
GIÁ TRỊ CỦA SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN
XOẮN RUỘT Ở TRẺ EM
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá vai trò siêu âm bụng trong chẩn đoán xoắn ruột ở trẻ
em tại BV Nhi đồng I.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả và
phân tích. Từ 01/2002 đến 12/2005, chúng tôi có 170 bệnh nhân được đưa vo
nghin cứu bao gồm 83 ca xoắn ruột và 87 ca không xoắn ruột (nhóm chứng), được
khảo sát siêu âm trước phẫu thuật và được can thiệp phẫu thuật.
Kết quả: Siêu âm chẩn đoán xoắn ruột có độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên
đoán dương, giá trị tiên đoán âm là 78,3, 90,8, 89, 81,4. Các dấu hiệu siêu âm có
giá trị chẩn đoán khác nhau, kết hợp theo phương trình hồi qui logistic: 4,88 x
Whirlpool + 3,19 x dày thành ruột + 1,29 x nghẹt ruột > 2,9, có độ nhạy, độ đặc
hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm là 90,4,78,2,79,8, 89,5. Trong
chẩn đoán xoắn ruột do RXBT, chỉ có dấu hiệu Whirlpool có giá trị chẩn đoán với
độ nhạy, đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương tiên đoán âm, là 84,5, 92, 84,5, 92. Khi
có dấu hiệu siêu âm xoắn ruột, sự hiện diện dấu dày thành ruột có giá trị tiên
lượng tình trạng thiếu máu nuôi, hoại tử ruột (OR=30,6).

Kết luận: Siêu âm có giá trị trong chẩn đoán xoắn ruột nói chung và trong
chẩn đoán sớm RXBT có hoặc chưa có biến chứng xoắn ruột.
SUMMARY
Objective: To assess the role of abdominal ultrasound in the diagnosis of
intestinal volvulus in children.
Material and methods:cross-sectional and analytical study. From 01/2002
to 31/2005, 170 patients were included (83 volvulus and 87 non volvulus (case
control)), in the preoperative sonographic evaluation.
Results: In the group with intestinal volvulus, ultrasound diagnosis has
sensitivity, specificity, PPV, NPV 78.3, 90.8, 89, 81.4. The sonographic signs
have variable values, need the association of the signs following equation
logistics: 4,88xWhirlpool+3,19x intestinal wall thickness +1.29x intestinal
obstruction >2.9. It has sensitivity, specificity, PPV, NPV 90.4, 78.2, 79.8, 89.5. In
the diagnosis of volvulus due to malrotation, only whirlpool’s sign has value for
diagnosis of volvulus with sensitivity, specificity, PPV, NPV 84.5, 92, 84.5, 92.
When there are sonographic signs of suspected volvulus, the presence of intestinal
wall thickening has a predictive value of ischemia and necrosis (OR=30.6).
Conclusion: abdominal ultrasound has a value in the diagnosis of intestinal
volvulus and intestinal malrotation with or without complication.

Chữ viết tắt : Sensitivity: độ nhạy, specificity: độ đặc hiệu PPV : giá trị
tiên đoán dương, NPV: giá trị tiên đoán âm
* Bệnh viện Nhi Đồng 1 - TP. Hồ Chí Minh
**. Bộ môn Nhi Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh
ĐẶT VẤN ĐỀ
Xoắn ruột là một bệnh lý cấp cứu ngoại khoa khẩn cấp, cần được chẩn đoán
và can thiệp ngoại khoa sớm. Điều đó có liên quan trực tiếp đến tiên lượng và dự
hậu của bệnh nhi. Nếu chẩn đoán trễ, xoắn ruột có thể gây tử vong chiếm 9-
38%(1,9,12) hoặc để lại nhiều biến chứng và di chứng nặng nề như nhiễm trùng
huyết, hội chứng ruột ngắn (10,8%)... Bệnh cảnh lâm sàng xoắn ruột đôi khi lại
mơ hồ, khó chẩn đoán, dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh lý nội khoa như nhiễm trùng
huyết, viêm ruột, viêm ruột hoại tử sơ sinh(4)..., hoặc với những bệnh lý ngoại khoa
khác như tắc ruột, tắc tá tràng... Chẩn đoán hình ảnh nói chung và siêu âm nói
riêng, đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán xoắn ruột. Tuy nhiên những dấu
hiệu lâm sàng và những dấu hiệu hình ảnh, đặc biệt là siêu âm, để giúp cho các
bác sĩ lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh nghĩ đến xoắn ruột không phải lúc nào
cũng rõ ràng. Trong y văn, đã có nhiều tài liệu đề cập đến giá trị của các phương

tiện này trong chẩn đoán xoắn ruột. Nhưng giá trị của siêu âm chẩn đoán xoắn ruột
trong điều kiện Việt nam nói chung và tại Bệnh viện Nhi đồng I nói riêng, như thế
nào chưa rõ. Do đó chúng tôi thực hiện đề tài này với mong muốn tìm hiểu giá trị
của siêu âm trong chẩn đoán xoắn ruột ở trẻ em Việt nam.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhi được siêu âm bụng và được can thiệp ngoại khoa tại Bệnh
viện Nhi Đồng I.
Tiêu chí chọn ca xoắn ruột
Tất cả bệnh nhân có chẩn đoán sau mổ là xoắn ruột tại Bệnh viện Nhi đồng
I từ tháng 01/01/2002-31/12/2005.
Tiêu chí chọn ca không xoắn ruột
Tất cả bệnh nhi có chẩn đoán sau mổ là tắc ruột, tắc tá tràng, viêm ruột hoại
tử và viêm phúc mạc. Chúng tôi chọn những bệnh nhân này vào lô không xoắn
ruột vì đây là những bệnh lý có đặc điểm hình ảnh dễ chẩn đoán nhầm với xoắn
ruột.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả và phân tích

Cỡ mẫu
Với = 0,05, Z1-/2 = 1,96, d=0,07, p=0,89 (nhóm XR) và p=0,92 (nhóm
không XR), cho nên số trẻ bị xoắn ruột cần cho nghiên cứu là 80 ca và số trẻ
không bị xoắn ruột là 52 ca.
Kỹ thuật chọn mẫu
Hồi cứu hồ sơ bệnh án theo danh sách bệnh nhân được siêu âm và được can
thiệp phẫu thuật
Xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Epidata và stata8.
KẾT QUẢ
Từ 01/ 2002 đến 12/2005, có 170 bệnh nhi được đưa vào lô nghiên cứu, bao
gồm 83 ca xoắn ruột và 87 ca không xoắn ruột.
Đặc điểm dịch tễ học
Trong lô xoắn ruột, tỉ lệ nam/nữ là 1,6, nhóm tuổi sơ sinh 49,4%, từ 1-12
tháng 21,8%, 1-5 tuổi 14,1% và trên 5 tuổi 14,7%. Bệnh nhân ở tỉnh chiếm 76%.
Giá trị của siêu âm trong chẩn đoán xoắn ruột
Giá trị chẩn đoán xoắn ruột của các dấu hiệu siêu âm

