Điều trị và tiên lượng sẩy thai liên tiếp
rất nhiều phác đồ điều trị sẩy thai liên tiếp (STLT) như phác đồ của RCOG
(Royal College of Obstetricians and Gynaecologist), ACOG (The American
College of Obstetricians and Gynaecologist), ESHRE (The European Society of
Human Reproduction and Embryology) sphác đồ của các tổ chức khác.
Phác đồ chẩn đoán - điều trị hỗ trợ các bác lâm sàng trong việc định hướng tầm
soát nguyên nhân và điều trị có “quy trình” hơn dựa trên y học chứng cứ.
quá nhiều phác đồ và ngay cc phác đồ chuẩn” cũng khác nhau vđối
tượng tầm soát và tiêu chuẩn chẩn đoán nên rất kc định phác đồ nào tốt n
phác đồ nào trên ứng dụng m sàng. Phác đồ của ACOG đề nghị tiến hành khảo
sát cho các đối tượng sau sẩy thai 2 lần trong khi phác đồ của RCOG và ESHRE
chtiến hành tm soát nguyên nhân STLT t3 lần trở lên. Tuy nhiên không có
phác đồ nào định nghĩa rõ thế nào gọi là sẩy thai”, nhất là trong c trường hợp
sẩy thai sinh hóa. Ngoài ra, việc nâng giới hạn trên của tuổi thai để phân loại sẩy
thai cũng được đề nghị lên 27-29, thậm chí là 31 tuần để nhấn mạnh tầm quan
trọng của một thai kỳ khỏe mạnh là sinh ra một đứa trẻ khỏe mạnh đủ khả năng
sống khi ra đời.
Điều trị STLT bao gồm:
Thuốc kháng đông
Aspirin và/hoặc Heparin đã đang trở thành những loại thuốc chỉ định thường
quy cho nhng bệnh nhân mắc Hội chứng kháng Phospholipid - APS, bệnh huyết
khối yếu tố di truyền STLT, tuy nhiên điều này không được dựa trên y
học chứng cứ. Một phân tích gộp c nghiên cứu ngẫu nhiên đối chứng một
trung m trên thế giới cho thấy phụ nữ tiền căn STLT sử dụng heparin không
phân đoạn (unfractionated heparin) kết hợp aspirin thể giảm tỷ lệ sẩy thai cho
lần mang thai kế đến 54%. Kết luận này chdựa trên hai nghiên cứu mù đôi nhỏ,
không đủ đtin cậy. Ngoài ra, nghiên cứu của Farquharson và cộng sự (2005) kết
luận heparin phối hợp aspirin cho hiệu quả không khác aspirin đơn độc lại không
được đưa vào phân tích trên.
Kết quả nghiên cứu hiệu quả sử dụng heparin trọng lượng phân tthấp và heparin
không phân đon cũng m, chỉ giảm khoảng 35% nguy cơ sẩy thai sinh non cho
lần mang thai sau. Sdụng heparin liều cao thấp, aspirin kết hợp heparin trọng
lượng phân tử thấp s dụng heparin đơn độc cho nhiều hiệu quả khác nhau.
Chính vậy cần nhiều nghiên cứu lớn n nhiều trung tâm trên thế giới mới
thkết luận sử dụng kháng đông như thế nào đem lại hiệu quả cao nhất cho những
bệnh nhân STLT mắc APS, tùy thuộc loại APS và phòng bệnh huyết khối trước
khi điều trị.
Sdụng kháng đông trong giai đoạn sớm gây ảnh hưởng lên thai hay không
cũng chưa được xác định. Kết luận từ khảo t 14864 bà mvà trtrong khảo sát
của Collaborative Perinatal Project cho thấy không mối liên quan giữa sử dụng
heparin trong suốt ba tháng đầu của thai kỳ và dtật thai nhi. The Food and Drug
Administration (FDA) theo dõi 1709 trsinh có mẹ uống aspirin trong suốt tam
nguyệt đầu cũng kết luận tương tự. Một meta-analysis cũng cho kết luận trẻ
msdụng aspirin trong giai đoạn sm có tỷ lệ dị tật không cao hơn nhóm
chứng, tuy nhiên lại gia tăng đáng kể tỷ lệ viêm d dày trẻ (95%). Ngoài ra
không có báo cáo o cho thấy tác dụng phụ trên thai những bệnh nhân được ch
định aspirin hay kháng viêm non-steroid - NSAID khác. Cũng khuyến o
không nên sdụng NSAID hơn một tuần quanh thời điểm ththai, tuy nhiên liều
NSAID thường cho với liều đáp ứng chứ không liều chuẩn nên cũng khó xác
định sử dụng NSAID thế nào slàm gia tăng yếu tố nguy cơ.
