
Chương 4: Phương thức thanh toán nhờ thu
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
87
CHƯƠNG 4
PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN NHỜ THU
MỤC TIÊU CHƯƠNG
Chương này sẽ cung cấp các kiến thức liên quan đến: Khái niệm; Các bên tham
gia; Phân loại nhờ thu và điều kiện nhờ thu; Quy trình nhờ thu và nhận xét và
trường hợp vận dụng của phương thức nhờ thu. Qua đó, giúp bạn đọc có thể:
- Hiểu và vận dụng được các trường hợp thanh toán theo phương thức nhờ thu
vào các tình huống thực tế;
- Vận dụng được quy trình thực hiện thanh toán theo phương thức nhờ thu và
cách thức ngân hàng xét duyệt bộ chứng từ thanh toán theo phương thức nhờ thu
hợp lệ.

Chương 4: Phương thức thanh toán nhờ thu
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
88
4.1 Khái niệm và đặc điểm
4.1.1 Khái niệm
Nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người bán (nhà xuất khẩu) sau khi
hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng thì ủy
thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền từ người mua trên cơ sở hối phiếu
của người bán lập ra.
Hiện nay, nghiệp vụ nhờ thu trong thanh toán quốc tế thường được tiến hành
theo Quy tắc thống nhất về nhờ thu- Uniform Rules for Collection – viết tắt URC số
522 của Phòng Thương mại quốc tế.
4.1.2 Đặc điểm
Thanh toán bằng phương thức nhờ thu sẽ giảm thiểu một phần rủi ro cho nhà
xuất khẩu vì chứng từ chỉ được giao cho người nhập khẩu khi nhà nhập khẩu thanh
toán tiền hàng hoặc đã ký chấp nhận hối phiếu (đối với nhờ thu trả chậm). Tuy
nhiên thanh toán theo phương thức này người bán (nhà xuất khẩu) vẫn phải chịu rủi
ro trong trường hợp người mua (nhà nhập khẩu) không chấp nhận chứng từ hoặc từ
chối thanh toán hối phiếu khi đến hạn.
Một số đặc điểm của thanh toán nhờ thu:
- Ngân hàng thu hộ có thể không căn cứ theo hợp đồng thương mại mà tuỳ
thuộc thông báo nhờ thu được chuyển đến ngân hàng nào thì ngân hàng đó sẽ thu hộ
khoản phải thu.
- Vai trò của ngân hàng vừa thực hiện chức năng trung gian thanh toán vừa thực
hiện chức năng luân chuyển chứng từ và kiểm soát khoản phải thu.
- Nhờ thu trong thương mại chỉ xảy ra sau khi người bán (nhà xuất khẩu) đã
hoàn thành nghĩa vụ giao hàng (lập chứng từ).

Chương 4: Phương thức thanh toán nhờ thu
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
89
4.2 Các bên tham gia
4.2.1 Người ủy thác thu/ Người nhờ thu (Principal)
Người ủy thác thu: là người ủy quyền cho ngân hàng xử lý nghiệp vụ nhờ thu.
Người ủy thác thu chính là người bán (nhà xuất khẩu) hay còn gọi là người hưởng
lợi.
4.2.2 Ngân hàng nhờ thu (Remitting Bank, Sending Bank)
Ngân hàng chuyển nhờ thu: là ngân hàng nhận sự ủy thác của người bán chuyển
các chứng từ liên quan để nhờ ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài thu tiền.
4.2.3 Ngân hàng thu hộ (Collecting Bank)
Ngân hàng thu hộ: là bất cứ ngân hàng nào liên quan đến nghiệp vụ nhờ thu,
nhưng không phải là ngân hàng chuyển nhờ thu. Ngân hàng này thường là đại lý
hay chi nhánh của ngân hàng chuyển nhờ thu ở nước người mua.
4.2.4 Ngân hàng xuất trình (Presenting Bank)
Ngân hàng xuất trình: là ngân hàng xuất trình chứng từ cho người trả tiền.
4.2.5 Người trả tiền hay người thụ trái (Drawee)
Người trả tiền: là người được xuất trình chứng từ theo đúng chỉ thị nhờ thu,
thường đồng nhất với nhà nhập khẩu.
4.3 Phân loại nhờ thu và điều kiện nhờ thu
4.3.1 Phân loại nhờ thu
4.3.1.1 Căn cứ theo thời hạn thanh toán
Theo phương thức phân loại này thì nhờ thu được phân thành 2 loại:
Nhờ thu trả ngay (D/P): Phương thức này qui định người mua (nhà nhập khẩu)
phải thanh toán tiền ngay khi nhận bộ chứng từ.
Nhờ thu trả chậm (D/A): Phương thức này cho phép người mua không phải
thanh toán ngay nhưng phải ký chấp nhận thanh toán trên hối phiếu có kỳ hạn, được
ký phát bởi người bán (nhà xuất khẩu). Ngân hàng bên nhà xuất khẩu phải chuyển

