
Đường đi của kịch bản /Ngôn ngữ điện ảnh
1. Đường đi của kịch bản
Cuốn phim đầu tiên do người Mỹ thực hiện và trình chiếu trước công chúng
Mỹ vào năm 1893. Những phim được chiếu ở Mỹ vào thời kỳ nầy đều là
phim câm- tất nhiên- và đó chỉ là những đoạn phim có độ dài khoảng 50 giây,
mà người ta nối những đoạn phim ngắn, rời rạc này lại với nhau để làm thành
những cuốn phim dài khoảng 10 phút và đem chiếu. Những cuốn phim 10
phút thời sơ khai này vẫn chưa phải phim điện ảnh như quan niệm của chúng
ta có hiện nay. Đó chỉ là” cảnh chụp đoàn tàu chạy, bầy bò rừng trên đồng cỏ,
cảnh người đi lại tấp nập trên đường phố, binh sĩ diễn hành, thác nước đổ
trắng xóa trên gềnh đá, tàu thủy chạy trên sông v.v…”.
Theo Georges Sadoul thì ở Mỹ, những buổi chiếu đầu tiên của máy
Cinematograph được tổ chức sau những buổi chiếu của máy Vitascope (do
nhà phát minh Thomas Edison đỡ đầu) đã được hoan nghênh hơn rất nhiều.
Nhưng không bao lâu máy chiếu Cinematograph cũng đã nhanh chóng bị
máy chiếu Biograph do Lauste và Dickson sáng chế và phát hành với sự đỡ
đầu khai thác của một công ty tài chánh.
Để có được niềm vinh dự đó, Auguste và Louis Lumière, con trai của
Antoine Lumière, một nhà công nghiệp hóa chất vùng Lyon đã trải qua một
cuộc hành trình thử nghiệm không kém phần khắc nghiệt. Thay vì cạnh tranh
trong lãnh vực sản xuất loại celluloid thay thế cho các mãng thủy tinh,
Antoine buộc hai con trai nghiên cứu về việc cho ra đời loại ảnh màu. Nhưng

đã không thành công trong chuyện này, anh em Lumières bắt tay nghiên cứu
những chiếc máy Kinetoscope của nhà vật lý Mỹ Thomas Edison đầu tiên
đến Pháp năm 1894. Họ đã cùng người thợ máy Jules Carpentier làm một
chiếc Excentrique của Hornblower và những thước phim nhựa theo kích
thước của Edison. Thế là dẫn đến cái ngày 22.3.1895 đó, lúc anh em Lumière
mất đi sự tinh nhạy đầu tiên trong đời ông: ảnh màu không còn lôi cuốn được
quần chúng, họ chán ngán vì bị tràn ngập bởi những thành quả nhiếp ảnh
khác đã có từ nửa thế kỷ trước. Và trong sự vội vàng được gặp lại các người
bạn họa sĩ của Paris, hai nhà công nghiệp hóa chất này đã cho dựng màn ảnh
để chiếu các hình ảnh cử động mà ông đã quay mấy ngày trước đó:” Buổi tan
tầm của các công nhân nhà máy của ông ở Lyon”.
Sự thay đổi bất ngờ này là lúc điện ảnh ra đời; Các vị khách mời chán
chường tưởng sắp bước ra phòng treo áo, đã đột ngột ngồi nán lại: Trong
bóng tối, từng động tác của những con người đang nhảy múa trên chiếc màn
căng đó đã mang một quyền lực ảo giác mà anh em Lumières cho đến lúc đó,
có thể cũng chưa ý thức được. Chính là đời sống diễn ra trên tấm vãi, và chưa
ai thấy được cái gì đó đặc biệt hơn sự kiện này.
Sau nhiều lần chiếu trước công chúng, bắt đầu từ tháng ba, 1895, Lumières
cùng với Carpentier chế tạo máy Cinematographe để thể hiện giấc mơ hằng
đeo đuổi.
Thực ra, vào thời điểm này, đã có rất nhiều cuộc chiếu phim rộng rãi. Nói rõ
hơn,tất cả những người này đều đã làm những hình ảnh cử động trong một

buổi chiếu công cọng có thu tiền vé, mà những người này không hề biết đến
nhau. Điều đó sau này đã gây ra không biết bao nhiêu cuộc tranh luận về việc
ai là người phát minh ra điện ảnh.
Cuối cùng, tất cả những người hoạt động điện ảnh khắp nơi trên thế giới đã
nhất trí coi ngày 28.12.1895 mà anh em Auguste và Louis Lumière chiếu
phim trong nhà hầm của Quán cà -phê số 14 đại lộ Capucines, Paris là ngày
khai sinh của điện ảnh. Sở dĩ anh em nhà Lumiers được công nhận như cha
đẻ của điện ảnh vì họ không chỉ chế tạo máy ghi hình ảnh chuyển động lên
mặt phẳng mà còn là máy quay, máy chiếu và máy in được hình ảnh chuyển
động đó lên phim, nhân thành nhiều bản, phóng to để chiếu lên màn ảnh cho
nhiều người cùng xem, vượt hẳn các loại máy đang cạnh tranh trên thị trường
không chỉ về mặt kỹ thuật, mà còn tạo được cảm xúc nơi người xem khiến nó
được hoan nghênh và phổ biến khắp nơi trên thế giới.
Đến năm 1897, dân chúng Pháp, Châu Âu và Mỹ đã không còn muốn xem “
những bức ảnh động” đó nữa, như Georges Sadoul đã ghi nhận : “(…)Những
bức ảnh động là một chứng minh khoa học. Sự chứng minh ấy đối với người
Pháp và châu Âu, luôn cả Mỹ hình như đã hoàn tất.”(George Sadoul,L’
Histoire du Cinéma Mondial, Paris, l985,tr.43)
Không phải vì thảm họa của Chợ Từ Thiện làm gần hai trăm người bị chết
thiêu do sự cố từ cái đèn Éthe của một máy chiếu đã làm cháy một đống củi
và bốc lửa; mà vì đám đông quần chúng ấy, thoạt đầu, “những hình ảnh
động” là những gì mới lạ đối với họ và được họ ưa thích, nhưng chỉ vài năm,

