intTypePromotion=1

Điều trị cận, viễn thị, loạn thị

Chia sẻ: Dai Hoc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:33

0
58
lượt xem
5
download

Điều trị cận, viễn thị, loạn thị

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Vào khoảng từ 10 đến 15 năm nay, với những cuộc cách mạng về tin học thì cũng có những cuộc bùng nổ về phẫu thuật khúc xạ đã giúp ích cho hàng triệu người trên thế giới thoát khỏi tật khúc xạ. Sự gia tăng này được xem là một niềm phấn kích cho các nhà sáng tạo ra cũng như các chuyên khoa nhãn khoa.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Điều trị cận, viễn thị, loạn thị

  1. Điều trị cận, viễn thị, loạn thị Vào khoảng từ 10 đến 15 năm nay, với những cuộc cách mạng về tin học thì cũng có những cuộc bùng nổ về phẫu thuật khúc xạ đã giúp ích cho hàng triệu người trên thế giới thoát khỏi tật khúc xạ. Sự gia tăng này được xem là một niềm phấn kích cho các nhà sáng tạo ra cũng như các chuyên khoa nhãn khoa. Các bác sĩ nhãn khoa ngày càng học hỏi nhiều về phẫu thuật khúc xạ và điều chính cần phải biết khuynh hướng của quần chúng ưa thích phẫu thuật ra sao và sự chọn lọc phẫu thuật nào thích
  2. hợp trong số hàng ngàn người bệnh với các độ khúc xạ rất khác biệt nhau. Có khoảng 12 hình thái kết hợp khác nhau của các tật khúc xạ, trong số đó cận thị chiếm khoảng 25% số người lớn trên toàn thế giới như bảng 1 cho biết tình trạng khúc xạ trên toàn nước Mỹ. Đã có rất nhiều nghiên cứu cho biết tỷ lệ cận thị tăng cao ở giới trí thức, ngoài ra tỷ lệ này lại cao hơn các nước châu Á như Đài Loan và Hồng Kông. Ở TPHCM trong một nghiên cứu mới đây của Hội Nhãn khoa TP cho thấy tỷ lệ
  3. này rất cao ở các trường đại học, các trường chuyên cấp III, và ở trên thế giới thì tỷ lệ cận thị mới đây cũng cao hơn so với trước kia như ở Mỹ và châu Á. Người ta nghĩ rằng tần suất cận thị tăng cao 1 phần là do yếu tố môi trường như làm việc gần mắt nhiều và việc đeo kính. Hướng dẫn về phẫu thuật khúc xạ Hiện nay có rất nhiều phương pháp phẫu thuật và mỗi loại phẫu thuật lại thích hợp với 1 loại độ khúc xạ nào đó, mỗi
  4. phương pháp đều có những ưu khuyết điểm riêng tùy theo độ khúc xạ và cũng tùy thuộc vào người bệnh. Ở Việt Nam hiện nay có 3 phương pháp phẫu thuật Phẫu thuật rạch giác mạc bằng dao kim cương đã có  từ 1990 Phương pháp mổ bằng Laser (mới có) với 2 kỹ thuật:  PRK o LASIK o Với 3 kỹ thuật mổ trên thì LASIK có ưu thế hơn nhiều, tuy nhiên không phải bất cứ người bị cận thị nào cũng có thể
  5. mổ được bằng LASIK, có khi cần phải mổ bằng PRK hay rạch giác mạc bằng dao kim cương. Ngoài ra cũng tùy thuộc vào giá cả của mỗi phương pháp có phù hợp với túi tiền của người bệnh hay không. Thí dụ 1 người bệnh cận thị 3 - 4 độ có thể mổ được cả 3 phương pháp nói trên. Việc chọn phương pháp nào lại tùy thuộc vào người bệnh, căn cứ trên một số các yếu tố như động cơ đi mổ: vì công việc, vì thẩm mỹ, vì nghề nghiệp với kết cục của phẫu thuật và tiền căn của người bệnh v.v... Quyết định này có
  6. liên quan đến việc suy tính lợi hại, những cái được và những nguy cơ có thể xảy ra của từng trường hợp người bệnh và khả năng tài chính của họ. Thí dụ với người trẻ độ cận 6 độ thì mổ LASIK là tốt nhất. Nhưng với người chơi thể thao hoạt động nhiều như đánh quần vợt hay quyền anh thì mổ PRK hơn là LASIK vì LASIK có thể bị lệch vạt khi bị đụng chạm mặc dù là rất hiếm. Vì vậy khi quyết định mổ phương pháp nào cần phải thảo luận rất kỹ với phẫu thuật viên để hiểu rõ từng phương pháp sao cho phù hợp với mình.
