BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG ĐẠI VIỆT SÀI GÒN
GIÁ O TRÌNH
MÔN HỌC: KỸ THUẬT Ô TÔ CHUYÊN DÙNG
NGÀNH: CÔNG NGHỆ Ô TÔ
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
( Lưu hành nội bộ)
Chương 1. CÁC KHÁI NIỆM CHUNG
1.1 VAI TRÒ Ô TÔ CHUYÊN DÙNG TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN Ô
tô chuyên dùng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Ô tô chuyên dùng cho
phép mở rộng công năng vận tải: Có thể chở các loại hàng hóa đặc biệt như chất lỏng (ô tô
bồn), chất ô nhiễm nhờ thùng kín (ô tô ép rác, ô tô hút hầm cầu), có khả năng tự bốc dỡ
hàng hóa, giảm được chi phí, thời gian bốc xếp (ô tô tải cẩu)...
Vận chuyển bằng ô tô chuyên dùng nâng cao chất và lượng hàng hóa chuyên chở:
tăng lượng hàng hóa/m2 sàn xe nhờ kết cấu chuyên dùng (ô tô chở gia súc nhiều tầng, ô tô
chở xe các loại) nhờ cơ cấu đặc biệt (ô tô vận chuyển rác); đảm bảo an toàn cho hàng hóa
chuyên chở, giảm tỷ lệ hư hỏng do vận chuyển gây ra như: ô tô đông lạnh, ô tô vận chuyển
hoa quả. Khi vận chuyển bằng ô tô chuyên dùng cho phép giảm bao bì vận chuyển, giảm chi
phí và công lao động: ô tô tự đổ (xe ben), ô tô bồn (ô tô xitéc)...
Ô chuyên dùng thực hiện các chức năng đặc biệt không thể thiếu trong an ninh - quốc
phò ng, giao thô ng cô ng chính: ô tô chữa cháy, ô tô thang, ô tô cứu thương, ô tô hút chất thải
cầu cống...
Ở Việt Nam hiện nay thường cải tạo ô tô tải thành chuyên dùng nhằm tăng tính kinh
tế nhờ giảm sự phụ thuộc vào ô tô nhập khẩu, đảm bảo an toàn cho việc vận chuyển hàng
a. 1.2 PHÂN LOẠI Ô TÔ CHUYÊN DÙNG
1.2.1 Định nghĩa
Hiện nay không có chuẩn mực chung về ô tô chuyên dùng mà tùy mỗi nước. Ở Việt
Nam, căn cứ Quyết định số 270/ĐK ngày 01/8/2007, Quyết định số 08/ĐK ngày 05/01/2006,
ta có thể phân ra các loại ô tô sau:
Ô (motor vehicle) loại PTGTĐB chạy bằng động từ bốn bánh xe trở lên,
không chạy trên đường ray, thường được dùng chở người và hàng hóa, kéo các rơmoóc, sơmi
rơmoóc, thực hiện các chức năng, công dụng đặc biệt.
Ô tô còn bao gồm cả các xe được nối với một đường dây dẫn điện, ví dụ ô tô điện
bánh lốp (trolley bus) và các xe ba bánh có khối lượng bản thân lớn hơn 400kg. Ô con
(passenger car) (hình 1.1): có kết cấu và trang bị chủ yếu dùng để chở người, có số chỗ ngồi
bao gồm cả người lái không lớn hơn 9 chỗ.
Ô con chuyên dùng: có đặc điểm khác với đặc điểm các loại ô tô con nêu trên,
kết cấu và trang bị để thực hiện một chức năng, công dụng đặc biệt. Ví dụ: ô tô chống đạn.
2
nh 1.1 Một số loại ô tô con
Ô khách (hình 1.2): có kết cấu và trang bị dùng để chở người và hành lý mang theo,
có số chỗ ngồi bao gồm cả người lái từ 10 chỗ trở lên.
- Ô tô khách cỡ nhỏ (Minibus): dưới 17 chỗ.
- Ô khách thành phố (Urban bus): được thiết kế và trang bị để dùng trong thành phố
ngoại ô; ghế ngồi chỗ đứng cho hành khách, cho phép hành khách di chuyển phù hợp
với việc đỗ xe thường xuyên.
- Ô khách liên tỉnh (Interurban coach): được thiết kế trang bị cho vận tải liên tỉnh.
Không bố trí chỗ riêng cho hành khách đứng, tuy nhiên hành khách đi quãng đường ngắn
thể đứng ở lối đi giữa các hành ghế.
- Ô tô khách đường dài (Long distance coach): dùng cho vận tải đường dài. Phải đảm
bảo tính tiện nghi cho hành khách ngồi và không chở hành khách đứng. - Ô tô điện bánh lốp
(Trolley bus): ô tô khách chạy bằng nguồn điện truyền từ đường dây dẫn điện của hệ thống
điện thành phố.
- Ô khách chuyên dùng: đặc diểm khác các loại ô khách nêu trên, có kết cấu
trang bị để thực hiện một chức năng, ng dụng đặc biệt. dụ: Ô tô chở học sinh, ô chở
người tàn tật, ô tô chở phạm nhân.
a)
b)
c)