phim ảnh vẫn quanh đi, quẩn lại với những cảnh đó nên sớm trở thành trò
giải trí nhạt nhẽo, và nó đã không thể hấp dẫn nỗi lớp trí thức, hoặc những
người thích suy tư.
Sự thật là như vậy, ở châu Âu và Mỹ, các phòng chiếu lần lượt hết khách,
điện ảnh bị xua đuổi ra khỏi những thành phố lớn, biến họ thành những người
làm trò ở các phiên chợ, đi trình bày một kỳ quan khoa học cho những đám
cư dân lạc hậu ở nông thôn, hoặc ở những thuộc địa xa xôi. Trong cuộc tiến
công của đoàn quân chiếu dạo đó, điện ảnh đã chính thức du nhập vào Việt
Nam tháng 10 năm 1898 ( Sâm Thương, Điện Ảnh du nhập vào Việt Nam từ
bao giờ? Điện Ảnh Tp.HCM, số 63, ngày 20.9.1989.)
Ngoài những thước phim mang đến những nơi xa xôi chiếu dạo, phần lớn bị
dẹp vào kho. Chính lúc đó, Melies xuất hiện cứu nguy cho điện ảnh. Với kinh
nghiệm của một nhà hoạt động sân khấu kết hợp với kỹ thuật điện ảnh mới và
trí tưởng tượng sáng tạo phong phú, Melies đã tạo ra những sản phẩm điện
ảnh thực sự, mà sự mới mẻ chính là cái cách ông kể chuyện bằng hình ảnh.
Đã xuất hiện ở đây những mầm mống đầu tiên của ngôn ngữ điện ảnh.
Những bộ phim nổi tiếng của Melies đã kéo khán giả nô nức quay trở lại với
rạp chiếu bóng.
Cũng từ đấy, bên cạnh sự mới lạ của hình ảnh động, những yếu tố khác nhằm
tạo ra sự hấp dẫn cho điện ảnh được chấp nhận nhiều hơn, có ý thức hơn. Đó
chính là cơ sở quan trọng cho sự hình thành hệ thống ngôn ngữ điện ảnh,
trong đó ngôn ngữ tạo hình giữ vị trí rất quan trọng.

Điện ảnh ra đời trên cơ sở kỹ thuật. Nghệ thuật tạo hình điện ảnh hình thành
từ sự kế thừa những yếu tố tạo hình căn bản của hội họa và nhiếp ảnh kết hợp
với một kỹ thuật đặc thù – kỹ thuật tạo ra ảo giác về chuyển động từ những
hình ảnh tĩnh. Như vậy cái động chính là cốt lõi của hình ảnh điện ảnh, một
trong những yếu tố quan trọng nhất của ngôn ngữ tạo hình điện ảnh, là mục
tiêu mà hình ảnh điện ảnh luôn hướng tới. Đến năm 1897, tại Mỹ và châu Âu,
người ta bắt đầu thấy xuất hiện trên màn ảnh “Cuộc chiến tranh Boer, trận
chiến giữa Tây Ban Nha và Hoa Kỳ, những trận đấu quyền Anh và những
cuộc lễ tôn giáo rất sống động và mới lạ hơn nhiều…”.
Trước tâm lý luôn luôn đòi hỏi sự mới lạ của quần chúng, bắt buộc những
người làm điện ảnh phải cải cách, phải sáng tạo không ngừng về mọi mặt,
tiếp thu các yếu tố, kết hợp tất cả tri thức con người để có thể tồn tại, để được
quần chúng chấp nhận, và “những bức ảnh động” đó đã được thay thế bởi
những phim mới, phim truyện có chất lượng và có nội dung hơn trong cuộc
cạnh tranh gay gắt, để thiết lập các mạng lưới chiếu phim trên khắp thế giới
từ cuối năm 1897 đồng thời cạnh tranh với các ngành nghệ thuật khác. Có lẽ
trong thời điểm đó, những người làm điện ảnh mới bắt đầu nghĩ đến một vấn
đề bức thiết: Điện ảnh phải có kịch bản, cũng như sân khấu không thể không
có kịch bản. Người ta muốn xem một thứ gì đó có chuyện được kể có thể
thay thế và thay thế được, nếu không nói là hấp dẫn hơn việc đọc tiểu thuyết
hay xem diễn kịch trên sân khấu.
Nhìn lại lịch sử phát triển điện ảnh thế giới thì những cuộc đại nhảy vọt, hoặc