Progesterone
Progesterone thường được chỉ định trong trường hợp nghi ngờ suy hoàng thhay
dọa sẩy thai. Đường sdụng thđường uống, tiêm bắp, âm đạo, có thể sử
dụng giai đoạn thai sớm đến hết tam nguyệt một, thậm chí đến giữa tam
nguyệt hai của thai kỳ. Mặc được sử dụng rất rộng rãi nhưng vẫn chưa xác
định liều tối ưu, đường dùng thời gian sử dụng progesterone cho hiệu quả cao
nhất. Nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả đường uống, tiêm ngâm đạo cho
kết quả không khác biệt. Khi sử dụng ngả âm đạo, nồng độ progesterone trong
máu thấp hơn đường uống đường tiêm, cho tác dụng tốt hơn trên quan đích
mong muốn là tcung. Progesterone thể làm giảm tỷ lệ sẩy thai so với nhóm
chứng, tuy nhiên kết quả rất khác nhau nhiều nghiên cứu.
Miễn dịch
Immunoglobulin truyền tĩnh mạch (IVIG), anti-TNFα, glucocorticoid, liệu pháp
can thiệp nội bào nhằm làm gim phản ứng qmức của hệ miễn dịch hay phản
ứng loại trừ do bất tương hợp m-thai nhi gây STLT, tuy nhiên các phương pháp
điều trị này cũng chưa được chứng minh rõ ràng. Sdụng IVIG thể gặp phản
ứng quá mẫn, sốt, đau cơ, buồn nôn…. Các chế phẩm IVIG được chiết xuất từ
máu của hàng chục đến hàng ngàn người hiến máu nên thế gây nên nhiều tai
biến, hơn thế nữa giá thành điều trị rất cao. IVIG thường được chỉ định cho những
trường hợp STLT, thai lưu vào tam nguyệt hai của thai kỳ. Sử dụng anti-TNFα
thgây suy tim sung huyết, u bạch huyết, hội chứng giống lupus đỏ hệ thống,
trong khi sdụng corticoid suốt thai kđã đưc xác nhận làm tăng nguy sinh
non, vối non, tiền sản giật, tiểu đường thai kỳ.
Phẫu thuật
Cấu trúc giải phẫu tử cung bất thường là một trong những nguyên nhân gây STLT,
tuy nhiên chmột số trường hợp thể điều trị bằng phẫu thuật. Một số phương
pháp thường thực hiện là:
- Phẫu thuật tách dính buồng tử cung
- Nội soi buồng tử cung, nội soi bụng, bóc nhân xơ tử cung, polype lòng t
cung
- Tái tạo loa vòi, tháo dịch tai vòi
- Gỡ dính tử cung, vòi trứng do Chlamydia
Điều trị khác
Một vài báo cáo nhkhảo sát tâm lý trị liệu “tender loving care” được áp dụng cho
những cặp vợ chồng STLT không rõ nguyên nhân cũng hiệu quả khá tốt. 86%
những bà mSTLT được vấn tiền sản và htrợ m mang thai phát triển tốt,
trong khi ch1/3 số này mang thai bình thường nếu để tự nhiên không được
tư vấn tiền sản.
Bsung vitamin cũng cho hiệu quả nếu bà mchế độ dinh dưỡng kém, không
đủ vitamin cần thiết. Cũng nhận định bổ sung vitamin không làm cải thiện tỷ lệ
thai m sàng, tuy nhiên nếu cần thiết vẫn thể sử dụng. Tuy không giúp điều trị
STLT nhưng ít nhất là th cải thiện sức khỏe, nâng cao đề kháng của mẹ, điều
này có thể hỗ trợ trong một thai kỳ khỏe mạnh.
H trợ sinh sản được chỉ định cho những cặp vợ chồng STLT tiên lượng kém,
không cải thiện sau khi đã điều trị bằng nhiều phương pháp, sẩy thai do lệch bội