  7. Điều trị không phải mổ: Dùng kính Người ta chưa biết rõ người phát minh ra kính đầu tiên là ai. Nhưng kính để cho đeo thuộc nhiều dạng khác nhau được mô tả khoảng 700 năm nay. Đeo kính vẫn là một phương pháp an toàn và có thị lực rõ nhất. Khoảng 18% bệnh nhân đeo kính tiếp xúc. Từ 20 năm qua với loại kính tiếp xúc mềm ngày một phổ biến hơn. Tuy nhiên cũng có một số bệnh nhân không thích hợp với kính tiếp xúc do dị ứng nhất là ở nước ta có bụi bặm nhiều, kính tiếp xúc cũng gây một số biến chứng
  8. nguy hiểm nhất là loét giác mạc. Chính vì lý do đó mà một số bệnh nhân không dùng được kính tiếp xúc đã muốn được mổ. Trong thời gian vừa qua có một số các thí nghiệm được nghiên cứu để làm chậm phát triển độ cận như luyện tập mắt, chỉnh hình giác mạc (làm bẹt giác mạc bằng cách đeo kính tiếp xúc cũng có chiều cong thay đổi dần) và các phương pháp này chỉ có hiệu quả tạm thời mà không điều chỉnh hay giảm được vĩnh viễn độ cận, nhất là độ cận nặng.
  9. Các phương pháp dùng dược chất như nhỏ thuốc co đồng tử hay ngăn chặn thụ thể Beta đã được thử nghiệm nhưng không có kết quả. Việc nhỏ atropin ở trẻ em cho 1 kết quả giới hạn để làm giảm độ cận tăng nhưng lại có nhiều hiệu quả phụ như là nở đồng tử, liệt mi thể và chói mắt. Kính gọng và kính tiếp xúc hiện nay vẫn là phương pháp điều trị tật khúc xạ phổ biến nhất. Nhưng người bệnh bị tật khúc xạ có thêm bệnh về mắt, bệnh toàn thân, có độ khúc xạ không ổn định và không có đòi hỏi gì về nghề nghiệp
  10. thì việc đeo kính vẫn là cách lựa chọn tốt nhất còn phẫu thuật khúc xạ thích hợp cho các người trẻ, có chỉ định rõ ràng, khi đeo kính gọng hay kính tiếp xúc gây phiền toái về công việc, nghề nghiệp hay thẩm mỹ v.v... NGUYÊN TẰC LASIK:  Dùng dao vi phẫu để cắt nắp giác mạc mỏng. o Lật nắp giác mạc. Dùng LASER để đốt nhu mô o giác mạc làm phẳng giác mạc. Nắp giác mạc úp trở lại chỗ cũ. o
  11. Mắt cận thị sau khi mổ LASIK. o PRK:  Giống như LASIK o Không làm nắp mà chiếu thẳng LASER vào mắt ( o H. B ). PHẦN II: ĂN GÌ KHI CẬN THỊ ? Vitamin A bổ mắt có
  12. Ăn nhiều đường làm bệnh cận thị nhiều trong quả gấc nặng thêm. Người bị cận thị hạn chế ăn quá nhiều đường và đồ ngọt. Ăn nhiều đường ngọt là một yếu tố làm mắt cận thị. Khi cơ thể hấp thu quá nhiều đường sẽ khiến cho hàm lượng vitamin B1 giảm, lâu ngày sẽ ảnh hưởng tới lượng vitamin cung cấp cho thần kinh thị giác, dẫn tới bệnh cận thị nặng thêm. Theo báo cáo của Hội đồng chống cận thị Nhật Bản, lượng đường nhiều còn ảnh hưởng tới lượng canxi trong cơ thể, làm tăng khả năng đàn hồi của nhãn cầu, đường
  13. kính nhãn cầu dễ tăng, mức độ cận thị vì vậy cũng tăng. Bác sĩ B. Lein, nhà nhãn khoa nổi tiếng người Mỹ, dựa trên nhiều số liệu về dinh dưỡng của người bệnh mà ông đã điều trị, khẳng định: bệnh cận thị phát triển không chỉ do mắt mệt mỏi bởi làm việc nhiều quá mà còn do ăn uống không đủ các chất cần thiết. Một chế độ ăn thừa đường, canxi, protein và thiếu crôm sẽ làm cho bệnh cận thị nặng thêm. Để phòng ngừa cận thị, chế độ ăn uống cần có đầy đủ các vitamin như: vitamin A (có nhiều trong gan cá, gan gia súc