Chương 4: Phương thức thanh toán nhờ thu
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
90
ngay hối phiếu đã được chấp nhận cho nhà xuất khẩu. Nếu nhà xuất khẩu có nhu
cầu thanh toán trước thời hạn giá trị của hối phiếu thì sẽ xuất trình bộ chứng từ và
hối phiếu tại ngân hàng nhà xuất khẩu để xin chiết khấu bộ chứng từ. Khi đến hạn
thanh toán của hối phiếu, người mua phải thực hiện thanh toán như đã chấp nhận.
4.3.1.2 Căn cứ theo chứng từ
Theo phương thức phân loại này thì nhờ thu được phân thành 2 loại:
Nhờ thu phiếu trơn: Là phương thức nhờ thu trong đó người xuất khẩu uỷ thác
cho ngân hàng thu hộ tiền từ người nhập khẩu căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra
còn chứng từ thương mại thì gửi thẳng cho người nhập khẩu, không gửi cho ngân
hàng.
(Người xuất khẩu sau khi giao hàng hoá, lập các chứng từ thương mại gửi trực
tiếp cho người nhập khẩu (không qua ngân hàng), đồng thời uỷ thác cho ngân hàng
phục vụ mình thu hộ tiền trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra.)
Theo định nghĩa của URC 522, "chứng từ" bao gồm các chứng từ tài chính và
chứng từ thương mại.
- Chứng từ tài chính bao gồm: Hối phiếu, kì phiếu, séc, hoặc các phương tiện
tương tự khác sử dụng trong việc chi trả, thanh toán tiền.
- Chứng từ thương mại bao gồm: Chứng từ hàng hóa, chứng từ vận tải, chứng từ
bảo hiểm.
Nhờ thu kèm chứng từ: Là phương thức nhờ thu trong đó người xuất khẩu sau
khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hay cung ứng dịch vụ tiến hành uỷ thác cho
ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền ở người nhập khẩu không chỉ căn cứ vào hối
phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ thương mại gửi kèm theo với điều kiện nếu
người nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán hối phiếu có kỳ hạn, thì ngân
hàng mới trao bộ chứng từ đi nhận hàng hoá.
Trong phương thức này ngân hàng chỉ đóng vai trò là người trung gian thu tiền
hộ, không chịu trách nhiệm đến việc trả tiền của người mua. Tuỳ theo cách trả tiền
của người nhập khẩu mà uỷ thác thu kèm chứng từ có thể là thanh toán ngay để đổi

Chương 4: Phương thức thanh toán nhờ thu
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
91
chứng từ (Document against payment - D/P) hoặc chấp nhận thanh toán để đổi
chứng từ (Document against acceptance - D/A).
4.3.2 Văn bản điều chỉnh nhờ thu
Cơ sở pháp lý của phương thức này là Quy tắc thống nhất về nhờ thu do Phòng
Thương mại quốc tế ICC phát hành lần đầu tiên vào năm 1956, sau đó được tái bản
vào các năm 1967, 1978 và lần tái bản gần đây nhất là phiên bản XJRC 522 vào
năm 1995, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1996.
URC 522 gồm 26 điều, 7 phần:
Các điều khoản và quy định chung (điều 1-3)
Hình thức và cơ cấu nhờ thu (điều 4)
Hình thức xuất trình chứng từ (điều 5-8)
Nghĩa vụ và trách nhiệm (điều 9 - 15)
Thanh toán (điều 16 -19)
Tiền lãi, lệ phí và các chi phí (điều 20 - 21)
Các điều khoản khác (điều 22 - 26)
URC là văn bản mang tính chất pháp lý tùy ý, vì vậy nếu áp dụng thì phải ghi rõ
áp dụng URC phiên bản nào trong chỉ thị nhờ thu (Collection Instruction). Khi sử
dụng phương thức nhờ thu, người bán phải lập chỉ thị nhờ thu gửi cho ngân hàng ủy
thác thu. Các ngân hàng tham gia nghiệp vụ nhờ thu phải thực hiện theo đúng các
quy định trong chỉ thị nhờ thu.
Trong chỉ thị nhờ thu phải nêu rõ những nội dung sau:
Các chi tiết về ngân hàng thu hộ, gồm tên đầy đủ, địa chỉ, số điện tín, SWIFT, số
điện thoại, sổ fax và số tham chiểu chứng từ.
Các chi tiết về người ủy nhiệm thu gồm: tên đầy đủ, địa chỉ, số điện thoại, sổ
fax, số tài khoản.

