
pháp luật có vị trí thứ bậc cao hơn nguồn
luật án lệ. Điều này, chẳng hạn ở nước theo
hệ thống Thông luật như Anh, xuất phát từ
nguyên tắc chính trị dân chủ là tôn trọng
quyền làm luật tối cao của nghị viện nhằm
bảo đảm ý chí và lợi ích của nhân dân. Do
vậy, án lệ chỉ được áp dụng nếu nó phù
hợp với quy định pháp luật và thực tiễn
thực hiện pháp luật hiện hành, tức là nếu
có sự thay đổi về quy định pháp luật hiện
hành, kể cả trực tiếp hoặc gián tiếp điều
chỉnh vấn đề pháp lý mà án lệ đã giải quyết
thì tòa án sẽ không áp dụng án lệ. Khi đó,
tòa án chỉ cần viện dẫn quy định pháp luật
hoặc lập luận về sự thay đổi trong thực
tiễn thực hiện quan hệ pháp luật để khẳng
định lý do không áp dụng án lệ. Ngoài ra,
thẩm phán cũng có quyền điều chỉnh, bổ
sung, nghĩa là xử khác đi một phần. Thậm
chí các thẩm phán còn có quyền thay thế
án lệ cũ và đặt ra một án lệ mới, nghĩa là
ban hành một bản án khác với án lệ cũ.
Trong thực tiễn, việc này không xảy ra
thường xuyên, và nếu làm như vậy thì các
thẩm phán phải đưa ra được những lý lẽ
có sức thuyết phục cao và tranh luận rất
nhiều trước khi biểu quyết, chưa kể bản
án mới có thể bị tòa án cấp phúc thẩm hay
tòa án tối cao bác bỏ. Liên quan đến điều
này, pháp luật Ireland cũng có quy định tất
cả các án lệ trước năm 1992 được coi là
nguồn luật nếu chúng không bị phủ nhận
bởi luật thành văn sau đó (Dẫn theo: Lưu
Tiến Dũng, 2021).
Thứ năm là vụ việc thuộc các trường
hợp không bắt buộc áp dụng án lệ nhưng
tòa án/thẩm phán xét thấy nên/cần áp dụng
án lệ. Đối với nhiều nước theo hệ thống
Dân luật, án lệ tuy cũng đã có một vị trí nhất
định và có những vai trò khác nhau trong
lịch sử tồn tại của nó, nhưng về bản chất nó
chủ yếu vẫn được xác định là nguồn tham
khảo cho các chủ thể. Ở mức độ nào đó,
án lệ không được coi là nguồn luật chính
thức, vì vậy các thẩm phán không nhất thiết
phải tuân theo án lệ một cách triệt để. Tuy
nhiên, do các bản án của các thẩm phán ở
các tòa cấp thấp hơn có thể bị hủy bởi các
tòa cấp trên nên sẽ là khôn ngoan hơn khi
họ tìm đến “tiền lệ” đã được tạo ra bởi tòa
án cấp trên. Điều này có ý nghĩa vừa tạo
ra sự “an toàn” cho các thẩm phán của tòa
cấp dưới, đồng thời cũng góp phần tạo ra
sự thống nhất cho cả hệ thống pháp luật.
Với ý nghĩa đó, án lệ trong hệ thống pháp
luật này cũng đã gián tiếp có sự thừa nhận
nguyên tắc “stare decidis” trong quá trình
vận hành.
Còn ở các nước theo hệ thống Thông
luật, tòa án cùng cấp không có nghĩa vụ
phải tuân thủ, không bị ràng buộc bởi các
án lệ của nhau. Ví dụ, tại Úc, tòa án tối cao
của bang này không bị ràng buộc bởi án lệ
của tòa án tối cao bang khác. Nhưng trên
thực tế các tòa án tối cao ở các bang của
Úc rất chú ý tham khảo án lệ của nhau (Đỗ
Thanh Trung, 2020). Tại Hoa Kỳ, các phán
quyết của tòa án cấp dưới của liên bang về
những vấn đề mang tính liên bang không
có tính ràng buộc đối với các bang nhưng
được xem xét và cân nhắc rất cẩn thận. Tuy
nhiên, tại Ireland, các tòa án cùng cấp phải
tuân thủ án lệ của nhau.
Ngoài ra, ở các nước theo hệ thống
Thông luật, tòa án không bị ràng buộc bởi
án lệ của chính mình. Tòa án tối cao thường
không có nghĩa vụ phải tuân thủ cứng nhắc
các phán quyết trước đây của mình. Bởi lẽ,
tòa án tối cao có trách nhiệm với chính sách
pháp lý tổng thể của đất nước nên cần phải
linh động. Ví dụ, ở cấp liên bang, Tòa án