  14. gia cầm, lòng đỏ trứng...) có tác dụng hạn chế mức tiến triển của cận thị; vitamin D (có trong dầu cá, bơ, lòng đỏ trứng, gan động vật...) giúp chuyển hoá tốt canxi, củng cố mao mạch hắc mạch mắt, làm dẻo vỏ nhãn cầu phòng ngừa cận thi; vitamin E (có nhiều trong mầm ngũ cốc và có trong đậu xanh, xà lách, ngô, trứng...) giúp tăng cường tổ chức hồ chun của củng mạc mắt và giác mạc. Ngoài ra, người ta cũng dùng vitamin E để hạn chế độ giãn yếu của vỏ nhãn cầu, điều trị cận thị. PHẦN III: TIỀM HIỂU VỀCẬN THỊ ?
  15. Cận thị là gì? Cận thị là mắt chỉ nhìn rõ vật ở gần, khi nhìn xa trên 5 mét thì mắt nhìn mờ, và không thấy rõ chữ trên bảng. Tại sao nhìn xa lại mờ? Vì mắt cận thị thường là mắt có kích thước lớn. Khi nhìn vật ở xa, ảnh của nó không hiện trên võng mạc của mắt mà lại nằm ở phía trước. Trong khi ở mắt người bình thường, ảnh hiện trên võng mạc thì nhìn rõ; Giống như khi xem phim ảnh không nằm trên màn ảnh mà lại nằm trước
  16. màn ảnh nên nhìn thấy mờ, hoặc khi chụp hình canh sai khoảng cách cho hình mờ. Làm sao nhìn cho rõ? Muốn nhìn xa cho rõ thì phải dùng kính phân kỳ, tức kính cận đặt trước mắt để đưa ảnh hiện trên võng mạc; giống như chụp hình mờ thì phải canh lại ống kính để ảnh hiện đúng trên phim. Tại sao lại sinh ra cận thị? Có 2 lý do chính:
  17. Do di truyền: Nếu cha hoặc mẹ bị cận thị thì con cũng  dễ bị cận. Loại này thường bị nặng trên 6 độ, có khi đến 20 độ, được gọi là cận thị bệnh. Tuy nhiên không phải bao giờ cũng vậy, cũng có khi cha mẹ không bị cận thị mà con bị cận thị nặng hoặc có khi con lại bình thường trong khi cha mẹ bị. Do môi trường, hoạt động, cách sống: Khi học nhiều,  làm việc nhiều gần mắt... cũng dễ bị cận thị. Loại cận thị này thường nhẹ, được gọi là cận thị học đường, thường đến 6-7 độ thì ngưng, khi cơ thể hết phát triển vào khoảng 20 tuổi.
  18. Nếu có cả hai yếu tố trên, tức cha mẹ bị cận và lại học quá nhiều thì tỷ lệ cận cao hơn. Có cách nào tránh được cận thị? Vì là do di truyền và cách sống không thể ngăn được cận thị ở những người có học. Những nước phát triển, phải học nhiều và làm việc gần mắt nhiều nên tỷ lệ cận thị nhiều hơn so với những nước chậm phát triển. Về nghề nghiệp, những người trí thức cận thị nhiều hơn nông dân, ngư dân... Có thuốc gì để chữa cận thị?
  19. Vì cận thị là do mắt lớn nên không có thuốc nào uống để cho mắt nhỏ lại, cũng như người cao quá khổ, không có thuốc nào uống để cho người thấp lại được. Tại sao trẻ con bị cận thị lại tăng độ? Vì cơ thể trẻ em còn phát triển, phải học hành nhiều nên mắt cũng phát triển theo và độ cận tăng. Ở người lớn cơ thể không phát triển nữa, nên mắt không lớn nữa và độ cận được ổn định không tăng. Đeo kính thường xuyên có làm tăng độ không?
  20. Thực ra việc đeo kính không có ảnh hưởng gì đến sự tăng độ. Đeo kính là để nhìn xa cho rõ. Khi đã bị cận thị rồi thì có đeo kính hay không đeo, độ vẫn tăng. Trẻ con đi học phải cho đeo kính để có thể nhìn thấy rõ mọi vật và chữ trên bảng. Khi ra ngoài đường cũng cần đeo kính để có thể nhìn thấy rõ vật ở xa và tránh bụi bậm. Chúng ta hãy tưởng tượng, làm sao cuộc đời thấy "tươi đẹp" được khi mọi vật đều mờ nhòe. Khi nào gần không cần kính mà vẫn thấy rõ hoặc khi ở nhà không cần làm gì bằng mắt thì không cần đeo như khi nghỉ ngơi, nghe nhạc, ngồi nói chuyện... để mắt được thư giãn.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản